Lê Huỳnh Lâm

Cố đô Huế quả thật nhiều hạnh vận khi sản sinh ra một nữ danh sĩ Phùng Khánh, tức cố Ni trưởng Thích Nữ Trí Hải (1938-2003). Bà gọi Tuy Lý Vương là tằng tổ phụ (cố nội), thuộc dòng hoàng tộc chánh hệ vua Minh Mạng. Dù xuất thân danh gia vọng tộc, sống một cuộc sống đầy đủ vật chất, nhưng theo truyền thống gia đình nhiều đời thâm tín đạo Phật, Phùng Khánh đã sớm chọn cho mình con đường xuất gia. Bà vừa là một nữ tu sĩ, vừa là nhà văn, là một dịch giả tài hoa, và là một nhà hoạt động xã hội tích cực.
Được biết từ khi đang còn nằm trong bụng mẹ, Phùng Khánh đã được thọ tam quy ngũ giới và được ban pháp danh Tâm Hỷ mà bổn sư thế độ là ngài Thích Tịnh Khiết, tọa chủ chùa Tường Vân, Huế thời bấy giờ. Vào năm 1960 bà tốt nghiệp Cử nhân Anh văn tại Đại học Sư phạm Huế rồi giảng dạy tại trường Trung học Phan Chu Trinh Đà Nẵng, nhưng chỉ vài tháng sau bà sang Mỹ du học; đến năm 1964, sau khi hoàn tất học trình Thạc sĩ Văn chương tại Đại học Princeton, Phùng Khánh về nước và xuất gia tại chùa Hồng Ân, được bổn sư là Sư bà Thích Nữ Diệu Không thọ ký.
Với kiến thức uyên thâm cả về thế học lẫn Phật học, Phùng Khánh đã có nhiều đóng góp cho hoạt động văn hóa, giáo dục và hoằng pháp. Bà là một trong những giảng viên đầu tiên giảng dạy tại Thiền viện Vạn Hạnh và Trường Cao cấp Phật học Việt Nam, từng làm Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam. Bên cạnh những hoạt động giáo dục và hoằng pháp, Ni trưởng Thích Nữ Trí Hải còn dành thời gian dịch thuật những tác phẩm văn chương nổi tiếng có tính khơi dậy tâm từ trong con người, khai mở con đường tìm kiếm chân lý. Những tác phẩm dịch tài hoa của Phùng Khánh đã cuốn hút độc giả thuộc nhiều thế hệ.
Người ta nhớ nhiều đến các tác phẩm văn học: Câu chuyện dòng sông (Siddharta của Hermann Hesse) do bà cùng với em gái là Phùng Thăng dịch từ nguyên bản tiếng Đức, rồi Nhà khổ hạnh và gã lang thang (Narziss und Goldmund), Ảo hóa cũng của Hermann Hesse dịch từ tiếng Đức. Bên cạnh đó là các dịch phẩm khác như: Ông già và biển cả nguyên bản của Hemingway, Bắt trẻ đồng xanh của J. D. Salinger… Những dịch phẩm triết học và tôn giáo chiếm một khối lượng lớn trong các công trình của bà, có thể kể đến:
Câu chuyện triết học của Will Durant (dịch cùng với Bửu Đích), Tạng thư Sống Chết của Sogyal Rinpoche, Tâm bất sinh từ Ngữ lục của Thiền sư Bankei, Thanh tịnh đạo bản tiếng Anh do Nanamoli dịch từ bản Pali của luận sư Buddhaghosa, Nhập Bồ tát hạnh của tôn giả Tịch Thiên (Shantideva), So sánh kinh Trung A-hàm chữ Hán và kinh Trung bộ chữ Pali, Nhà Chiêm bái khiêm tốn là hai ấn bản tiếng Anh của hòa thượng Thích Minh Châu, Phật giáo truyền thống Tây Tạng của Geshe Kelsang Gyatso, Sự tích giới luật của E. Herrigel,… Ngoài ra, bà còn biên soạn một số tác phẩm Bóng nguyện lòng sông, Đàm hoa lạc khứ, Từ nguồn Diệu pháp, Tương quan giữa Thiền và Mật, Đường vào nội tâm, Ba thời chuyển pháp, Nguồn mạch tâm linh, Đường đi không gió, lòng sao lạnh!,…
Chỉ liệt kê chừng đó cũng đủ thấy được tấm lòng của một vị chân tu, Ni trưởng Trí Hải không những đã có ý mở mang kiến thức triết học, văn chương cho các thế hệ sau này, mà còn để lại một kho tàng tri thức, một sự giao thoa tư tưởng giữa các trào lưu triết học và Phật giáo. Nhiều thế hệ thanh thiếu niên đến với tác phẩm Siddharta (Câu chuyện dòng sông) của văn hào Hermann Hesse qua tài chuyển ngữ của dịch giả Phùng Khánh. Từ đó hiện tượng Tất Đạt và Thiện Hữu như một cặp đối ngẫu hiển hiện trong xã hội từ thời bấy giờ đã được hình tượng hóa kịp thời qua Câu chuyện dòng sông. Nếu Thiện Hữu là con người của khiêm cung, nép mình trong môi trường tu học, đạo đức luôn đi theo con đường đã được vạch sẵn, thì trái lại Tất Đạt là con người dấn thân vào cuộc nghiệm sinh giữa lòng cuộc đời, nhưng tâm tưởng không bao giờ rời bỏ mục đích tìm chân lý cuộc sống. Câu chuyện dòng sông, chính là câu chuyện của thanh niên Việt Nam của những thập niên 60, 70 hay chính là câu chuyện của một đời người ở bất kỳ thời cuộc nào. Tôi đã đọc Câu chuyện dòng sông từ đầu những năm 80, và đến bây giờ vẫn còn đọc nó, đọc gần như thuộc, nhưng vẫn cứ muốn đọc, phải chăng vì đó cũng chính là câu chuyện của chính mình. Điều đó chứng tỏ rằng, một tác phẩm văn chương giá trị tác động và truyền cảm hứng như thế nào vào tâm thức các thế hệ ở những đất nước đang vào thời loạn lạc, vì thế chúng ta cần phải tôn vinh và tri ân công lao những dịch giả. Dòng sông mà Hesse muốn nói đến, chính là dòng sống hiện hữu thường trực, không phải là hiện sinh ở bề mặt nông cạn như những trào lưu hay khuynh hướng trác táng, sa đọa, hoặc sự đối diện ở bề ngoài vỏ bọc hư vô,… mà cuộc hiện sinh ở đây được mô tả như trạng thái tĩnh lặng, như sự dấn thân để truy tầm, kiếm tìm, suy nghiệm để mở ra từng lớp vỏ tâm thức chìm sâu vào bản thể vô ngã nhằm khám phá ý nghĩa chân thật cuộc sống, điều này chỉ thành đạt được ở những tâm hồn bất thối chuyển.
