Nguyễn Đăng Mạnh

Nguyễn Minh Châu
Năm 1970, tôi và Trần Hữu Tá có viết chung một bài báo về Nguyễn Minh Châu (Hướng đi và triển vọng của Nguyễn Minh Châu). Chúng tôi viết về những truyện ngắn đầu tay của anh và tiểu thuyết Cửa sông. Lúc đó Dấu chân người lính chưa xuất bản. Sau này đọc Dấu chân người lính, tôi vẫn thấy thích Cửa sông hơn. Tuy viết không chắc tay bằng Dấu chân người lính, nhưng có một cái gì đó đích thực của Nguyễn Minh Châu.
Mãi đến đầu những năm 80 của thế kỷ trước, tôi mới bắt đầu tiếp xúc với Nguyễn Minh Châu. Anh ở trong một khu tập thể cán bộ quân đội, dãy nhà 10, đầu phố Ông Ích Khiêm. Vì tiện đường từ Hà Nội về nhà (hồi ấy tôi ở khu tập thể Đồng Xa, Cầu Giấy) nên thường tạt qua anh trò chuyện. Chúng tôi quen nhau và mến nhau do đọc nhau.
Nơi anh ở chật hẹp. Cả gia đình sinh sống trong một gian nhà trệt. Anh làm thêm một phòng xép nhỏ phía ngoài kê vừa đủ một chiếc giường cá nhân và một cái bàn nhỏ. Anh vừa đọc sách, viết văn, vừa ngả lưng khi mỏi mệt.
Trông tướng mạo, thấy Nguyễn Minh Châu chẳng có gì đặc biệt. Người thấp. Đi chân chữ bát. Ăn mặc xuềnh xoàng, hơi luộm thuộm. Nhìn sắc tướng thì chỉ thấy là một người hiền lành, thật thà, nhũn nhặn thế thôi. Người ta nói “quân tử ẩn mình, tiểu nhân lộ tướng”. Nguyễn Minh Châu là trường hợp như thế chăng? Ai biết được trong cái bộ dạng ấy lại chứa đựng một tài năng lớn, một bản lĩnh không tầm thường, một cá tính mạnh mẽ.
- Nguyễn Minh Châu sau 1975
Hồi Đại hội Nhà văn lần thứ 3 (1983), Nguyễn Khải có nhờ tôi góp ý với anh viết bài tham luận về văn xuôi anh sẽ đọc tại đại hội. Tôi nhất trí với Nguyễn Khải: Nguyễn Minh Châu, từ 1975 trở về trước, chưa thật sự có tư tưởng, hiểu theo nghĩa tư tưởng riêng của mình. Tác phẩm của anh hồi đó cũng chỉ là thứ văn minh họa đường lối chính trị của Đảng, tuy minh họa có tài hoa hơn nhiều cây bút khác – sau này Nguyễn Minh Châu cũng tự thấy như thế khi viết bài Hãy đọc lời ai điếu cho một giai đoạn văn nghệ minh họa (1987).
Sau 1975, chắc anh trăn trở nhiều, nhưng qua tác phẩm, vẫn chưa thấy có gì rõ rệt. Miền cháy (1976), rồi Những người đi từ trong rừng ra, đề tài có thay đổi, nhưng tư tưởng chưa có gì khác lắm. Sau này trò chuyện với tôi, anh nói: Hồi ấy cũng muốn đưa ra ý này, ý khác không xuôi chiều nhưng chưa dám. Có lúc đã nghĩ ra, thậm chí đã viết ra rồi, nhưng sợ, lại xóa đi, giấu đi. Miền cháy và Những người đi từ trong rừng ra viết theo luận đề – điều mà xưa nay tôi ghét. Miền cháy nêu vấn đề mối thù của người Việt ở hai tuyến đối địch, nay giải quyết như thế nào. Tôi giải quyết bằng tình nhân đạo. Tôi tạo ra một tình huống giống như một tứ thơ đầy xúc động về lòng khoan dung của một bà mẹ có con là tử sĩ. Hậu quả chiến tranh trong lòng người phải thanh toán. Vấn đề lớn lắm. Tôi đưa ra một nguyện cầu. Miền cháy là một nguyện cầu. Còn Những người đi từ trong rừng ra là vấn đề từ chiến tranh chuyển sang hòa bình, từ đánh nhau chuyển sang sản xuất, giải quyết chuyện miếng ăn. Chuyển chưa được bao lâu lại đánh nhau. Đánh nhau với Tàu. Tôi cố gắng tạo ra những tình huống, khi gây được xúc cảm thơ thì dừng lại. Nói thêm