Nhà thờ Chính tòa Kon Tum: Giải cấu trúc khung nhận thức hậu thuộc địa trong diễn ngôn phê bình kiến trúc Công giáo Việt Nam

Nguyên Hưng

Trong diễn ngôn phê bình kiến trúc tôn giáo tại Việt Nam, một mô hình phân loại nhị nguyên đã trở thành khung nhận thức chi phối: sự đối lập loại trừ giữa “nhà thờ Tây” và “nhà thờ Ta”. Theo mô hình này, nhóm “nhà thờ Tây” bao gồm các công trình tái tạo tương đối trung thành hệ thức kiến trúc Gothic, Romanesque hoặc Baroque du nhập từ châu Âu. Ngược lại, nhóm “nhà thờ Ta” được định nghĩa thông qua các nỗ lực bản địa hóa bằng cách tích hợp hệ thống rường cột, mái đao và ngữ pháp thẩm mỹ của đình, chùa, cung điện truyền thống. Trong cấu trúc lưỡng phân ấy, Nhà thờ Chính tòa Phát Diệm (Ninh Bình) thường được suy tôn như điển hình mẫu mực, đại diện cho sự ưu thắng của kiến trúc bản địa trên bình diện ký hiệu học văn hóa.

Sự thống trị của mô hình Phát Diệm trong văn bản học thuật một phần xuất phát từ hạn chế của dữ liệu khảo sát thực địa trong quá khứ. Tuy nhiên, nguyên nhân sâu xa hơn nằm ở tầm nhìn hậu thuộc địa vốn ưu tiên tìm kiếm các biểu hiện kháng cự thẩm mỹ. Trong khung lý luận này, người bản xứ được hình dung như chủ thể thực hiện “du kích văn hóa”, sử dụng lớp vỏ kiến trúc truyền thống để che phủ và tái chiếm cấu trúc Basilica phương Tây, từ đó khẳng định tính tự chủ văn hóa trước quyền lực thực dân. Việc tập trung tuyệt đối vào Phát Diệm đã vô tình đồng nhất khái niệm “bản địa Việt Nam” với mã văn hóa bác học của vùng đồng bằng sông Hồng – một mã gắn liền với trật tự định cư lúa nước và ảnh hưởng sâu sắc của hệ tư tưởng Tam giáo. Tư duy trung tâm luận ấy kiến tạo nên một hệ hình lý luận xơ cứng, gạt bỏ tính đa dạng tộc người cùng các dòng chảy kiến trúc phi trung tâm.

Nhà thờ Chính tòa Kon Tum (thường gọi là Nhà thờ Gỗ) xuất hiện trong bối cảnh đó như một trường hợp phản biện có tính giải cấu trúc. Công trình không chỉ là một cấu trúc vật chất phục vụ mục đích tôn giáo, mà còn đặt ra thách thức trực diện đối với hệ thống phân loại nhị nguyên Tây – Ta cũng như tầm nhìn hậu thuộc địa đã đóng khung. Bằng việc thiết lập một hệ thống ký hiệu dựa trên văn hóa sử thi và thế giới quan của các tộc người thiểu số Tây Nguyên, Nhà thờ Gỗ Kon Tum buộc giới phê bình phải tái định nghĩa bản chất của hội nhập văn hóa và các phương thức chuyển dịch ký hiệu không gian trong kiến trúc.

Thách thức đầu tiên mà Nhà thờ Chính tòa Kon Tum đặt ra là sự phá vỡ tính độc quyền của mã văn hóa Bắc Bộ trong việc định danh cấu trúc “nhà thờ Ta”. Nếu Phát Diệm là một tuyên ngôn bằng đá và gỗ lim gắn liền với trật tự thứ bậc của Nho giáo và sự trầm mặc của Phật giáo vùng đồng bằng, thì Kon Tum lại là một cấu trúc động, sinh ra từ thế giới quan trực cảm của cộng đồng Ba Na, Xơ Đăng và Gia Rai.

