Mai An Nguyễn Anh Tuấn
13.
Sau mấy năm làm phim dài ngày trên Tây Bắc cùng ông Đạo Chúc, Thế lại được ông mời lên Gia Bình – Bắc Ninh, lúc này ông đã là Hội trưởng “Hội yêu kính Nguyễn Trãi – Nguyễn Thị Lộ”. Ở đó, trong khu di tích Vườn Vải (Lệ Chi Viên) – nơi từng xảy ra một vụ án thảm khốc cách đây sáu thế kỷ, ông Chúc đã hưng công xây dựng Đài Giọt Lệ và Đền thờ Nguyễn Trãi – Nguyễn Thị Lộ…
Lúc chiều tà, Thế lên bờ đê ngắm nhìn cảnh vật và tranh thủ ghi một số hình ảnh làng quê cho bộ phim tài liệu đang thực hiện: “Vườn vải xưa còn nhòa lệ máu”… Dòng sông Đuống lúc này phủ sương mù mịt, ẩn hiện đôi chiếc thuyền câu… Núi Thiên Thai mờ ảo như còn ấp ủ nỗi niềm riêng của thái sư Lê Văn Thịnh… Phía trong đê, Lệ Chi Viên nằm gọn giữa xóm làng bình dị, như tự ngàn xưa vẫn xanh ngắt ruộng lúa, vườn khoai, bãi dâu; vẫn còn đó những đền chùa miếu mạo cổ rêu phong, và giờ đã xuất hiện thêm Khu tưởng niệm Nguyễn Trãi và Nguyễn Thị Lộ (gồm đền thờ, các bức tượng hai cụ Trãi & Lộ, đài Giọt Lệ và các công trình phụ trợ đang được gấp rút hoàn thiện).
Giống một sự sắp đặt của tạo hóa, Lệ Chi Viên nằm gần như ở trung tâm một vùng đất dày đặc trầm tích văn hóa – lịch sử lâu đời vào bậc nhất của nước ta – vùng đất dọc đôi bờ sông Đuống từng góp phần quan trọng tạo thành nền văn hiến Kinh Bắc rạng rỡ… Và, có một điều thật lạ lùng: dọc đê sông Đuống – một con sông chỉ là chi lưu phụ của sông Cái (sông Hồng), trên một đoạn chưa đầy ba chục cây số mà có tới ít nhất 3 địa danh liên quan đến 3 vụ án oan động trời, đến nỗi nó được mệnh danh là “Con đường oan khuất”! Cách thị trấn huyện Gia Bình không xa là thôn Bảo Tháp xã Đông Cứu – nơi chôn nhau của Tiến sĩ khai khoa Lê Văn Thịnh, một công thần đời Lý bị vu là hóa hổ cướp ngôi vua, phải đày đi Thao Giang, nay có đền thờ ở sườn núi Thiên Thai! Qua chân núi Thiên Thai vài cây số là tới Lệ Chi Viên (xã Đại Lai, Gia Bình). Đi ngược lên một đoạn nữa, là tới lăng mộ và đền thờ Cao Lỗ vương – một trung thần vì khuyên can vua những điều thuộc lẽ phải để giữ nước mà bị An Dương Vương phế bỏ, rồi sau đó bị thiệt mạng oan uổng!
Đêm xuống, Thế đi miên man qua những địa danh cổ như còn mang hơi thở của Ly Cung – Trại Vải xưa: Sông Lai, Bến Cả, Vườn Quan, Vườn Rậm, khu Ba Tòa, Màn Đông, Màn Tiên, Lửa Đền, Cầu Táo, Bến Cống,… và chưa hề nguôi đi nỗi đau oan khốc do âm mưu thâm độc và tội ác ghê tởm gây ra mang tên Lệ Chi Viên – từ ngót sáu trăm năm qua cho đến tận giờ, và chắc chắn trong cả rất nhiều thế kỷ về sau nữa vẫn sẽ còn tiếp tục lay động tận đáy tâm can và làm rỏ máu trái tim người lương thiện… Tự lúc nào, những gì liên quan đến Nguyễn Trãi, Nguyễn Thị Lộ, Lệ Chi Viên đã đi vào tiềm thức thẳm sâu và trở thành nỗi ám ảnh khôn nguôi về Lương tri, về Nhân nghĩa, về Lẽ phải ở trong anh? Anh chỉ biết rõ một điều: trong cuộc đời này, những tên người và địa danh thiêng liêng như thế từ lâu nay đã giống như một thứ thuốc thử hiệu nghiệm cho lòng Trung thực, như một sức mạnh phản xạ tức thì đối với những gì là Đểu giả và Bất công!
Trong những câu thơ cổ mà anh yêu thích và thuộc nằm lòng có câu của cụ Ức Trai: Họa phúc hữu môi phi nhất nhật/ Anh hùng di hận kỷ thiên niên. Phải chăng xưa nay, thời nào cũng thế, họa phúc nuôi mầm không chỉ một buổi mà anh hùng để hận tới mấy ngàn năm! Thật xót xa! Hy vọng rằng sẽ tới cái thời những chuyện đau lòng như vậy chỉ còn là giấc mộng Nam Kha…!
Và đêm Lệ Chi Viên, nhiều vần thơ khác mang tâm sự của Nguyễn Trãi mà anh từng được nghiền ngẫm từ thời sinh viên cứ ào ạt trở về giữa không gian tựa Đêm ngày cuồn cuộn nước triều đông… Có một bài hát phổ lời bài thơ Quốc âm Tùng do thầy giáo cũ ở khoa văn sáng tác, anh những tưởng đã chìm khuất trong bao tầng dĩ vãng, đêm nay chợt hiện về cái giai điệu trầm buồn và xoáy lòng do chính lời thơ đem lại, sống động mồn một dáng vẻ cứng cỏi song cô độc của nhà thi hào – anh hùng dân tộc: Thu đến cây nao chẳng lạ lùng/ Một mình lạt thở ba đông… Chẳng hiểu sao, khi viết cho đứa con gái nhỏ mới 6 tuổi anh cũng vận Nguyễn Trãi và Lệ Chi Viên vào những nỗi buồn u uất khó lý giải của mình: Dũng cảm lên con, để mai sau nếu có khóc bên thảm án Lệ Chi Viên, con còn có nụ cười sáng lệ trước ngọn đèn xanh hoà mưa đêm[74]… Con sẽ cần tới lòng dũng cảm không chỉ để cõng nổi chiếc cặp sách quá tải trên lưng hay chịu đựng được ánh mắt của cô giáo khi chẳng chịu học thêm, mà còn để có sức dùng được ngọn trúc của Ức Trai dò lòng suối tìm đến cánh rừng Mai nguyên thuỷ của Tình người…
Giá trị nhân văn to lớn của di sản tinh thần do Nguyễn Trãi để lại – bao hàm cả tấn bi kịch đau đớn của đời cụ, chỉ có thể được tích hợp hiệu quả và lan tỏa sâu rộng vào đời sống nhiều thế hệ thông qua sự kiên trì và lao tâm khổ tứ của của những người lãnh đạo chính trị, nhà văn hóa, nhà khoa học, những nhà giáo, những người yêu lịch sử, v.v. Nhưng cái công việc mang tầm vóc của một sự nghiệp lâu dài và gian khổ đó gặp phải không ít trở ngại – bởi sự thiếu hiểu biết, thiếu tầm nhìn, thiếu tinh thần trọng thị, thiếu sự động não, thậm chí bởi ý đồ đề cao cá nhân! Có đôi ba nhà văn tầm tầm cũng chịu khó tìm tòi nghiên cứu sử liệu nhưng đã viết ra những dòng báo những trang văn báng bổ nhân cách bà Nguyễn Thị Lộ một cách đáng xấu hổ – qua đó vô tình hạ thấp Nguyễn Trãi, khiến công luận phẫn nộ!… Nhà giáo Đạo Chúc có kể lại: khi ông đề xuất ý định tổ chức Hội thảo để minh oan cho Lễ nghi học sĩ Nguyễn Thị Lộ với một quan chức ở Bộ văn hóa – Thông tin (cũng là một nghệ sĩ có tên tuổi) để mong tìm được sự động viên ủng hộ từ phía Chính quyền và ngành dọc, thì ông được trả lời một cách thẳng thừng và cũng “thâm thúy” như sau: Bà Lộ đâu phải là vợ chính thất của Nguyễn Trãi mà đáng làm Hội thảo!