là nhàm. Mà biết nói gì được? Sợ nhất là mất tự nhiên, sợ mà vẫn mắc. Nhân vật Hiển thì sơ lược. Có ý chọn một nhân vật tiêu biểu cho văn minh, văn hóa (có lẽ là Thu Lan chăng? NĐM) để nhìn vấn đề nhưng chưa đạt. Khá hơn có Mễ, Nghinh, Quỳ, cụ Đuốc. Ở nhân vật Thuần, lẽ ra phải khẳng định tình cảm cá nhân, hạnh phúc cá nhân, nhưng lại bị ép theo tinh thần bảo thủ. Mỗi người có quan niệm cá nhân, có vấn đề riêng không nên xâm phạm đến (tình yêu của Thuần và Sương). Nhưng sợ, lại giải quyết theo lối phong kiến. Tôi cũng có ý gài lại ở cuối truyện một tình tiết để uốn lại cho đỡ sơ lược: Thuần ngồi với “người thư ký thời đại” (Đức) ở bãi bể. Anh ta thương và nhớ Sương, bảo Đức đánh cho nghe một bản đàn hợp với lòng mình, nghĩa là buồn. Đức chịu vì không biết bản đàn nào như thế. Toàn đánh đàn phục vụ liên hoan, đám cưới, tuyên truyền, thì làm gì có nhạc buồn. Định nhân đây phê phán văn nghệ của ta, nhưng sợ, lại thôi. Đưa ra một nhân vật phản diện nhưng hiển đạt tên là Khang, chồng Thu Lan. Một phó tiến sĩ, làm gì, nói gì cũng đúng lý cả mà thực chất không đúng, đơn giản, máy móc. Có lý mà không có tình. Chẳng hiểu gì về sự tinh vi, phức tạp của đời sống, của lòng người. Một người bề ngoài có vẻ trí thức, có văn hóa, thực chất rất thô lỗ, phàm tục và ngu xuẩn. Nhân vật này có thói quen đi đi lại lại đếm từng bước, nện gót giày trên nền nhà như nện gót sắt một cách lạnh lùng tàn nhẫn ở cái trạm thí nghiệm của Thu Lan. Tôi định phê phán mạnh nữa, dữ nữa, nhưng rồi đắn đo, lại chỉ dừng lại ở mức thế thôi. Lúc đầu còn định cho Thuần vượt biên, nhưng cũng sợ. Còn đoạn đuổi đánh bọn phản động vượt biên thì cứ lúng túng mãi, sau nghĩ ra trận bão, thế là giải quyết tất cả mọi chuyện một cách nhanh, gọn và tiện.
Viết văn xuôi phải ác – anh nói tiếp. Tôi nhát. Văn xuôi phải ác, phải là đàn ông. Tôi là loại đàn bà, giống Nguyễn Đình Thi, Nguyên Hồng, Nguyễn Kiên. Nam Cao rất ác. Nói cái miếng ăn là ác lắm, nhục cho con người lắm! Dân tộc mình bao đời nay quanh đi quẩn lại vẫn là cái miếng ăn, nó cứ càng ngày càng to mãi ra. Những người đi từ trong rừng ra cũng là chuyện miếng ăn. Tất cả tiêu cực hiện nay rút lại đều là vì miếng ăn. Các nước khác nó thoát được rồi. Nam Cao không đi đâu, chỉ ngồi một mình, đè mình ra mà mổ xẻ vào tận cùng tim gan và rút ra những suy nghĩ nó thành bề sâu của ý nghĩ mọi người. Cái ác của Nam Cao cũng ở đấy.
Chiến tranh không phải chỉ có chủ nghĩa anh hùng. Có nhiều cái ích kỷ, thấp hèn lắm. Trận Đồng Dù hồi 1968, một trung đoàn xông vào một căn cứ, bị một xe tăng địch bắn chết gần hết. Khi diệt được cái xe tăng đó, chiếm được vị trí, bao nhiêu hàng binh bị bắn chết hết. Xác ta, xác ngụy, chó đói đến ăn. Một anh bộ đội chết ngồi bên đường. Hành quân đi qua, mặc, không ai chôn cất. Con người là thế đấy. Có đủ cả tiêu cực, tích cực. Nhìn phía này thì thế này, nhìn phía khác thì thế khác. Trong hoàn cảnh này thì thế này, trong hoàn cảnh khác thì thế khác. Biến đổi theo hoàn cảnh, phải thích nghi để sống, phải chống trả để sống. Thích nghi, chống trả tùy hoàn cảnh mới sống được. Như chất thủy ngân ấy. Con người là như thế.