Dưới góc độ ký hiệu học văn hóa, Kon Tum thực hiện một cú giải trung tâm triệt để khi từ bỏ trật tự ngữ nghĩa của kiến trúc đình làng để khai thác hệ hình ký hiệu của nhà sàn và nhà rông Tây Nguyên. Tại đây, mã bản địa hóa không tồn tại dưới dạng các hoa văn chạm lộng tinh xảo (Tứ linh, Tứ quý, hoa sen), mà chuyển dịch sang các mô-típ hình học giản lược của văn hóa thổ cẩm – hình quả trám, đường răng cưa, các nét vạt phẳng bằng rìu rựa. Sự thay đổi này chứng minh rằng tính bản địa của kiến trúc Công giáo Việt Nam mang tính đa thanh, không thể bị quy giản vào một mẫu số chung mang tên Kinh Bắc.

Sự khác biệt mang tính bản chất giữa hai mô hình còn nằm ở triết lý vật liệu và giải pháp công trình. Phát Diệm đại diện cho tư duy vĩnh cửu hóa kiến trúc thông qua sức nặng của khối chất: hệ tường đá xanh dày và kết cấu móng bè kiên cố nhằm cắm rễ vào lòng đất bùn lầy, tạo ra một không gian đóng kín, trong đó cấu trúc Basilica phương Tây được che giấu sau hệ mái chồng diêm. Ngược lại, Kon Tum đề xuất một triết lý phản biện dựa trên tính hữu cơ và tính sinh học của vật liệu siêu nhẹ – vách đất sét trộn rơm trát trên cốt tre nứa, kết hợp với bộ khung dẻo dai từ gỗ cà chít.

Hệ vách đất rơm của Kon Tum không nhằm đạt tới sự bất biến cơ học của đá, mà lựa chọn cơ chế co giãn, đàn hồi và thông gió tự nhiên thích ứng với khí hậu cao nguyên. Việc một công trình cấu thành từ các chất liệu thô sơ, dễ phân hủy của tự nhiên vẫn tồn tại vững vàng qua hơn một thế kỷ mưa bão và chiến tranh là một hình thức phản kháng bằng tính dẻo dai đối với tư duy sùng bái vật liệu nặng vô cơ – dù đó là tư duy kiến trúc phương Tây hay tư duy kiến trúc phong kiến thuộc địa.

Một điểm cốt lõi khiến Nhà thờ Gỗ Kon Tum trở thành thách thức lớn đối với tầm nhìn hậu thuộc địa là phương thức giải quyết mối quan hệ giữa cái biểu hiện và cái được biểu hiện trong không gian nghi lễ. Lý luận hậu thuộc địa truyền thống thường đánh giá cao Phát Diệm nhờ giải pháp “ngụy trang ngoại thất”: tháp chuông được thiết kế theo dáng phương đình – cổng tam quan, tạo sự quen thuộc thị giác và cho phép người quan sát liên tưởng đến một thực thể kiến trúc truyền thống trước khi bước vào không gian Basilica bên trong.

Kon Tum thực hiện một cú đảo ngược hoàn toàn cú pháp ký hiệu học này:

Duy trì diện mạo hướng thượng phương Tây ở ngoại thất: mặt tiền và tháp chuông giữ nguyên cấu trúc vút cao mang đậm ngôn ngữ Romanesque và Gothic Pháp, không có bất kỳ sự che giấu hình thức nào.

Bản địa hóa sâu sắc ở cấu trúc sống nội thất: sự chuyển dịch mã văn hóa chỉ thực sự bộc lộ khi bước vào kết cấu sàn nâng cách mặt đất khoảng 0,8–1 m và hệ hành lang bao quanh mở rộng bốn hướng.

Tương tác năng lượng tự nhiên: hệ sàn nâng phối hợp với hệ vòm cuốn gỗ và các ô cửa lá sách trên tháp chuông tạo thành chu trình đối lưu không khí thụ động, hút khí mát từ gầm sàn và đẩy nhiệt lượng tích tụ sát trần ra ngoài.