Nhưng cuộc đời vẫn cứ vận hành và sắp xếp các giá trị theo một quy luật công bằng trong tận đáy bản chất nghiệt ngã của nó – bất chấp mọi mưu mô gian ngoan quỷ quyệt của bè lũ tìm cách tiêu diệt Nguyễn Trãi & Nguyễn Thị Lộ xưa kia lẫn sự thờ ơ ích kỷ và nông cạn của con người thời hiện đại… Không cần đợi đến Hội thảo minh oan và tôn vinh cho mình, bà Lễ nghi học sĩ Nguyễn Thị Lộ hàng trăm năm qua vẫn đã sống trong trong lòng người dân Tân Lễ – Thái Bình và người dân vùng Khuyến Lương – Hà Nội như một biểu tượng của vẻ đẹp phụ nữ có nhân cách cao quý và học thức sáng láng… Nhà văn Hoàng Quốc Hải từng tặng Thế một cuốn tiểu luận văn hóa, trong đó ông kể: học giả Lê Thước đã tới Lệ Chi Viên cả tháng ròng (những năm 1958-1959) và đã viết một tập bản thảo có tên Về quê Đại. Không ai nhớ rõ bản thảo đó đã viết những gì, bởi người được cụ Lê Thước trao giữ hộ đã đốt đi vì sợ “họa văn tự”[75]. Song Thế đoan chắc rằng: cụ Lê Thước đã tới Lệ Chi Viên để tìm thêm chứng cớ nhằm vạch rõ thực chất vụ thảm án, vì năm 1956, chính cụ là một trong những nhà nghiên cứu đầu tiên đã “Thử xét lại cái án Nguyễn Trãi” trên tinh thần khoa học hiện đại[76]… Và một hội thảo khoa học quy mô lần đầu tiên về Lễ nghi học sĩ Nguyễn Thị Lộ đã được tổ chức giữa Thủ đô Hà Nội vào cuối năm 2003.[77] Rồi Đền thờ – công trình chính của toàn thể Khu lưu niệm đã được dựng lên. Sau đó ông Chúc đã tiếp tục vận động các nhà tài trợ và nhiều người tâm huyết đồng lòng góp công, góp của để có một Lệ Chi Viên hồi sinh và hiện diện xứng với tầm của nó.[78]
Một cán cán bộ xã kể lại cho Thế: có người đã nhiều lần về Lệ Chi Viên để cất công tìm hiểu về hệ thống di tích cũ, về huyền sử lưu truyền trong dân gian, vẽ ra cả bản đồ di tích nữa, để mong góp phần giúp người thời nay hiểu rõ thêm về thực chất vụ thảm án; và theo anh, còn hơn thế, để có thêm cơ hội được đắm chìm vào cội nguồn tinh thần của Danh nhân và thấm hiểu được cảm nhận của nữ văn sĩ Pháp Yveline Féray: “Tấn thảm kịch thực sự của Nguyễn Trãi là tấn thảm kịch của một vĩ nhân sống trong một xã hội quá ư bé nhỏ”[79]… Trên thực tế, Lệ Chi Viên đã và đang còn là một hiện trường của một vụ án lớn giúp cho các nhà khoa học tiếp tục tìm tòi khai thác những chứng cứ đáng tin cậy để khẳng định ngày càng thuyết phục hơn: cái chết thảm khốc của Nguyễn Trãi & Nguyễn Thị Lộ cùng hơn ba trăm người là âm mưu của một thế lực đen tối trong triều đình nhà Lê muốn trừ khử một tài năng quá lỗi lạc, một nhân cách quá cao thượng…
Đêm Lệ Chi Viên buốt lạnh, đâu đây như vẫn còn phảng phất vẻ hoang dã liêu trai đậm màu sắc phương Đông cổ xưa của cái thời lưu truyền những huyền thoại độc địa đến kinh hoàng về Rắn báo oán, và Vườn Vải xưa như còn chưa thôi nhòa lệ máu trong lòng người… Nhưng bên cạnh nỗi cảm hoài xót xa chưa thể vợi bớt mỗi khi chợt nghĩ về vụ thảm án, bên cạnh cái khát khao được hình dung một cách cụ thể những khung cảnh đã diễn ra cái sự kiện đau đớn ngót sáu trăm năm trước, giờ đây lòng Thế chợt dấy lên một niềm rạo rực khôn tả: Lệ Chi Viên đang bắt đầu một cuộc sống mới mẻ mà ở đó, những giá trị tinh thần bất tử được tỏa ra từ tâm hồn – sự nghiệp của hai cụ Nguyễn Trãi & Nguyễn Thị Lộ sẽ có thêm dịp được thẩm thấu vào cuộc đời, để hòa vào nguồn suối vô tận của lòng Nhân cùng những Phẩm giá làm Người đích thực… Đó cũng là đoạn kết lời bình phim tài liệu “Vườn vải xưa còn nhòa lệ máu”, sau đó đổi thành: “Đường tới Lệ Chi Viên”…
14.
Thế lại có dịp trở lại với vùng cao Sơn La – Tây Bắc để thực hiện nốt hợp đồng làm phim với Tỉnh về Hậu cây thuốc phiện. Nơi đây vừa trải qua những ngày đông nghiệt ngã…
Lá cây chuối, cây mía cháy táp tiêu điều bởi sương muối.
Những bàn chân trần người lớn trẻ con nứt nẻ, trên đường núi, trong lớp học.
Những mảnh áo chàm vá víu phong phanh; những tấm da bò che tạm cơn gió buốt thấu xương. Người phụ nữ bụng chửa gùi lu-cợ nặng trĩu, quai hằn trên trán, mặt ngửa lên trời, ngón chân bấm đá sắc.
Những cụ già, em nhỏ đèo đôi bương nước lê từ chân dốc lên núi, trong từng đợt gió căm căm.
Những bước chân gấp gáp nặng nhọc cõng lá tranh xuyên qua sương mù, trong khi hai bàn tay se sợi đay không lúc nào ngừng nghỉ.
Nước rỏ từng giọt từ cây bương chẻ đôi làm ống nước treo qua bản. Chảo chàm màu xanh lét được đảo lên đảo xuống bởi đôi tay sần chai cũng nhuộm kín màu chàm.
Người đàn bà còn trẻ vú đã sệ xuống, khuôn mặt dăn deo khắc khổ, đẩy chiếc guồng se sợi lanh chậm chạp quay vòng giữa sân.
Nhiều lớp học vùng cao sắp hết kỳ nghỉ đông để vào năm học mới mà vách nứa mái tranh vẫn trống huếch tứ phía, đầy phân trâu ngựa, bàn ghế long gẫy tồi tàn.
Những lời cúng ma thống thiết não nuột bay ra từ chiếc khăn đen trùm kín mặt, cùng tiếng chiêng bạt rờn rợn nhảy nhót trên những gương mặt lo âu ám khói từng đôi lần được ống kính của Thế ghi lại.
Câu dân ca Mông hát bên bếp lửa như vọng mãi lời ai oán của những kiếp người khổ sở: Ta trót ăn lầm cơm ma/ Trót uống lầm nước ma/ Lạc chân trời đến quê ma/ Ta đi được, trở về không được…
Nhưng vùng cao Tây Bắc đâu phải chỉ có gian khổ, cực nhọc! Chuyến làm phim lần này, Thế càng hiểu thêm điều đó…
Vào mùa xuân, khi những tia nắng ấm bắt đầu chen lấn sương mù, sương mù không còn dày đặc đáng sợ nữa. Chúng lại giống một dải khăn voan trắng mờ phủ lên cảnh vật hoang sơ, điểm xuyết những vệt hồng nhạt của hoa đào, những vệt trắng muốt của hoa mơ, hoa mận, hoa sơn tra, hoa mắc coọc – tạo nên cái không khí quen thuộc trong thơ cổ… Muộn hơn chút nữa, là đến mùa hoa ban nở – thứ hoa của truyền thuyết mà chỉ vùng núi Tây Bắc mới có! Cùng với những ngọn núi chan hoà ánh dương phủ mây trắng, cỏ cây hoa lá và trang phục cầu kỳ của người vùng cao sẽ bất ngờ khắc hoạ những cảnh vật nếu không hùng vĩ tráng lệ thì cũng thầm kín e ấp… Những phục trang, những hoạ tiết thổ cẩm tinh xảo rực rỡ của người Mông, người Dao khiến bất kỳ ai khó tính nhất cũng phải khâm phục. Nước thép rèn của những con dao Mông chất lượng không kém lưỡi dao Đa-mát Thổ Nhĩ Kỳ nổi tiếng thế giới. Nòng súng kíp của người Mông được làm một cách kỳ công, chính xác – bằng sức nước ngày đêm khoan nòng thép! Những thửa ruộng bậc thang, những nương màu trên những sườn núi có độ dốc cao chứng tỏ kỹ thuật canh tác độc đáo và đức tính cần cù, nhẫn nại của người dân vùng cao… Cuộc vận động phá bỏ cây thuốc phiện cách đây hơn môt thập kỷ đã làm rung chuyển tận gốc rễ một tập quán canh tác và sinh sống quan trọng của hàng chục vạn người Mông. Những người khổng lồ xưa trong truyền thuyết của người vùng cao chắc hẳn phải ngỡ ngàng bởi thế hệ cháu chắt của họ trong những năm cuối của thế kỷ 20 đã dám từ bỏ một tập quán vững chắc dường như có sự hỗ trợ của đấng thần linh: trồng và hút thuốc phiện!