Vì sao con người Việt Nam chịu được gánh nặng chiến tranh đến mức khủng khiếp thế? Do tinh thần dân tộc trong máu, thành bản năng. Và do tư tưởng định mệnh. Chấp nhận nó như một định mệnh. Có một ông lão ở Vĩnh Linh ngạc nhiên khi nói đến hòa bình. Hòa bình ở Việt Nam là bất thường. Vả lại, ai chả nhát, nhưng không đánh nó, thì nó đánh mình. Những người đi từ trong rừng ra, tôi vẫn viết theo lối truyền thống. Trong tập sách tới, tôi sẽ viết khác.
Lớp trẻ bây giờ viết câu kéo lôm côm quá! Họ gần cuộc sống mới. Có xu hướng viết cái hàng ngày (quotidien) nhưng khó đấy. Phải sâu sắc lắm mới viết được. Giống như diễn viên sân khấu của ta, nói giọng anh hùng hảo hán, lên gân, hoặc nói giọng du côn anh chị, giọng bụi đời thì được. Còn giọng bình thường thì chịu. Hoặc lên gân, căng thẳng như chị Vân bị tra tấn, nó găm kim năm đầu ngón tay, đốt, vẫn không khai. Mặt gân lên (anh muốn nói nhân vật trong vở kịch Nổi gió của Đào Hồng Cẩm – NĐM), hoặc nói giọng nhả nhớt, tếu quấy, mất dạy…, không nói được giọng bình thường.
2- Nguyễn Minh Châu những ngày đổi mới sôi nổi
Trong cuộc gặp gỡ của văn nghệ sĩ với Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh (ngày 6 và 7 tháng 10 năm 1987), Nguyễn Minh Châu ngồi cạnh Nguyễn Khải. Họp hai ngày không thấy hai anh nói gì. Nguyễn Khải vốn rất tỉnh táo. Tôi chắc anh chưa tin tưởng lắm ở chủ trương đổi mới của Đảng. Tôi đoán Nguyễn Minh Châu cũng thế. Sau này mới biết anh viết bài Hãy đọc lời ai điếu cho một giai đoạn văn nghệ minh họa là để đọc trong cuộc gặp ấy. Nhưng anh không đọc, có lẽ tính anh rụt rè, ngại ăn nói ở nơi long trọng hoặc trước đông người.
Hồi ấy ông Trần Độ phụ trách Ban Văn hóa Tư tưởng Trung ương. Sau cuộc gặp của văn nghệ sĩ với Nguyễn Văn Linh mà ông gọi là Hội nghị Diên Hồng của giới văn nghệ, ông thường tổ chức những cuộc hội thảo với một số người mà ông tin tưởng ở trụ sở của Ban (49 Phan Đình Phùng) để chuẩn bị thảo nghị quyết 05 của Bộ Chính trị về văn hóa văn nghệ. Tôi và Nguyễn Minh Châu thường có mặt. Tôi thấy anh phát biểu hết sức mạnh bạo, thẳng thắn. Có đặt mình vào bầu không khí thực sự dân chủ trong những ngày đổi mới sôi nổi cuối năm 1987, đầu năm 1988 mới hiểu được vì sao hồi ấy Nguyễn Minh Châu có thể ăn nói thoải mái như thế. Tôi có ghi lại những lời anh phát biểu đại khái thế này:
“Nhà văn ta cả ba thế hệ đều không có tư cách, đều rất hèn. Thế hệ trước 1945 là nhà văn thời thuộc địa, nhà văn nô lệ. Thế hệ 1945-1975 là lính. Nhà văn militaire. Viết theo lệnh, theo kỷ luật nhà binh. Thế hệ sau 1975 thì đói. Cái đói làm tiêu ma hết nhân cách.