Do đó, sự bản địa hóa của Kon Tum không nằm ở việc vay mượn hình thức bề ngoài, mà nằm ở cấp độ vận hành cấu trúc và trải nghiệm không gian sống. Người Ba Na không cần một ngôi nhà rông giả lập hoàn toàn về hình khối ngoại thất để cảm thấy được chào đón. Họ nhận diện thánh đường như ngôi nhà chung của buôn làng thông qua cách không gian tương tác với tự nhiên: luồng gió cao nguyên thổi qua gầm sàn, vách đất rơm hấp thụ và triệt tiêu tiếng vang để làm rõ lời giảng, ánh sáng mặt trời đi qua các ô kính màu vitraux để thánh hóa các bức họa vẽ cảnh voi kéo gỗ và sinh hoạt buôn làng trên vách tường. Đây là một hình thức hội nhập văn hóa dựa trên hiện tượng học không gian và trải nghiệm sống của chủ thể, vượt ra ngoài sự áp đặt của các ký hiệu thị giác thông thường.

Vượt thoát nhị nguyên: Từ đối kháng quyền lực đến trạng thái cộng sinh thẩm mỹ:

Tầm nhìn hậu thuộc địa khi áp dụng vào kiến trúc thường bị kẹt trong các lý thuyết về xung đột quyền lực thẩm mỹ. Các công trình thời thuộc địa được phân tích như một bãi chiến trường: một bên là thực dân nỗ lực áp đặt cấu trúc chính quốc nhằm khẳng định bá quyền chính trị; một bên là người bản xứ tìm cách chiếm đoạt và cải biến cấu trúc đó để khẳng định sự phản kháng văn hóa ngầm. Sự kiêu hãnh của linh mục Trần Lục (cụ Sáu) tại Phát Diệm khi tự tay quy hoạch và điều hành một đại công trình mang đậm dấu ấn Việt thường được diễn giải như đỉnh cao của hình thức phản kháng thẩm mỹ này.

Nhà thờ Chính tòa Kon Tum giải cấu trúc toàn bộ lăng kính lưỡng phân mang tính đối kháng ấy. Công trình không phải là sàn diễn của cuộc chiến giành quyền lực thẩm mỹ giữa kẻ cai trị và người bị trị, mà là không gian của một sự cộng sinh và dung hợp tự nguyện giữa ba thành tố văn hóa:

Tư duy lý tính phương Tây: do các linh mục thừa sai Pháp mang đến thông qua sơ đồ hình học Euclid của mặt bằng Basilica và giải pháp ánh sáng khúc xạ của nghệ thuật kính màu vitraux.

Kỹ nghệ mộc dân gian Việt Nam: do các hiệp thợ mộc Bình Định và Quảng Ngãi triển khai bằng hệ thống mộng động đuôi én trượt xuyên dầm, biến các tính toán tải trọng gạch đá của Pháp thành một cấu trúc rường cột dẻo dai chịu uốn và chịu kéo mà không cần đinh sắt.

Thế giới quan đại ngàn Tây Nguyên: do đồng bào Ba Na hiện thực hóa thông qua cấu trúc sàn nâng, mái dốc đứng cản gió và kỹ thuật tạc tượng mộc mạc bằng rìu rựa tại cung thánh.

Ba thành tố này tồn tại trong một trạng thái cân bằng động, không tìm cách tiêu diệt, che giấu hay đồng hóa lẫn nhau. Sự kết hợp giữa tính toán vòm cuốn Romanesque của Pháp, kỹ thuật sập mộng của thợ mộc miền Trung và cấu trúc nhà sàn của người Thượng tạo nên một sinh thể kiến trúc duy nhất, nơi các lăng kính chính trị hóa trở nên bất lực trong việc bóc tách hay gán ghép các nhãn mác tư tưởng.

Công trình được khởi công ngày 7 tháng 4 năm 1913 dưới sự chủ trì của linh mục Joseph Décrouille (Đệ), với sự tham vấn thiết kế của linh mục Emile Kemlin (Văn) – khi đó là Bề trên vùng truyền giáo Kontum – và được thánh hiến ngày 6 tháng 1 năm 1918 bởi Giám mục Constant Jeanningros. Trong báo cáo gửi Hội Thừa sai Paris (MEP) năm 1913, Giám mục Grangeon đã khẳng định: “Không thể dùng đá cũng như gạch để xây dựng, chỉ có dùng gỗ mới xây dựng được với chất lượng cao và kiến trúc sư cho biết ngôi nhà thờ trên xứ Ba Na này có dáng dấp ngôi thánh đường chánh tòa”.