Lần này, để tiếp tục thực hiện nốt phim tài liệu về Hậu cây thuốc phiện, Thế chọn vùng cao huyện Bắc Yên… Vượt qua những đoạn đường núi long lanh trắng muốt hoa sơn tra, hoa mận, anh đến với xã Tà Sùa – một trong những vùng cao điển hình của Tây Bắc. Nơi đây, sương mù lẫn với khói đốt nương, hoà với khói bếp, trộn cùng khói nâu thuốc phiện trong hàng thế kỷ…
Nhưng cũng chính nơi đây, có một điều kỳ diệu ít được biết đến: chính sương mù đã góp phần lớn tạo ra một giống chè tuyết đặc sản hiếm có – chè tuyết Tà Sùa. Ở ngay thị trấn Bắc Yên hiện tại, giá một cân chè khô Tà Sùa đã là gần 1 triệu đồng! Sương mù quả là một thứ vàng trắng đặc biệt. Ở độ cao gần 2.000 mét dày đặc sương mù, độ ẩm lớn, chất đất thích hợp, chè Tà Sùa đã mọc tự nhiên thành rừng. Cây chè từng mọc bên cây thuốc phiện, chúng tranh giành thế lực của nhau qua nhiều số phận người, qua nhiều năm tháng, cho tới ngày mà – như một thứ định mệnh, cây chè Tà Sùa đã buộc phải thay thế hoàn toàn cho cây thuốc phiện… Vị chát ngọt đặc biệt của chè Tà Sùa như được chắt lọc từ hương thơm của trăm loài hoa rừng. Lá búp chè được hái vào sáng sớm khi chưa tỏ mặt người; các bếp lò sao chè thâu đêm bằng tay sẽ làm công việc kết tinh lại một lần nữa sự sống của thiên nhiên vào những cánh chè vương bụi phấn óng ánh như tuyết chứa đủ 18 vị đầu đẳng của những loại chè ngon nhất thế giới! Và nếu như chè được pha bằng nước suối Tà Sùa, lại do chính bàn tay hái búp và sao chè của người phụ nữ Mông – trong cái se se lạnh của đầu xuân bên bếp lửa vùng cao, sẽ được thưởng thức hết cái hương vị lạ lùng của chè Tà Sùa, và chắc chắn sẽ được sống với những gì tinh khiết nhất của tâm hồn con người…
Thế được Giám đốc nhà máy chè cho biết: cách đây mấy năm, bà Iakokisi trong một phái đoàn tham quan của Nhật Bản – đất nước của những truyền thuyết về trà đạo, sau khi thưởng thức hương vị chè Tà Sùa đã phải thốt lên: “Nếu các bạn có bao điều tự hào về đất nước của mình thì Tà Sùa có thể là một trong những niềm tự hào đáng kể nhất… Các bạn hãy gìn giữ nó như báu vật trời cho.”
Thế nhấm nháp bát nước chè Tà Sùa đựng trong cái bát vẫn dùng để uống rượu men lá của người Mông, bỗng thấy ngây ngất như lần đầu tiên được uống thứ rượu Hạnh Hoa mà anh bạn thân, nhà văn Chu tặng cho khi đi Trung Quốc về, trong lời ngâm nga thơ Đỗ Mục: Tá vấn tửu gia hà xứ hữu/ Mục đồng dao chỉ Hạnh Hoa thôn (Hỏi ở đây nơi nào có bán rượu/ Trẻ chăn trâu chỉ đến thôn Hạnh Hoa). Rượu ngon đã đành. Nhưng còn ngon hơn nữa khi nó gắn với một lai lịch văn hoá, một không gian văn hoá, một Thương hiệu văn hóa! Và Thế chợt thầm ao ước: chè Tà Sùa, chè Suối Giàng, cũng như bao thứ đặc sản vùng cao Tây Bắc sẽ phải được nhiều vùng miền, nhiều tầng lớp người biết đến, với sự ngây ngất về văn hoá như thế… Và nếu được vậy, cũng có nghĩa là sẽ góp phần bớt đi cái cảnh những phụ nữ vốn tươi thắm như đoá hoa rừng mới nở đã vội úa tàn trong công việc nặng nhọc, đời sống vất vưởng mà Thế đã từng thấy suốt tuổi trẻ của anh cho tới tận mùa xuân này, trên rẻo đất một vùng cao Tây Bắc…
15.
Sau khi hoàn thiện phần hậu kỳ bộ phim về Du lịch Sapa cho một Công ty du lịch, xem lại những cảnh quay riêng dành cho một phim tài liệu đặt tên tạm là “Bé Siu”, Thế bỗng nảy ra ý tưởng về một kịch bản điện ảnh nói về các trẻ em bán hàng rong Sapa. Những ấn tượng, cảm nghĩ, cùng các cảnh huống liên quan đến một cô bé người Mông chợt hiện về dồn dập trong tâm trí anh tựa những đoạn phim Âm bản quay chậm vốn chỉ dành cho người dựng phim:
Đêm thị trấn đã tới lúc tĩnh lặng. Những tiếng trao đổi khẽ khàng bằng tiếng Mông, tiếng Dao ở hành lang khách sạn hình như càng làm tăng thêm sự tĩnh lặng của cao nguyên. Khi những người bán hàng rong cuối cùng tìm chỗ ngủ qua đêm, cũng là lúc Thế chậm rãi tháo cục ắc quy vừa xạc xong, lắp vào máy quay DVCAM, bật chế độ quay hồng ngoại rồi bước ra ngoài cửa phòng khách sạn, thận trọng bước qua những người dân tộc ngồi nằm ngổn ngang. Anh tìm quanh quẩn một cách vô thức, mặc dù biết rõ không thể tìm thấy người mình muốn tìm ở quanh khách sạn này… Đường phố Sapa chìm trong thứ ánh sáng mờ ảo của đèn cao áp lẫn sương mù. Thỉnh thoảng có một hai khách du lịch trở về khách sạn, hoặc một đôi nam nữ Dao đỏ đứng tự tình bên gốc cây. Khí lạnh từ trên đỉnh Fanxipan tràn về thung lũng từng đợt. Thế hơi co ro, khép chặt lại cổ áo. Anh đi, lúc thì như người mộng du, lúc thì ra người như cố ý tìm kiếm một ai đó. Đã hơn hai ngày nay, cô bé ấy cố tình lẩn trốn anh… Sương trắng chơi vơi để lộ ra những vùng tối mịt hun hút như các lỗ đen trên thiên hà. Đêm nay cháu ở đâu, bé Siu?
Đây là lần thứ hai Thế có mặt ở Sapa để thực hiện một bộ phim làm theo hợp đồng về du lịch. Lần trước anh chúi mũi vào quay tư liệu, hỏi han, ghi chép. Anh không có phút rỗi rãi để thưởng thức cảnh đẹp, để thư giãn, nghỉ ngơi như mọi khách du lịch. Bù lại, anh được các ấn tượng mới mẻ tràn ngập. Anh vốn không lạ gì cuộc sống của người Mông, người Dao, người Thái vùng Tây Bắc – nơi anh từng gắn bó gần hết tuổi trẻ. Nhưng đây là cuộc sống đồng bào dân tộc ở một vùng du lịch nổi tiếng! Anh đã thu góp được những tư liệu xác thực, những hình ảnh đep, những ý tưởng lý thú cho một bộ phim mà anh tự an ủi: đây không chỉ là một bộ phim làm theo đơn đặt hàng, mà còn là một bộ phim của riêng anh. Và mặc dù chưa có dịp được làm khách du lịch Sapa nhưng anh sẽ là người hạnh phúc hơn tất cả những du khách của Sapa! Lần này, sau mấy tháng, trở lại Sapa để thu nhập những tư liệu hình ảnh còn thiếu, anh đã có đủ tự tin.