Con người bị kẹp giữa hai gọng kìm, tiết ra một thứ dịch là chủ nghĩa cơ hội. Làm theo khuôn phép, an phận, sợ dân chủ. Dân chủ thật thì vui lắm! Không thể quan niệm nhà văn mà lại sợ dân chủ. Tranh luận, trao đổi dân chủ sẽ nẩy ra bao ý hay. Phương Tây đấu tranh cho dân chủ có cả một quá trình hàng mấy thế kỷ, đổ bao xương máu. Nay ta đâu có thể bỗng chốc giành lấy được.
Ngày xưa viết nhân danh cộng đồng thì thấy thoải mái. Nay nhân danh cá nhân, đời thường thì lo lắng, sợ hãi. Viết ra nó, nhưng nó sẽ làm gì mình đây? Hoạn nạn bất kỳ. Cuộc đấu tranh giữa cái mới và cái bảo thủ thế mà đầy bão táp.
Sau năm 1975, tôi viết Miền cháy, Những người đi từ trong rừng ra vẫn lành và nhát lắm. Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành lẽ ra còn có hai chương nữa: Quỳ gặp lại tác giả trên tàu. Cả đoàn tàu mắc bệnh tâm thần. Nhưng sau sợ, bỏ đi. Ở ta cho phép viết văn không cần nói cái mới, tha hồ giẫm chân lên nhau. Nhà văn không cần có tư tưởng. Nguyễn Khải nói, viết thế này thì chỉ ngồi ê đít ra thôi. Chán quá!
Tư tưởng bảo thủ ở Việt Nam từ đất đùn lên, là nội sinh. Trong đất có quặng bảo thủ: đó là chất phong kiến và chất nông dân. Đổi mới phải đặt trong hoạt động chung của toàn xã hội mới giải quyết được. Cần nâng lên tới tầm khái quát, triết học: đó là chủ nghĩa nông dân. Không có chủ nghĩa cộng sản chung chung, chủ nghĩa Mác chung chung. Ở ta Mác cộng với chủ nghĩa nông dân và tư tưởng phong kiến.
Nông dân làm ra đất nước này và bảo vệ đất nước này. Ruộng vườn nhà cửa làm ra, con cái đẻ ra cấp cho Nhà nước. Công lao chưa nói hết. Nhưng mặt tiêu cực lớn cũng chưa nói. Ta chưa tổng kết Cải cách ruộng đất. Một món nợ phải trả.
Tôi cho nhân dân ta tạo ra được hai cái chuyện rất tài: Thánh Gióng và Thằng Bờm. Thánh Gióng đánh xong giặc bay lên trời luôn. Theo tôi, sau 30-4, mấy quân đoàn của ta cũng nên giải tán đi, kể cả anh Trần Độ nữa, anh cũng nên thôi đi. Truyện Thằng Bờm cũng rất tài. Nông dân rất ảo tưởng mà cũng rất thiết thực, dễ thỏa mãn, lại có thói ưa phỉnh nịnh. Ở Nghệ Tĩnh mấy ông cách mạng 30-31 cực lực phản đối cuộc vận động cán bộ mua công trái. Lương cán bộ chẳng được bao nhiêu lại còn muốn rút ruột! Vậy mà hôm làm lễ phát động mua công trái, các ông được mời lên ngồi ghế đầu, ghế danh dự, thế là sướng, thỏa mãn ngay, hết thắc mắc…
Nông dân thích làm vua, thích làm ông Trời. To, làm vua một nước, nhiều nước, cả thế giới. Bé, làm vua một huyện, một xã, một phòng, một nhà… Nông dân rất tình nghĩa nhưng cũng rất tàn bạo. Đó là phần bản năng còn lại của nhân loại.
Bốn mươi năm nay ta làm chính trị, làm lãnh tụ, làm triết học, khoa học, văn học bằng con người nông dân. Tính trung thực khoa học, tính trung thực nghệ sĩ rất kém. Nhìn đời bằng con mắt nông dân: áp sát, thiển cận, lắt nhắt. Không dự báo được tình hình. Nghệ sĩ lớn phải như con côn trùng có cái râu thăm dò không khí thời đại. Ta viết về chiến tranh, về sản xuất, chiến đấu, có dự báo được gì đâu; cứ viết hết cái nọ đến cái kia, chạy theo, nước đến đâu thuyền dâng đến đấy. Những nhà văn lớn như Tônxtôi luôn băn khoăn về số phận đất nước, số phận nước Nga, về tính cách Nga.