Sự xuất hiện và tồn tại của Nhà thờ Chính tòa Kon Tum buộc giới nghiên cứu phải từ bỏ sự quy giản di sản kiến trúc tôn giáo Việt Nam về hai phạm trù Tây và Ta xơ cứng. Công trình xác lập một hình thái thứ ba: hình thái kiến trúc cộng sinh vị khí hậu và đa sắc tộc. Bản sắc kiến trúc ở đây không được định nghĩa bằng sự thuần khiết cực đoan mang tính cát cứ vùng miền, mà bằng năng lực mở rộng, tiếp nhận và thuần hóa các hệ thống ký hiệu dị biệt để phục vụ đời sống con người.

Từ hiện tượng học kiến trúc của Kon Tum, cộng đồng xây dựng đương đại có thể rút ra những bài học lý luận nhằm chấn chỉnh các lệch lạc trong tư duy thiết kế thánh đường:

Từ bỏ tư duy ngụy trang hình thức: Kiến trúc tôn giáo hiện đại thường sa đà vào việc sao chép thô thiển các chi tiết cổ điển châu Âu bằng chất liệu giả lập (thạch cao, phào chỉ nhựa khảm vàng công nghiệp), hoặc ngược lại, cố gắng làm mái đao bê tông cốt thép giả lập đình chùa một cách khiên cưỡng. Bài học từ Kon Tum chỉ ra rằng sự linh thiêng và tính bản địa phải xuất phát từ sự trung thực của vật liệu và sự thấu hiểu cách thức vận hành không gian, chứ không phải từ việc đắp điếm các ký hiệu trang trí giả tạo lên bề mặt công trình.

Ưu tiên thiết kế thụ động vị khí hậu: Thay vì xây dựng những chiếc hộp bê tông đóng kín phụ thuộc hoàn toàn vào hệ thống điều hòa nhân tạo – gây tiêu tốn năng lượng và làm méo tiếng trong âm học phụng vụ – các kiến trúc sư cần học tập cấu trúc gầm sàn mở đối lưu, hệ vách đất rơm cách nhiệt có độ trễ lớn và mái hiên đua rộng của Nhà thờ Gỗ Kon Tum. Kiến trúc thánh đường cần trở thành một thực thể biết “thở” và nương theo quy luật của tự nhiên.

Xác lập tinh thần hiệp hành chuyên môn: Quá trình hình thành Nhà thờ Gỗ là một bài học kinh điển về sự kết hợp trí tuệ tập thể. Một công trình di sản không thể ra đời từ ý chí chủ quan độc đoán của một cá nhân hay một nhà thầu xây dựng dân dụng thông thường. Nó đòi hỏi sự đối thoại liên tục và nghiêm túc giữa các nhà phụng vụ, kiến trúc sư, kỹ sư âm học và nghệ nhân thủ công tại chỗ, để từng mối nối mộng gỗ, từng ô lấy sáng đều đạt đến sự tối ưu về cả công năng lẫn biểu cảm tâm linh.

Nhà thờ Chính tòa Kon Tum mãi mãi là một thách thức lớn, một điểm tựa lý luận ngăn cản các nỗ lực đơn giản hóa lịch sử kiến trúc tôn giáo tại Việt Nam. Công trình đứng vững trên đại ngàn như minh chứng rằng khi nghệ thuật kiến trúc đạt đến sự chân thành đối với vật liệu, sự thấu thị đối với khí hậu và sự bao dung đối với các nền văn hóa, nó sẽ tự giải phóng khỏi mọi giới hạn mang tính thời cuộc để đạt đến giá trị di sản trường tồn.

 (Trích từ Nhà thờ Công giáo ở Việt Nam – từ góc nhìn Văn hoá, phiên bản rút gọn)

Loạt ảnh nhà thờ Kon Tum này, tôi chụp vào tháng 9 năm 2017. Còn loạt ảnh nhà thờ Phát Diệm thì chụp vào tháng 9 năm 2016.

 

This entry was posted in Nghệ thuật and tagged . Bookmark the permalink.