Nhưng Thế đã bị hụt hẫng, hoang mang, ngay khi xe hợp đồng du lịch anh đi nhờ dừng lại trước một khách sạn, chứ không phải ở bến xe khách như lần trước. Cả một đám đông bu lại quanh cửa xe. Lớp đầu tiên là những nhân viên nhà hàng khách sạn sấn xổ đưa card visit, lớp thứ hai là những phụ nữ dân tộc tay ôm những xấp vải thổ cẩm nặng trĩu chen chúc nhau, lớp thứ ba là những cô bé dân tộc cũng cầm đồ thổ cẩm đang đùn đẩy, giành giật nhau để tiếp cận đối tượng. Và giữa cái đám đông đủ lứa tuổi, đủ loại quần áo sắc tộc đang nháo nhác kêu gọi mời chào bằng tiếng dân tộc, tiếng Việt lơ lớ, tiếng Anh giả cầy lẫn tiếng Anh khá chuẩn kia, Thế phát hiện ra một cô bé khoảng bảy tuổi, cũng chính bởi sự rụt rè và bé bỏng của em. Em bị lọt thỏm giữa đám người đang sôi sục lên. Thoạt tiên, em có vẻ hoảng sợ. Nhưng sau đó, ánh mắt em ngời sáng một niềm quyết tâm cao độ. Em cũng cố chen chúc với đám con gái lớn tuổi hơn để có thể luồn sâu vào vòng trong. Nhưng rồi em bị gạt bắn ra phía ngoài cùng. Em đứng nhìn, mặt xịu xuống như vừa bị mắng oan.
Thế cố lách nhanh ra phía ngoài đám đông, tới gần em bé, không để ý tới những lời chèo kéo và những đồ vật nhiều màu đang bay lượn tứ phía… Đôi bàn tay còn thấp thoáng vết chàm xanh lét đang giữ chắc mấy sợi thổ cẩm và mấy vòng tay giả bạc hạ xuống trước bụng – nơi đeo lủng lẳng túi đựng đồ lép kẹp bằng vải chàm. Thấy anh đến gần, em bé thảng thốt trước dịp may, em giơ hai bàn tay cầm đồ lên, ngước đôi mắt cầu khẩn. Em làm điều đó như một thứ bản năng, một thói quen, và thốt lên một câu tiếng Anh ngọng nghịu chưa kịp trở thành thói quen: “Please”.
Thế kín đáo ra hiệu cho em bé đi theo mình ra chỗ khác. “Cháu mấy tuổi ?” – “Bảy tuổi”. “Cháu tên gì?” – “Siu” – “Nhà cháu ở đâu?” – “Xa lắm”… Cứ thế, em cộc lốc trả lời anh. Và tình bạn giữa Thế và em bé bắt đầu từ đó. Không hẳn vì anh đã mua cho em những hai sợi thổ cẩm để em buộc cả hai cổ tay hắn, hay vì mấy cái bánh mỳ ngọt bọc giấy bóng – suất ăn đêm trên toa tàu nằm Hà Nội – Lào Cai hôm trước mà anh tiện tay quơ theo để phòng bị… Có một cái gì đó thật dịu dàng ở Thế khiến em bé tin cậy. Anh những muốn kể cho em nghe chuyện những em bé dân tộc nhặt từng cánh hoa ban rụng đem về nấu cho cả nhà ăn ngày giáp hạt, chuyện những lán cỏ canh nương để mấy em bé chui ra chui vào như những con thú nhỏ, chuyện con gái anh đòi mua thêm một đôi giày để làm phong phú thêm cho bộ sưu tập giày dép tuy còn mới nhưng lạc mốt và anh đã chiếu lên cái đoạn băng về một lớp học vùng cao mùa rét trống huyếch cả tường lẫn mái, mười lăm bộ quần áo chàm phong phanh và mười lăm đôi bàn chân đất nứt nẻ…
Nhưng hẵng cứ từ từ, em bé còn chưa sõi tiếng phổ thông. Thật ra, anh cũng tỉnh táo đề phòng bởi một kinh nghiệm cay đắng của lần đi trước: anh đề nghị một cô bé gái trạc 13 tuổi thổi kèn lá đồng để anh quay phim, cô bé đã mặc cả thẳng thừng: “Xong rồi, ông mua cho tôi chứ?” Thế đã phải mua chiếc kèn lá đồng ấy với giá đắt gấp bốn lần trong chợ Sapa. Chưa hết, cô bé còn kỳ kèo đòi anh mua áo thổ cẩm, không được, đòi mua cho một gói kẹo bán dọc đường, thoả mãn rồi thì cười nhạo anh với câu chào điệu nghệ: “Good bye!”.
Nhưng với bé Siu, anh đã nhanh chóng hiểu rằng em chưa bị nhiễm thói “chợ búa” của những cô bé lớn tuổi hơn đã bắt đầu có sự táo tợn gần đến độ trâng tráo… Như một thứ giao ước ngầm, cứ chiều tối, anh lại ra phía nhà thờ để tìm gặp bé Siu. Mấy ngày qua, tình thân mật giữa Thế và bé Siu mỗi lúc một tăng thêm. Tới lúc, khi anh dắt em đến những gánh hàng hoa quả, bánh kẹo, em đã biết lắc đầu từ chối thứ này và chỉ tay vào thứ khác mà em thích. Em kể mỗi ngày em bán được trung bình mười lăm nghìn đồng, trừ đi bốn nghìn cho hai bữa cơm bụi. Anh đã quay chộp được quán cơm bụi dưới mức bình dân ấy. Nhờ giời, những người đàn bà và trẻ con bán rong may mắn có được một quán cơm của riêng mình, giá một suất chỉ bằng một phần tư lon Coca. Em cũng chỉ cho Thế chỗ em hay ngủ qua đêm: một cái hiên của chợ Sapa… Một lần, Thế bắt gặp em đứng lặng trước gian hàng đồ chơi gần nhà thờ. Những con rối, những con búp bê gỗ đủ hình dáng màu sắc làm em mê mẩn. Em ở cái tuổi mà trẻ gái bắt đầu thích chơi búp bê hơn mọi thứ đồ chơi khác! Ống kính máy quay của anh di chuyển tới gần và đột ngột xoay trực diện mặt em, em mới giật mình. Rồi cười ngượng nghịu. Thế giơ con búp bê kiểu Matriốtka lên, mở bụng từng lớp ra. Em cười tít mắt. Nhưng khi anh dúi vào tay em: “Chú mua cho cháu đấy”, thì em rụt tay lại tựa phải bỏng. Thế ngạc nhiên “Sao vậy?” Em chỉ bặm môi lại. Gặng hỏi mấy lần, em mới thốt lên vẻ hốt hoảng: “Đắt lắm đấy”. Thế chợt vỡ lẽ. Hẳn không ít lần, giống như nhiều trẻ gái ở Sapa, quên hẳn mớ hàng đồ chơi thủ công rẻ tiền mình đang có, em đứng trước gian hàng búp bê công nghiệp sang trọng để mơ ước… Sáng nay, trên khu du lịch Hàm Rồng, Thế đến gần một chiếc đu xinh xắn, trẻ con du lịch đang tươi cười ngồi đu cho bố mẹ chúng chụp ảnh. Những chiếc đu ở một nơi đẹp như chốn bồng lai kia đâu đã phải để dành cho những cô bé cậu bé như em! Đôi chân anh lê từng bước trên hàng trăm bậc đá diễm lệ. Lần trước tới đây, Thế đã mê mải quay những giọt sương sớm đọng trên lá sa mu, trên những cánh hoa lan, hoa sương rồng và liên tưởng chúng với một truyền thuyết vùng cao Sapa. Bộ phim du lịch của anh không thiếu những chi tiết long lanh quyến rũ như thế… Anh đã thoáng hy vọng nhìn thấy bé Siu đi cùng những người dân tộc ôm đồ thổ cẩm trong dòng người hớn hở kia. Thỉnh thoảng cũng có vài em bé gái dân tộc cỡ tuổi Siu hoặc nhỏ hơn, nhưng là đi theo mẹ để tập dượt cái công cuộc thuyết phục túi tiền của khách du lịch!… Chính lúc đó, lòng anh trĩu xuống trong một nỗi ân hận. Quả là có đôi lần anh phản ứng bực dọc vô lý với bé Siu. Đang đi với Thế, nhìn thấy một khách du lịch sang trọng, nhất là khách Tây thì em bỏ anh, chạy vụt đến, cố nở một nụ cười dễ thương, bập bẹ vài câu tiếng Anh học lỏm, giơ đồ lưu niệm lên một cách kiên nhẫn. Mặt Thế sa sầm, anh hùng hổ bước tới kéo tay em đi, trước những con mắt ngạc nhiên. Em chống cự một cách yếu ớt rồi lại cun cút đi theo anh. Nhưng anh đã làm gì vậy? Anh có quyền gì? Anh bực bội với chính mình… Vài lần anh đi qua cái Gallery ở phố chính, nhìn vào ngắm những bức tranh, cái thì siêu thực lập thể, cái thì ra mặt “sú-vơ-nia”. Có mấy bức chân dung sơn mài, sơn dầu loại chân chỉ dễ nhìn, vẽ những cô gái nhỏ. Thế có cảm tưởng anh họa sĩ trẻ này, con ông chủ Gallery Sapa đã chọn chính bé Siu làm mẫu. Đêm nay anh chợt nhớ đến một bức chân dung vẽ theo lối ấn tượng hậu hiện đại ở Gallery ấy. Gương mặt một cô bé dân tộc được tút-tát những mảng sơn dầu tối sẫm bằng những vệt panh-xô lớn. Loại tranh nào diễn tả đúng thực chất của bé Siu và chúng bạn của em đây ?… Anh cứ miên man với những ý nghĩ quái đản khi xục xạo vô vọng tìm kiếm ở khắp các hẻm tối, nơi có những người dân tộc đang ngủ li bì sau một ngày làm việc và hát hò… Anh chàng họa sĩ kia, nhờ khai thác mảng dân tộc độc đáo, tìm tòi bút pháp lạ, chịu khó vẽ lại có “đầu ra” tại một khu du lịch có tiếng, đã bán được khá nhiều tranh, lại được in vựng tập trong nước và nước ngoài, cũng đoạt vài giải thưởng mỹ thuật châu Á. Thực là một quy trình khép kín, đáng vì nể, đáng được giới nghệ sĩ, giới lý luận lẫn giới kinh doanh văn hóa nghệ thuật phải nghiên cứu học hỏi. Và nền văn hóa đặc sắc của họ cũng đã được trân trọng đưa vào các khu bảo tàng. Trên cổng trời Hàm Rồng Sapa chẳng đã có một khu bảo tàng văn hóa dân tộc như thế là gì! Thế chợt nảy ra một ước muốn: rồi đây, cả những hàng lưu niệm rẻ tiền và nhỏ xíu nọ cũng sẽ được bày trong một tủ kính sang trọng – như một vật chứng về cuộc vật lộn mưu sinh thấm mồ hôi nước mắt của những bé gái Sapa!