Vì sao một bậc nữ lưu thuộc hậu duệ của triều Nguyễn như Phùng Khánh lại khát khao lên đường dấn thân vào cuộc tìm kiếm ý nghĩa cuộc sống? Vì sao trong hoàn cảnh vật chất dư thừa nhưng người thiếu nữ đó lại khước từ, rời bỏ đời sống tục lụy để bước vào cảnh giới của đạo một cách trọn vẹn? Chỉ có thể giải thích rằng ngoài sức mạnh của ý chí, ngoài ảnh hưởng từ đời sống gia đình mộ đạo, tâm hồn của Phùng Khánh luôn hé nở những đóa hoa từ bi, chỉ có tình yêu thương và phần nào liễu ngộ được lý tưởng cuộc sống mới thôi thúc Phùng Khánh bước vào con đường đạo Phật quyết liệt như vậy. Phùng Khánh dịch nhiều hơn sáng tác. Năm 1994 bà đã lập tập san văn hóa Tuệ Uyển ở Sài Gòn, Tuệ Uyển được ấn hành đến năm 2003 thì dừng lại theo cuộc đời vô thường đã đưa Ni trưởng Trí Hải về cõi giới Phật, do một tai nạn giao thông trên đường tình nguyện đi cứu trợ. Trong một tập Tuệ Uyển có bài Đàm hoa lạc khứ viết về Huế rất sinh động, Huế của riêng mình, mà Huế là tất cả: “Mỗi lần đi Huế lòng tôi lại nôn nao khôn tả. Huế là đạo, là thơ, là nghĩa tình ý vị, là tinh hoa văn hóa của ba miền đất Việt, nhưng cũng là mảnh đất khô cằn của đói nghèo khốn khổ “mùa đông thiếu áo mùa hè thiếu cơm” đã hứng chịu nhiều thiên tai nhân họa… Tôi không thể nào quên được cái cảm giác lâng lâng khó tả khi viếng tháp tổ Liễu Quán. Phải đi một mình mới thấy được, nghe được tất cả cái linh thiêng. Mình như nghe được cả cái im lặng tĩnh mịch ở đấy, tiếng của vô thanh (la voix du silence) ngân vang trong hồn và khắp vũ trụ, và khi ấy dường như không còn cái gì gọi là ‘mình’ được nữa vì mình đã tan loãng ra, hòa với thời không vô tận.” (Trí Hải, Đàm hoa lạc khứ, Tuệ Uyển). Nhà văn Viên Linh, chủ bút tờ Khởi Hành đã nhận định: “Văn xuôi của tác giả [Phùng Khánh] thì cuồn cuộn như thác nước, nhất là văn kể chuyện. Cố Hòa thượng Thích Mãn Giác viết: “Sống ở Hoa Kỳ những năm đầu 1960 với cõi lòng ẩn mật rất Huế, khi về Việt Nam, Cô [Phùng Khánh] đã ra mắt với người đọc quê hương hai bản dịch nổi tiếng […] mà không lâu sau đó người đọc đều đã nhận ra gương mặt tuyệt vời của một dịch giả vừa uyên bác cẩn trọng, vừa trong sáng nghiêm túc. Mãi cho tới mấy chục năm sau, Cô vẫn giữ vị trí của người chuyển ngữ tài hoa nhất”.
Thật hiếm có. Một người nữ thuộc dòng tộc chánh hệ của vua Minh Mạng đã dâng trọn đời mình cho cuộc chấn hưng văn hóa, văn nghệ, cho giáo dục và gởi trọn niềm tin cho Phật pháp,… không phải chỉ một khoảng thời gian mà hết cả cuộc đời bà cho đến giây phút rời trần gian bà cũng đang trên đường hoằng pháp.
Cuộc đời một vị nữ tu như vậy khác gì một vườn hoa tràn ngập ý đạo.