Chiến tranh dung dưỡng tư tưởng bảo thủ, tư tưởng phong kiến. Quân đội cũng dung dưỡng tư tưởng phong kiến. Độc lập nuốt tự do.
Văn học phải có hai nhiệm vụ:
– Một là góp phần dân chủ hóa xã hội
– Hai là đưa dân tộc hòa đồng vào nhân loại.
Thế giới bỏ ta xa quá. Tư tưởng siêu dân tộc ngăn trở giao lưu và tiếp nhận thế giới.
Nhà văn Việt Nam đã ai có tên riêng? Phải có Macket. Con đường trở thành thời đại, thành quốc tế là ngụp sâu vào dân tộc. Colombie rất nhỏ mà có Macket. Nhưng phải rất tỉnh, không được sướt mướt như Nguyên Hồng. Văn học ta là văn học ao chuôm, xã xóm. Con hát mẹ khen hay. Quản lý thì rất sợ bị phủ định, không chịu vươn lên. Văn nghệ cứ ngồi quay lưng lại với nhau, ngành nào biết ngành ấy, không có tác động qua lại: thơ, văn xuôi, kịch nói, điện ảnh… Đạo diễn phim không có tư tưởng gì. Chỉ là anh thợ ảnh. Kịch thì yếu nhưng cứ khen nhau, rất sợ bị chê.
Đã đến lúc văn học phải trở về với nghĩa đích thực của nó. Văn học rất đa dạng, nhưng có một cái gì đó chung. Ta hình như chệch, đi chệch. Cái chung đó do những nhà văn lớn tạo ra, được dư luận thế giới thừa nhận. Cái ấy nếu có thì không có gì làm mất được. Đó là hòn đá tảng định vị giá trị văn học, không gì vùi lấp được.
Ta ít bàn về tư cách nghệ sĩ lớn với những băn khoăn, lo âu lớn làm cho con người hoàn thiện. Văn học phải là chỗ dựa tinh thần của nhân dân. Quan trọng nhất là phải có tư tưởng. Nhà văn phải là nghệ sĩ có tư tưởng. Phải đề cao tư cách nghệ sĩ. Chống thói ghen tỵ, cơ hội chủ nghĩa. Cần chú ý thế hệ trẻ.
Thế hệ chúng tôi là thế hệ minh họa, sứ mệnh minh họa, gọi dạ bảo vâng. Lớp trên thì có tài, có bất bình đấy nhưng là thân phận nô lệ. Thế hệ sau thì đang bị miếng ăn dìm xuống bùn. Rất ít tính cách nghệ sĩ lớn.
Còn thơ thì bây giờ hầu như mất tiếng nói, không ai đọc, thất thanh. Thơ thời đại nào cũng thế, là khát vọng cao nhất của cộng đồng. Trước 1975 là độc lập tự do. Sau 1975 là miếng ăn, là hạnh phúc và dân chủ. Dân chủ là cá nhân được giải phóng. Thơ giờ không nói được cái đó, mất tiếng nói”.
Nguyễn Minh Châu cứ nói liền một mạch như thế. Trong phạm vi hẹp mươi lăm người, anh nói rất hăng, càng nói càng bốc.
- Nguyễn Minh Châu – những ngày cuối cùng với Lão Khúng
Nguyễn Minh Châu viết Bức tranh năm 1982 và viết Khách ở quê ra năm 1984. Nhớ lại lần ấy tôi đến anh cùng với Ngô Thảo. Anh tỏ ra rất đắc ý về cái truyện Bức tranh. Tôi thì cho rằng Khách ở quê ra mới là cái mốc quan trọng trên đường hình thành tư tưởng của anh. Bức tranh đúng là có sự đổi mới về quan niệm con người. Trước kia anh chỉ chăm chú để tìm và ca ngợi những “hạt ngọc ẩn giấu trong bề sâu tâm hồn con người”. Giờ đây anh thấy con người đầy phức tạp, siêu phức tạp, lẫn lộn mặt tốt mặt xấu, trong đầu óc không chỉ có rồng phượng mà chứa cả rắn rết và ác quỷ. Bức tranh cũng là một đổi mới mạnh mẽ về nghệ thuật tự sự. Một cuộc tự thú. Một dòng độc thoại nội tâm triền miên diễn tả quá trình tự nhận thức trên tinh thần sám hối của nhân vật. Thế là anh đã học được cái “ác” của Nam Cao rồi đó. Để mổ xẻ đến tận tim gan nhân vật của mình. Mà có lẽ cũng như Nam Cao, anh mổ xẻ cả chính bản thân mình nữa. Sự dối trá, hèn nhát, thói ích kỷ vô trách nhiệm là của nhân vật họa sĩ hay là của chính anh thời văn chương minh họa mà anh thấy cần phải lên án quyết liệt để từ bỏ dứt khoát?