Chiều hôm đó, Thế đã thuyết phục được bé Siu đưa về thăm nhà em. Một chiếc xe Minkh chở hai chú cháu trên con đường lởm khởm những đá cuội, đá núi dài gần chục cây số. Một bên là vực thẳm, một bên là núi đá dựng đứng. Tay lái của anh thanh niên người Mông thật cừ khôi, nhưng cũng khiến Thế nhiều lúc hoảng hồn. Tới một chỗ có hẻm xuống vực, anh xe ôm dừng lại, bảo sẽ đợi. Thế đi sau bé Siu, theo một lối mòn xói lở vì mưa lũ, đá ngổn ngang. Anh giơ máy quay để ghi lại lúc thì bước chân thoăn thoắt, lúc là cái dáng bé nhỏ giữa núi rừng. Đây là con đường em vẫn đi bộ để ra thị trấn Sapa từ lúc gà chưa gáy. Em đi về nhà mình như chim sổ lồng, không giống những lúc thẹn thò hay vờ bạo dạn trước những vị khách nước ngoài to vật như hòn núi. Sau những đoạn dốc toàn đá là đá, làng Mông hiện ra, và đến những đoạn ngập bùn, ngập phân trâu ngựa. Bé Siu có vẻ vui lắm, vì đã mấy hôm không về. Tiền đâu mà đi xe ôm và mua quà cho các em! Thế lặng đi trước sự hớn hở của bé Siu lúc chia quà cho hai đứa gái nhỏ lít nhít chạy theo chị và cho đứa em tí hỏn trên tay mẹ. Người mẹ trẻ cười với anh bằng khuôn mặt đã bắt đầu héo úa vì công việc nặng nhọc và sinh nở. Còn ông bố trò chuyện với anh bên bếp lửa phải nhờ đến bé Siu phiên dịch thêm. Ngôi nhà đơn sơ và ấm cúng của người Mông bỗng tràn ngập tình thương mến với cuộc trở về chốc lát của bé Siu! Dù chỉ có nửa giờ đồng hồ, mẹ em cũng không bỏ qua việc dạy dỗ con gái trở thành một phụ nữ Mông đích thực: chị đã bắt con phải luyện mấy đường thêu trên thổ cẩm… Tới giờ lên đường, người mẹ nhét thêm vào túi dết của con gái những hàng hoá nhỏ đủ một cơ số để bán trong vài ngày tới. Rồi anh và bé Siu lại vội vã ra đi. Anh nhìn lại ngôi nhà Mông truyền thống bằng tre nứa, chỉ có mái phibrô ximăng là hiện đại, và chúng kết hợp với nhau để tôn thêm cái nghèo của một gia đình đông con, sinh sống trông vào mấy mảnh ruộng bậc thang, vài nương ngô sắn cheo leo…
Tối mịt, Thế và bé Siu mới có mặt ở thị trấn. Không như mọi lần, em từ chối hoặc chạy trốn mỗi khi anh dắt tay em bước qua ngưỡng cửa nhà hàng, lần này em ngoan ngoãn theo anh vào ngồi ở một bàn ăn có thắp nến. Thế để em ngồi đối diện. Khách Tây, khách ta và các nhân viên phục vụ trố mắt lên nhìn. Em ngồi lúng túng, nhưng khi bắt đầu uống lon Coca bằng ống hút, em tự nhiên hơn. Em ăn một cách chăm chú, từ tốn, mút kỹ từng chân xương cá, ăn tới đâu gọn tới đó trên đĩa cho tới khi gần hết con cá sốt. Thế có dịp quan sát kỹ hơn đôi bàn tay nhỏ có những móng cáu bẩn, những vết nhuộm chàm như máu tụ sắp tan, mái tóc bết nhiều ngày không gội chải. Bỗng có tiếng huýt sáo, em quay ngoắt lại. Ngoài cửa là một tốp thiếu nữ dân tộc tuổi từ 13 đến 16 đứng nhìn vào chằm chằm, vẻ vừa chế giễu vừa đe dọa. Bé Siu xấu hổ, cúi gằm mặt. Bất giác, em vùng đứng dậy, chạy vọt ra ngoài, tay vẫn đang cầm lon Coca. Một đứa con gái ra dáng đàn chị nhất chìa tay ra, chủ động cầm lấy lon Coca dở, hớp một hơi rồi đưa cho những đứa trẻ khác chuyền tay nhau. Rồi nó ghé tai nói cái gì đó với bé Siu, vẻ rất bí mật. Sau đó, nó lôi bé Siu đi xềnh xệch. Em hốt hoảng nhìn Thế như cầu cứu. Anh chạy ra túm lấy bả vai bé Siu níu lại. Đứa con gái cầm túi xắc đỏ đập mạnh vào tay anh, rít lên: “Cái lão già này!” Thế bỗng nhận ra đứa con gái, còn nó thì nhận ra anh từ lúc nãy. Mấy lần anh đã ghi hình cái cảnh nó tuôn ra những câu tiếng Anh sành sỏi với khách du lịch, cứ thấy anh chĩa máy quay tới là nó quay lại gầm gừ. Mặc dù Thế chưa già chút nào, việc gọi anh là “lão già” là cách trả đũa thích đáng nhất chăng? Lúc này, không hiểu vì sợ hãi hay vì uy lực che chở của người chị cả trong đồng bọn mà bé Siu đã phục tùng vô điều kiện. Cả bọn dắt tay em chạy đi thật xa. Bé Siu quay lại một thoáng nhìn Thế lần cuối. Phải, đó là lần cuối cùng anh nhìn thấy bé Siu. Chắc hẳn em đã được một bài học vì sự “chơi trèo”, phản bội lại đồng bọn – mặc dù những đứa lớn tuổi hơn em vẫn có quyền đàng hoàng ngồi uống Coca cùng khách Tây, một khi được mời. Hình như có một thứ luật lệ bất thành văn nào đó giữa những đứa trẻ bán hàng rong ở Sapa, chúng có đẳng cấp, có quy định về sự bảo vệ lẫn nhau, và cả sự trùng phạt nữa.
Đã hai ngày và ba đêm, anh đi tìm bé Siu quanh nhà thờ, quanh các biệt thự nhiều dáng vẻ, quanh những con đường âm u rợp bóng cây ăn quả và hoa, hoặc những con đường tấp nập mua bán. Khi chỉ còn đôi ba người phụ nữ đân tộc đang cố gạ bán thêm chút hàng để sau đó ngủ vạ vật qua đêm, thì lúc này, em ở đâu, trong các góc chợ, các hành lang khách sạn, nhà hàng, hay bất kỳ một góc khuất nào có mái che?… Đêm tối Sapa được lấp đầy bởi tiếng khèn dìu dặt và tiếng hát thầm thì của nam nữ Mông, Xá Phó, Dao đỏ… Nỗi lo lắng của anh thì không gì lấp nổi. Em bé của anh đi đâu? Thế biết chắc là em chưa thể về nhà một khi túi đồ hàng chưa xẹp lại… Trước mặt anh, từ trong một khách sạn tối om chuệnh choạng bước ra một ông khách Tây ngà ngà say, có hai cô bé dân tộc trạc 15-16 tuổi, đứa dắt tay đứa kéo thắt lưng. Ông khách để chúng nhảy lên bá vai, ôm cổ, hôn chùn chụt. Những câu tiếng Anh xã giao trong khung cảnh ấy sao mà ngọt ngào đáng sợ khiến Thế rùng mình. Anh đi sau ba người suốt con đường vắng vẻ dài nửa cây số, máy quay cứ thế chạy trong một nỗi uất hận khó hiểu. Bé Siu của anh lẽ nào sẽ trở thành một thiếu nữ thớ lợ, thành thạo nghệ thật mơn trớn kẻ có tiền như thế kia?… Thế đi theo ba người qua sân vận động, rồi tiến đến phía nhà thờ. Bất chợt một cô bé quay ngoắt người lại, trừng mắt lên, nhe răng ra gào bằng tiếng dân tộc. Thật không may cho Thế, anh đã từng học được vài câu nguyền rủa độc địa nhất cũng như vài câu đân ca say đắm nhất của họ từ hơn hai chục năm trước ở vùng tự trị Thái – Mèo cũ! Anh sững lại như bị một cú giáng trúng đầu. Anh kiệt sức. Anh gượng quay trở về khách sạn. Máy quay đeo lủng lẳng trước ngực vẫn chạy, ở chế độ đen trắng, Thế không biết rằng anh đã vô tình tạo ra những hình thù kỳ dị của mặt đất lúc tối lúc sáng lắc lư theo bước chân, lối dẫn vào Thập điện Diêm phủ.
Anh ngồi phịch xuống ghế, tu hết một cốc nước lạnh. Đập vào mắt anh là mấy tờ bản thảo của mình phác những ý tưởng lời bình cho bộ phim tương lai. Anh thẫn thờ cầm lên một tờ, lướt nhìn như thể may ra anh sẽ tìm được một gợi ý nào chăng về chỗ ẩn náu của bé Siu.
… Có vị cao tăng Việt Nam trước khi lên đường thăm quan Tây Tạng đã tìm cách lên đỉnh Fanxipan lấy cho được một cây gậy trúc phất trần sống ở độ cao trên ba nghìn mét này làm vật cầu may, bùa hộ mệnh để đến với quê hương xa xôi của các vị Lạt Ma Tây Tạng và các vị Đại sư đã từng đi vào truyền thuyết về các khả năng kỳ diệu vô tận của con người. Phải chăng, không chỉ vị Đạo sư nọ mà mỗi chúng ta cũng có thể tìm thấy ở “mái nhà Việt Nam” kia hình bóng của Tây Tạng huyền bí?… Tu viện dòng Tâm Đan xây dựng dở tại ngoại vi thị trấn Sapa là một công trình kiến trúc đá đồ sộ nằm lẫn giữa sương mù và cây, đá. Chính sương mù đã tạo ra một thứ rêu phong đặc biệt màu đỏ tía trên những bức tường đá nham nhở, thứ rêu gắn với một truyền thuyết vùng cao về một mối tình đẹp nhưng dang dở… Bãi khắc đá cổ xưa với những dòng chữ lạ, những hình vẽ, những sơ đồ bí ẩn mà theo truyền thuyêt là văn tự hoặc giao ước của một nền văn minh cổ đại, từng làm bất kỳ du khách nào tới đây cũng phải ngẩn ngơ và ao ước được giải mã chúng...
Anh là một trong những người có ao ước như thế. Nhưng chính anh thì không giải mã được bản thân mình. Những bí ẩn của đêm Sapa cứ chập chờn trong óc, có lẽ còn khó giải mã hơn những hình thù kỳ lạ trên đá kia!… Sự tức giận và tuyệt vọng lúc nãy dần dần được thay thế bằng nỗi xót xa. Anh thấy cồn cào thương bé Siu. Một ý nghĩ chợt đến: anh sẽ thuyết phục chủ đầu tư để làm một phim du lịch dành riêng cho các em bé dân tộc ở ngay Sapa, giúp các em hiểu và tự hào với chính mảnh đất quê hương mình. Phải, anh sẽ kể cho các em nghe về những giọt lệ của nàng Tiên Đá nghe chàng Mây bày tỏ giấc mộng đẹp, nơi đất và trời gặp gỡ… Điều an ủi anh là, dù bé Siu có thuộc vào tầng lớp nghèo khổ nhất ở vùng đất du lịch này, em vẫn là một trong những cội nguồn tạo ra các truyền thuyết làm say lòng người trên vùng cao Sapa, như từ hàng trăm, hàng ngàn năm nay… Thế bất giác nhìn xuống hai cổ tay mình. Hai sợi thổ cẩm do chính tay bé Siu buộc. Với anh, giờ đây cái vật chứng thương mại này đã được hoàn lại ý nghĩa nguyên thủy: đó là biểu tượng cho sự cầu may, chúc phúc, theo đúng một phong tục đáng yêu của đồng bào miền núi… Thế nảy ra quyết định sẽ kể lại câu chuyện này cho con gái mình nghe. Và anh bất giác gọi thầm: “Siu ơi! Giờ này cháu đang ở đâu?”.
16.
Sau đợt làm phim ở Sapa khoảng hai tháng, Thế nhận được thư của cậu học trò cũ Lò Mai Cư, Phó Ban di dân tái định cư lòng hồ sông Đà mời anh lên dự Lễ khánh thành một hạng mục của công trình thủy điện lớn nhất Việt Nam và Đông Nam Á tại huyện Mường La, Sơn La.
Thế nhảy xe đò lên ngay, tới một đại công trường thuỷ điện đang trong giai đoạn thi công ban đầu mà đã làm khuấy động cả một góc núi rừng Tây Bắc hùng vĩ. Những con đường bạt núi mới mở tung bụi mịt mù dưới bánh xe của hàng đoàn xe cẩu, xe ben, xe côngtennơ, xe tải, xe khách, xe con… Giữa lòng một thung lũng rộng nằm trong một thung lũng lớn mang tên Thái đặc thù Ít-Ong, những nền móng đầu tiên của các cửa đập thuỷ điện khổng lồ đang hình thành. Những dàn giáo đồ sộ. Những bức tường bê tông vật vưỡng. Những tiếng búa máy chói tai. Những ánh lửa hàn loé sáng… Tất cả đang từng ngày từng giờ thách thức cái nắng nóng ghê gớm lẫn những đợt mưa lũ cũng dữ dằn không kém của thiên nhiên Tây Bắc.
Trong buổi Lễ long trọng đó, Thế đã dặn trước học trò là không được giới thiệu anh là phóng viên của Đài Truyền hình TW, bởi anh tuy là nhà báo thuộc Đài song không có nhiệm vụ chính thức, không được Cơ quan giao bất cứ trách nhiệm truyền thông gì về sự kiện tầm thế kỷ này. Anh thật thà bảo Cư: “Thầy lên với tư cách cá nhân, muốn tìm hiểu thực tế về sự nghiệp giải phóng lòng hồ sông Đà để làm kịch bản điện ảnh, nhân thể quay tư liệu biết đâu sẽ có vài ba phóng sự truyền hình giúp cho Ban em” – Cư phản ứng luôn: “Ấy, tư liệu thầy quay thì thầy đừng dùng vội nhé… Sẽ có nhiều phức tạp lắm thầy” – “Ừ, thầy sẽ chỉ lưu giữ cá nhân để nghiên cứu thôi, và có thể chúng sẽ là tư liệu lịch sử quý của Tỉnh…”. Biết Thế có ý định tìm đến một vài địa điểm đã giải phóng lòng hồ, Cư bảo: “Em sẽ cho xe con của Ban đưa thầy đi bất cứ chỗ nào thầy muốn!” – “Không, thầy không muốn đi với quan chức – dù quan chức thân quen có thể chiều được nghề nghiệp của thầy là em… Thầy sẽ chủ động tự đi, thế nhé?”.