Nhưng như đã nói, Khách ở quê ra mới là cái mốc trên hành trình tư tưởng của anh. Tạo ra Lão Khúng, anh thật sự đã nhận ra tư tưởng của mình. Tôi để ý thấy hồi này anh luôn luôn băn khoăn đến chuyện tư tưởng, hay nói đến chuyện tư tưởng. “Tác phẩm văn học sống bằng tư tưởng” – chính anh đã nói như thế trước khi cho ra đời cái truyện Lão Khúng. Từ đó, lão nông dân hoang dã này cứ bám riết lấy tâm trí anh mà phát triển lên, mà nở dần ra để trở thành Lão Khúng trong tác phẩm cuối cùng của anh: Phiên chợ Giát.
Hoàng Ngọc Hiến có một bài viết rất sắc sảo về tác phẩm này. Anh gọi Phiên chợ Giát là “một giả thuyết văn học về bản chất và thân phận người nông dân Việt Nam”.
Khách ở quê ra chỉ có Lão Khúng và vợ con lão. Đến Phiên chợ Giát Nguyễn Minh Châu cho lão cặp đôi với bò khoang, lại thêm chủ tịch Bời vốn cũng một tay buôn bò, tại thành bộ ba – biểu tượng thật sự hoàn chỉnh về người nông dân Việt Nam.
Nói về công lao của người nông dân thì không sao kể xiết: phá rừng, san núi, mở đất, đào sông, suốt đời nai lưng kéo cày để nuôi sống cả dân tộc. Nhưng khổ cực thì thời nào cũng là tầng lớp khổ cực nhất. Đúng là thân phận trâu bò, vất vả, lam lũ, đói rách, chẳng bao giờ cất đầu lên được. Nông dân thế mà thích làm vua, thích làm lãnh tụ, dù chỉ là lãnh tụ một huyện như chủ tịch Bời, hay lãnh tụ một nhà như lão Khúng. Cũng rất ham quyền lực, háo danh và tự mãn. Chủ tịch Bời chỉ thích chuyện náo nhiệt, động người, trống giong, cờ mở, khẩu hiệu rợp trời, bày ra toàn những chuyện to tát, vĩ đại “khuấy đảo sự làm ăn no đói của hàng vạn người”. Lão Khúng thì có lúc thấy mình chẳng là cái thá gì, nhưng có lúc cũng ngất ngưởng, thấy mình chẳng kém cạnh ai. Lão dám cười khinh, nhạo báng cả bầu trời đầy sao nhấp nhánh linh hồn của toàn những “vua chúa hoặc đại thần danh tiếng của thời nay” – những ngôi sao đang “toát mồ hôi hột để nặn ra ánh sáng như đàn bà rặn đẻ”, cứ tưởng mình soi sáng được mặt đất, kỳ thực mặt đất vẫn tối thui, tối mò… Vì miếng cơm manh áo mà phải vật lộn với đời, nông dân rất thiết thực và tinh khôn ra trò. Chủ tịch Bời nghĩ ra cái mẹo ba cùng làm cho uy tín của lão tăng vọt lên rất nhanh, rất rộng. Lão Khúng cũng đủ khôn ngoan để biết che giấu những ý nghĩ thực của mình trước cấp trên. Còn bò khoang thì giữa đêm tối mịt mùng vẫn mò ra được đường đi, không bao giờ lạc lối. Nhưng chỉ là khôn vặt, mẹo vặt. Người ta vẫn nói ngu như bò. Nguyễn Minh Châu tạo ra nhân vật cặp đôi người – bò là cũng muốn gài ý nghĩa ấy. Chủ tịch Bời tưởng là khôn ngoan, té ra làm toàn những chuyện đảo lộn trời đất một cách ngu xuẩn đến nỗi bị cách chức. Còn lão Khúng cũng như bò khoang thì lại có cái ngu si riêng “đầy hoang sơ”, không khác gì “đứa trẻ thơ chẳng bao giờ lớn khôn lên được mặc dầu cái xác to kềnh càng”. Nông dân rất tình nghĩa, thủy chung. Cái buổi sớm vĩnh biệt bò khoang theo chủ đi chợ Giát, vợ con lão Khúng đã phải đổ bao nhiêu nước mắt, chẳng khác gì nghe tin thằng Dũng hy sinh ở chiến trường Campuchia. Tất nhiên, lão Khúng cũng vô cùng đau khổ. Nhưng nói tàn bạo thì nông dân cũng rất tàn bạo. Cái búa tạ bổ vào đầu con bò khoang “làm lún một mảng trán” và “khiến cho một con mắt dính đầy máu trồi ra ngoài” là của lão Khúng chứ của ai!…