Rồi Thế đi xe ôm, xuống thuyền đuôi én của người Thái để ngược dòng lên phía thượng lưu của sông Đà. Dọc hai bên sông nằm trong diện ngập nước thuỷ điện, lại là một khung cảnh trái ngược hẳn với khung cảnh đại công trường. Nhiều mường bản Thái đen, Thái trắng, Kh’ mú, Xinh mun, Kháng, La ha… đã rời khỏi các bến sông quen thuộc tự bao đời để di vén lên cao hoặc tái định cư đến những vùng đất khác. Hàng chục cây số dọc bờ sông, cách đây không lâu từng là những khu dân cư trù phú tươi tốt, giờ đã trở thành hoang vắng tiêu điều dành cho lòng hồ thuỷ điện tương lai. Anh đã xin cập bến để vào một trong những bản như vậy. Những ngôi nhà sàn quen thuộc cũ kỹ với những chiếc khaucut nứt nẻ ẩn sau những rặng cây không còn nữa. Từ ngoài bản vào, lối đi không được ai chăm sóc đã trồi sụt, nứt nẻ, cỏ mọc rậm rì. Những cối giã gạo nước và cối giã gạo bằng chân bị bỏ hoang bắt đầu trở nên mốc thếch, sứt sẹo đang chỏng trơ. Lò gốm cũ đổ sạt một bên. Những gốc cây to bật rễ đổ nghiêng trên sườn đồi. Lòng suối đỏ màu đất của những trận lũ rừng. Đi sâu vào giữa bản, có thể nhận thấy vài túp lều dựng tạm ở bên cạnh những vật liệu ngổn ngang của mấy ngôi nhà sàn đã bị dỡ ra. Có ngôi nhà sàn đang tháo dở, chỉ còn một vách còn ba bên kia trống hoác. Thế bước tới một vài túp lều toang hoang dựng bằng nilông, ván, tôn lợp, tre nứa… cho thấy khá rõ những sinh hoạt tạm bợ ở bên trong. Có khoảng chừng sáu gia đình người Thái đen đang sống như vậy, bên những dấu tích còn lại của một bản Thái hoang tàn. Thế giơ máy quay ghi lại nhiều hình ảnh, và hỏi chuyện có thu âm mấy người đàn ông biết tiếng phổ thông, họ bảo đã đến chỗ tái định cư nửa năm nay, song không quen thổ ngơi, khí hậu, canh tác, nên lại kéo nhau về bản cũ sống tạm, để chờ đợi cái gì họ cũng không rõ… Những bức xúc, buồn phiền, bất mãn, khổ tâm, mong muốn vô vọng… của mấy người này đã thu vào ống kính nhà báo “bất đắc dĩ”. Thảo nào cậu Cư dặn dò mình cẩn thận vậy. Thế chào họ, rồi lại ra bến thuyền đợi để sang bản Thái khác…
Sau hơn một tuần lang thang trong các bản đã di dời như thế, anh đã quay tới 6 cuộn băng DVCAM, chụp 2 cuốn phim màu ORWO. Toàn bộ những cảnh quay, phim chụp của Thế chắc chắn sẽ chỉ để làm kỷ niệm riêng – đặc biệt trong giai đoạn ngổn ngang đầy khó khăn trắc trở của công trình thủy điện. Song những ấn tượng, những ghi chép của Thế lại rất có ý nghĩa đối với anh trong việc hình thành tác phẩm điện ảnh…
Nhưng cũng có một nơi đang chuẩn bị di dời, ống kính của Thế thu lại những cảnh huống có thể dùng được cho truyền thông… Sau những đoạn đường trường miền núi hiểm trở vượt qua gần hai chục khúc suối ngầm để tới trung tâm xã Cà Nàng, một thung lũng rộng rãi và quyến rũ hiện ra trước mắt anh. Cái nắng nóng tháng ba và gió Lào đặc trưng của Tây Bắc mà rõ nét nhất ở huyện Quỳnh Nhai đang tạo ra một không gian mờ ảo, ong ong, khiến những vệt ban rừng xa xa thêm thi vị… Đêm đầu tiên ở mường Thái Cà Nàng, sau khi nghe về những truyền thuyết từng được kể thâu đêm bên bếp lửa sàn, Thế đã hình dung ra cảnh một cô gái được người yêu dắt tay đưa về quê chồng tương lai. Họ đi từ bên Lai Châu sang đây, đi tới đâu, con suối Cà Nàng vươn chảy theo đến đấy… Thế đang mải thở để lấy lại hơi thì nghe thấy tiếng “khắp” Thái, những cánh ban rừng trắng muốt đương kỳ nở rộ cũng rưng rưng trước lời hát đượm buồn, ai oán: Xuân về, hoa ban lại nở, bản làng xinh tươi. Xin kể lại câu chuyện đau lòng trên núi. Có đôi vượn tình nhân bắt chấy cho nhau… Lời thơ kể lại câu chuyện bi thương về sự tích Đán Hau, đó là một bài “Xiết xương” của thơ ca dân gian Thái dành cho tình yêu: con vượn đực bắt chấy cho con vượn cái, chúng bị sét đánh hóa thành núi Đán Hau (Đá Chấy) sừng sững, như một minh chứng cảm động cho sự chung tình đáng yêu và cũng tạc giữa đất trời sự phản kháng bất công, thói vô tình và bất nhẫn! Làm chứng và phụ họa thêm cho câu chuyện tình ấy tình cờ lại là hoa ban – nguồn cảm hứng nghệ thuật dân gian chưa hề vơi cạn về một mối tình bất hạnh, lúc đó đang tràn ngập núi rừng Cà Nàng.
Từ trên sườn núi mà nay mai nước hồ Thuỷ điện Sơn La sẽ ngập tới, Thế nhìn xuống dòng suối Cà Nàng mùa khô lổn nhổn đá. Đây là con suối có loại đá dùng làm đá mài nổi tiếng khắp Tây Bắc. Từ mấy tháng nay, khi được biết suối Cà Nàng sẽ không còn nữa, nhiều người Mông từ Than Uyên, Tủa Chùa, Sìn Hồ… sang đây chở đá mài đi không biết bao nhiêu ngựa thồ. Từ trung tâm xã, cũng là trung tâm bản Cà Nàng, suối Cà Nàng chảy một đoạn ngắn nữa thì ra tới vùng thượng lưu sông Đà…
Trong khi ráo riết chuẩn bị ra đi, tìm hiểu nơi sắp đến, trong khi tâm tư đang trĩu nặng bao điều luyến tiếc, người Cà Nàng vẫn bình thản làm công việc hàng ngày của mình. Vẫn tưới đều đặn những chậu hành mơn mởn trên chái sàn. Vẫn chăm chút từng chiếc cúc mắc pém trên áo cóm và từng chiếc khăn màu để biểu diễn một tiết mục văn nghệ dành cho khách phương xa. Vẫn tranh thủ đi rừng hái bon van (rau bon) nấu canh, lượm vài lá lịn ma (lưỡi chó) ăn với măng đắng thêm ngọt. Vẫn vớt rong sông Đà rêu suối Cà Nàng nấu canh kho cá. Vẫn là lời “khắp” da diết ân tình bên mâm cơm đãi khách: À… ới…. ì…. Rượu này là rượu tình rượu nghĩa, không phải là rượu phản rượu thù. Dù bữa ăn chỉ có củ mài, măng đắng, hãy coi như cơm trắng, cá thịt… Dù có ăn hay không ăn cũng đừng nên ghét bỏ, oán trách… Nỗi xao động thầm kín khi sắp phải giã biệt nơi cắt rốn chôn nhau chỉ hé lộ đôi chút trong cuộc biểu diễn văn nghệ và sau đó là cuộc xoè vòng tiễn đưa…
Biết Thế mang theo máy quay, chị Chi hội trưởng phụ nữ bản đề nghị anh quay giúp các đội văn nghệ bản Cà Nàng một băng kỷ niệm khi biểu diễn lần cuối cùng tại trụ sở Uỷ ban xã cho khách quý xem. Và khi được biết rằng, rồi đây các đội văn nghệ bản Cà Nàng sẽ “tan đàn xẻ nghé”, mặc dù âm thanh từ băng cattset làm nhạc nền lạo xạo đến chối tai, anh vẫn thấy những tiết mục múa hát kia sao mà rung cảm đến thế! 5 đội văn nghệ bản Cà Nàng (trong số 8 đội văn nghệ toàn xã) chuẩn bị kỹ lưỡng đến cả giờ đồng hồ chỉ để biểu diễn mỗi đội một tiết mục chọn lọc. Hai đội văn nghệ phụ nữ bản (mỗi đội 8 người), và một đội văn nghệ Đoàn thanh niên 15 người gồm các thanh nữ chưa chồng. Thế mê mải quay từng động tác múa khăn, múa nón, múa chuông độc đáo của người Quỳnh Nhai, cũng như đã say sưa ghi lại tất cả những gì đang hiện hữu mà anh có dịp thấy trên đất Cà Nàng sắp chìm trong hàng chục mét nước lạnh: cây dừa trĩu quả, mảnh vườn xinh xắn, con mương óng ả… – đặc biệt là cây đa nghìn tuổi và đôi kỳ đà lớn bằng đá cùng ngẫu tượng phồn thực (giống linga trong tháp Chiêm Thành) tạo từ nhũ đá ở trong hang Đán Té – tất cả nay mai sẽ vĩnh viễn sống với các loài thuỷ sinh lòng hồ thuỷ điện… Có hiểu người dân tộc Tây Bắc vốn yêu quý ngôi nhà và mảnh vườn thân thương của mình đến mức nào, mới càng hiểu và trân trọng sự chấp nhận, sự hy sinh của họ khi tình nguyện rời xa tất cả để làm lại cuộc sống nơi vùng đất mới – vùng đất sẽ có hương cỏ mật lẫn cả sự gian khổ chồng chất trong buổi đầu lập nghiệp… Bà Lò Thị Ơi, một trong ba mẹ trên dưới 70 tuổi của đội văn nghệ già – người đã kể cho Thế nghe những sự tích ở Cà Nàng tâm sự với Thế: “Êm (mẹ) chẳng muốn rời bản đi đâu, nhưng con cháu và cán bộ bảo có lý thì nghe theo thôi… Nhà sàn được mang đi theo là tốt rồi…”
Những cảnh quay Thế ưng nhất là về các thiếu nữ Cà Nàng ra sông Đà làm lễ “Lúng ta” lần cuối…[80] Lễ “Lúng ta” đặc biệt này không diễn ra vào đúng ngày 30 Tết, các nghi lễ cổ truyền giảm thiểu tối đa… Lúc mặt trời lên khỏi ngọn núi và ánh sáng chan hòa mặt sông, một đoàn thiếu nữ hơn chục người bước đi giữa tiếng trống chiêng đàn tính, mỗi người ôm một ống bương nước, họ đã cởi bỏ váy, áo cóm từ nhà để đồng phục bằng chiếc váy đen dài chùm từ ngực thắt lụa xanh; họ bước đi hàng dọc uyển chuyển, rồi mau chóng xếp thành một hàng dọc trên bến sông. Trước mặt mỗi cô gái có một chậu nước thơm được pha với nước giếng lấy từ giếng trời ở miếu tượng trưng của xã làm theo miếu Nàng Han ở trung tâm Huyện cách 7 cây số. Các thiếu nữ lưng quay ra sông, mặt hướng vào bờ, buông tóc sải mượt chờ thầy mo của bản làm phép. Thầy mo bắt đầu ngẩng mặt lên trời cầu xin thần Sông, thần Núi, thần Thổ địa cho phép các thiếu nữ – những đệ tử của Nàng Han được gội đầu, tắm gột sạch sẽ hôm nay không phải để đón chào năm mới mà để giã biệt bến sông, mường bản cho lòng hồ Thủy điện…. Sau đó, thầy mo lần lượt đi dọc theo hàng vẩy nước thơm trừ tà, tẩy uế cho từng cô, khi vẩy đến người cuối cùng ông sẽ vứt cành lá xanh xuống sông thật mạnh như để dòng nước mang cái xấu đi. Trước đây, thầy mo khi đọc chú và làm phép xong thì sẽ bắn ba phát súng kíp cho lễ gội đầu bắt đầu, nhưng mấy năm qua không được sử dụng súng nên thay bằng 3 tiếng trống. Rồi một phụ nữ trung tuổi làm việc lĩnh xướng, hô to để tất cả đội cùng nhúng tóc xuống chậu nước thơm, gội đầu. Người lĩnh xướng tiếp tục hô để các cô ngẩng đầu hất tóc ra phía sau rồi quay mặt về sông và di chuyển xuống nước đến đầu gối thì dừng lại để cùng nhau xả tóc, suôn tóc cho mượt, sau đó như có hẹn cùng cúi xuống cho tóc chìm hết trong nước… Khi khẩu lệnh hô: “một, hai, ba”, tất cả các cô cùng ngẩng đầu vung hất mái tóc ra phía sau. Ống kính của Thế mê mải trước sáu lần các vòng nước tựa cầu vồng lấp lóa ánh nắng hòa với các sợi tơ vàng óng ả bay lên không trung…Trong nghi lễ này, thiếu nữ nào có mái tóc dài, vung vòng nước đẹp nhất sẽ được già làng, trưởng tộc tặng quà là những chiếc lược hoặc một vật nào đó mang ý nghĩa của ngày xuân, nhằm khích lệ họ nuôi giữ mái tóc dài như biểu trưng rõ ràng nhất về sự thắm thiết dịu hiền của người con gái Thái… Những vòng nước – mái tóc dài như đang trải niềm vui sống và tình yêu tuổi trẻ giữa bầu trời dòng sông, song tác giả của chúng lại rưng lệ trong những cặp mắt sáng long lanh, không có tiếng reo vui hân hoan như mọi lần, chắc bởi các nữ thần hậu duệ của Nàng Han đương thầm thì hát bài ca giã biệt buồn… Ống kính của Thế đã vào được cận cảnh một cặp mắt ấy – cô gái Bạc Thị On chưa tròn 20 tuổi. Trong đội làm Lễ gội đầu có vài cô từng múa hát cho Thế quay phim chụp ảnh, và anh đã có nói chuyện với cô On sau buổi trình diễn. On đang yêu một chàng trai khác bản. On đã nhiều lần đưa người yêu đi thăm các hang động kỳ ảo ở bản cô, từng hát cho anh ta nghe bài hát về sự tích Đán Hau – như bà nội cô từng hát cho người tình năm xưa… Lễ cưới của On đã được ấn định, lẽ ra người yêu cô đã đến ở rể tại nhà cô từ đầu năm theo tục lệ. Nhưng trước sự kiện giải phóng lòng hồ, lễ cưới của họ hoãn lại tới khi ổn định bản mới. Trên bến sông lúc đó có cả mẹ Lò Thị Ơi, mẹ đã khóc như hầu hết những người có mặt trên bến sông hôm ấy… Đời mẹ không đếm xuể bao lượt thả mái tóc dài óng ả như rong trên sông Đà. Mái tóc và lời “khắp” từng làm mê mẩn nhiều chàng trai dũng cảm chống sào vượt thác ở dòng sông hung dữ. Những câu chuyện tình và những lời hát giao duyên mẹ truyền lại cho con gái, sau đó là cho cô cháu nội xinh đẹp Bạc Thị On… Trên vùng đất giữa đi và ở này, nụ cười và giọt nước mắt đều đáng yêu, đều làm cảm động tận đáy lòng người! Những cuộn nước tung lên. Những tấm lưng trong trắng như ngọc ngà ngẩng lên cúi xuống mặt sông. Những chiếc khăn màu phấp phới. Những bàn tay rung chuông khéo léo. Những nếp váy cuộn sóng. Những cổ áo cóm tựa cánh én bay liệng… Cà Nàng giống như người phụ nữ vào độ chín rực rỡ nhất đang thì thầm lời giã biệt… Giã biệt bản mường thương khó. Giã biệt gốc ban già cô đơn trong nắng mưa. Giã biệt nếp sàn ám khói ấm nồng kỷ niệm. Giã biệt tuổi thơ nghèo bình lặng. Giã biệt rừng ma với nhà mồ cũ, mới. Giã biệt cảnh phá rừng đốt nương. Giã biệt những ngày xa xưa đào củ mài trộn măng đắng thay cơm, chặn bờ bắt cá suối lấy lòng ruột ăn còn thân cá đem mường xa đổi thóc gạo. Giã biệt những giọt nước mắt của em gái Thái tạm biệt đoạn sông tuổi thơ… Trên đường rời xa Cà Nàng, trong tâm trí Thế cứ ngân nga mãi những lời giã biệt của người Cà Nàng… Ngay trong lúc dán mắt vào vi-dơ để ghi lại những bước xòe Thái duyên dáng, Thế đã nảy ra ý tưởng cho một bộ phim tài liệu mang tên: “Giã biệt bản mường thương khó”, bộ phim chắc chắn sẽ làm chàng Phó trưởng Ban di dân tái định cư phải “tâm phục khẩu phục” – không phải vì Thế là thầy cũ của anh ta…
[74] Ý thơ Nguyễn Trãi.
[75] Hoàng Quốc Hải: “Lệ Chi Viên! Lệ Chi Viên!” (Những dấu chân, những nẻo đường – Nxb Phụ nữ, Hà Nội, 2005)
[76] Lê Thước – Trương Chính (Tập san Văn Sử Địa số 24, tháng 1/1957).
[77] Kỷ yếu Hội thảo: “Lễ nghi học sĩ Nguyễn Thị Lộ với thảm án Lệ Chi Viên”, Nxb Văn hóa Thông tin, 2004.
[78] Lệ Chi Viên đã được UBND tỉnh Bắc Ninh cấp bằng di tích lịch sử ngày 12-8-2010.
[79] Yveline Féray, tác giả tiểu lịch sử về Nguyễn Trãi: Dix mille Printemps (Vạn Xuân).
[80] Nghi lễ này gắn với câu chuyện về Nàng Han giả trai chỉ huy quân sỹ đánh thắng kẻ thù và trở về bản đúng vào ngày 30 Tết. Nàng cùng quân sỹ và các thiếu nữ đến mạch nước thiêng đầu bản lấy nước gội đầu, tắm gột, xua đuổi những điều không may mắn, chuẩn bị đón một mùa xuân mới.