Hoàng Ngọc Hiến nói đúng, Phiên chợ Giát là “một giả thuyết về bản chất và thân phận người nông dân Việt Nam”. Nhưng tôi muốn nâng tầm khái quát của biểu tượng lên một mức nữa: đó còn là “giả thuyết về bản chất và thân phận dân tộc Việt Nam”. Vì dân tộc này chẳng phải là một dân tộc nông dân đó sao! Mà tôi chắc Nguyễn Minh Châu cũng nghĩ như vậy. Một dân tộc có sức chịu đựng phi thường, gánh cả cuộc kháng chiến hết sức nặng nề và vô cùng gian khổ lên vai. Một dân tộc cũng khôn ngoan rất mực nên mới đánh thắng được cả hai tên đế quốc Pháp và Mỹ hùng mạnh nhất thế giới. Một dân tộc cũng đầy hoang tưởng nên có lúc cho mình là “siêu dân tộc”, là “đỉnh cao của thời đại”. Còn ngu xuẩn và tàn bạo thì không gì bằng cuộc Cải cách ruộng đất. Đó là nhát búa tạ của lão Khúng bổ vào đầu bò khoang, là nhát búa khủng khiếp của nông dân bổ vào đầu nông dân chứ còn gì nữa!
Nguyễn Minh Châu đã viết Phiên chợ Giát trong những ngày cuối cùng trên giường bệnh. Hồi ấy tôi có đến thăm anh mấy lần. Anh đã yếu lắm. Gầy và xanh. Vừa nói vừa thở. Hết ngồi lên, lại nằm xuống. Nhưng anh nói rất say sưa, hào hứng. Anh nói về cái làng của anh tên là Kẻ Thơi ở một vùng bờ biển Quỳnh Lưu, Nghệ An. Một cái làng kỳ lạ, dữ dội như những con người mọc lên từ sỏi đá, rồi nhờ sóng biển, bão táp mà luyện thành xương sắt, da đồng. Những con người vô học, sống theo bản năng, liều lĩnh, táo tợn một cách hoang dã. Hôm ấy, trên giường bệnh, anh nói với tôi: “Nếu trời Phật cho sống, tôi sẽ viết về cái làng đó”. Trời Phật đã không cho anh sống. Tuy vậy, vận hết sức lực cuối cùng, anh đã thực hiện được nguyện vọng của mình. Thế là Nguyễn Minh Châu đã tìm ra lão Khúng để phát biểu tư tưởng của mình ở chính cái làng quê hoang dã của anh. Mà hình như chẳng riêng gì lão Khúng. Xem ra mọi nhân vật nông dân của anh dù ở Cửa sông, Những người đi từ trong rừng ra hay Mảnh đất tình yêu…, ít nhiều có cái vẻ hoang sơ, hoang dã riêng, đều đi vào trang sách của anh từ cái làng Kẻ Thơi đó cả.
Thêm một bằng chứng để khẳng định cái ý này mà tôi vẫn lấy làm tâm đắc: Thế giới nhân vật cũng như phong cách nghệ thuật của nhà văn, nói chung, đều hình thành một cách tự nhiên, vô thức, từ những ấn tượng về môi trường sống của mình thời niên thiếu, bao gồm môi trường gia đình, môi trường xã hội, môi trường tự nhiên, môi trường văn hóa.
Láng Hạ, 27-11-2008

Nguồn: Nguyễn Đăng Mạnh – Chân dung và phong cách, nxb Đại học Sư phạm, Hà Nội, 2019, tr. 278-288.