Mai An Nguyễn Anh Tuấn
17.
Biết ông thầy sẽ quyết giữ kín những tư liệu phim chưa/ không có lợi cho Sự nghiệp của Ban như lời hứa, Lò Mai Cư vui lắm, và vui hơn nữa bởi những gì thầy kể lại về mường Thái bên Quỳnh Nhai đang chuẩn bị di dời, nhất là những giọt nước mắt của bao người phụ nữ già trẻ bên một đoạn sông Đà sẽ vĩnh viễn biến mất để làm lễ “Lung ta” lần cuối, “nếu được dựng lại sẽ là một trường đoạn phim xúc động nhất trong điện ảnh xưa nay” – Thế tự tin khẳng định… Trong bữa rượu cá nhân chiêu đãi thầy cũ “chúc mừng đợt công tác thành công”, Cư đã kể cho Thế nghe mấy chủ trương mới do Cư đề xuất, đặc biệt là chủ trương: “Dân yêu cầu làm mới thì xây, nếu dân tự tháo dỡ nhà cũ và vận chuyển đến nơi ở mới thì hỗ trợ tiền di rời, tiền bổ sung vật liệu để hoàn thiện nhà mới. Mỗi hộ tự tháo nhà di rời sẽ hỗ trợ thêm 50 triệu đồng để đầu tư sản xuất, ổn định đời sống…”. Thế trầm ngâm: “Vậy là Ban di dân tái định cư đã thấu hiểu nguyện vọng của đồng bào. Giá như chủ trương này có sớm hơn, sẽ đỡ khổ nhiều cho cả người đã đi lẫn người còn ở lại…”. Rồi Cư kể cho thầy cũ nghe một câu chuyện khá ly kỳ trong công việc gian nan suýt thì đổ máu người, có liên quan đến tính mạng của anh ta; câu chuyện có thực này được thông qua trí tưởng tượng và trải nghiệm của “nhà báo bất đắc dĩ” – “nhà điện ảnh ẩn dật” suốt hai tuần qua trên vùng lòng hồ, đặc biệt là có liên quan đến tác phẩm sưu tầm dịch thuật tác phẩm Thái cổ “Mo Khuôn” (Mo hồn) do nhà văn lão bản Vương Trung tặng cho đàn em năm nào đã kịp ngấm vào Thế:
Hai giờ chiều, để thực thi một nhiệm vụ tối đặc biệt, Cư bỏ xe con công vụ, một mình nhảy xe ôm đi một chặng đường dài, rồi xuống đò tới một trong những bản cuối cùng còn vướng mắc giải tỏa: bản Púng Lầm.
Cư lên một con thuyền đuôi én sứt sẹo vượt sóng về phía thượng nguồn. Những bản hai bên sông từng là khu dân cư trù phú, giờ đã hoang vu, từ ngoài bến vào các bản, thỉnh thoảng có vài ba con khỉ rừng thập thò trong các mảnh vườn lút cỏ, bên những túp lều dựng tạm… Có người quay về chỉ để thu hoạch nốt vườn tược nương rẫy, có người khăn gói quay lại hẳn bản cũ. Và cũng có người quyết không đi đâu cả! Tại đây, theo một nguồn tin, các gia đình cố thủ còn dấu hai khẩu súng kíp, họ tung lên “tai rừng” những tuyên bố đáng sợ! Ba lần cán bộ của Ban đã tới thuyết phục, rồi đều phải quay về, lắc đầu. Một cuộc họp liên tịch căng thẳng. Cưỡng chế! Cư như bị á khẩu. Kinh hoàng. Sao cứ phải gạch vỡ, nhà cháy, máu đổ?!… Nhưng tình hình quá nghiêm trọng, lại trước một tập thể “cây đa cây đề”, Cư tạm bó tay. Trước đó, Cư và một số người trẻ trong Ban đã không chỉ làm “Dân vận” mà còn phải làm “Quan vận” nữa! Chính anh là người kiến nghị để đồng bào được di chuyển ngôi sàn đến nơi tái định cư, phù hợp với nguyện vọng, tập quán. Và không chỉ một lần, Cư xin trực tiếp đến ăn ngủ tại những gia đình chây lỳ, khiến vợ anh phải bồn chồn lo lắng cả đêm. Nhưng lần này…
Vợ Cư, một cô giáo người Thái dạy phổ thông trung học là người đầu tiên được anh tâm sự về các diễn biến trong và sau cuộc họp (Dĩ nhiên là không có chuyện hai khẩu súng kíp!). Cư đã gặp trưởng Ban xin được giải quyết êm thấm vụ này. Ông chỉ tay lên trên. Cư đã phải gõ vài cửa, bằng sự nhẫn nại mà không hiểu vì sao anh có được, cùng những lời hứa như đinh đóng cột. Anh được toại nguyện, kèm sự ái ngại không dấu diếm của những người “ra ơn lần cuối” cho anh… Trước khi đi, thấy vợ lúi húi nhét ếp-khẩu[81] còn lựng thơm nếp nương vào cặp, Cư xua tay: “Khỏi cần. Vào bản Thái mà!”. Chị cứ cài lại chiếc cặp căng phồng. Cư với túi thổ cẩm đang treo góc nhà, phủi bụi, rồi lấy ếp-khẩu, tập sách truyện, cuốn sổ tay, chiếc đèn pin và con dao găm từ cặp chuyển vào túi. Nghĩ sao, anh bỏ cuốn sách và con dao ra. Chị lặng đi nhìn anh, không dấu được nỗi thảng thốt trong đáy mắt: “Anh thận trọng nhé… Người bản ấy có súng”. Anh nói như quát: “Ai bảo em thế?”.
Lúc này, bên những vết tích còn lại của bản Thái hoang tàn, Cư có cảm tưởng lạc vào nơi từng ghi dấu sự tích kể về cô gái con tạo bản đã héo hon mà chết vì mong nhớ người yêu; nhưng mọi người không sao đem nổi xác nàng ra khỏi nhà, bởi hồn nàng quyết không chịu rời đi. Bản bị hồn ma ám, không ai dám ở. Còn chàng trai nghèo thất tình, khi trở về đã ôm ấp nàng suốt bảy ngày đêm mà không biết đó là thi thể giá lạnh, giữa cái bản vắng tanh… Cư sinh ra, lớn lên ở phố núi, học chuyên nghiệp xong vào cơ quan Nhà nước, phải tới đận làm công tác di dân, anh mới thực sự được sống với vui buồn của người dân bản. Lần đầu tiên anh mới có dịp thấm hiểu nỗi day dứt nhớ thương đàn gia súc mà người phụ nữ vẫn hàng ngày chăm sóc, giờ phải chia xa: Ở lại nhé, đàn vịt nhỏ thường đẻ trứng/ Đàn gà nhỏ thường gáy của ta ơi!/ Chiều chiều ta không còn được nắm gạo xuống chăm[82]… Cũng lần đầu tiên, khi tận mắt chứng kiến cảnh phụ nữ già trẻ của một bản đều khóc ở lễ Lúng ta (Gội đầu) lần cuối bên đoạn sông sẽ biến mất, Cư mới được cảm nhận bằng trực giác thế nào sự gắn bó của con người với quê hương, xứ sở…
Một người đàn bà địu ngô từ nương bên kia sông về bản. Trò chuyện đôi câu với chị, Cư vỡ lẽ, vì sao thầy dạy văn cũ của anh, một nhà báo trung ương, tháng trước đã từ chối đề nghị của trò cũ đang là một quan chức, không muốn đi cùng anh bằng phương tiện của Ban để tới các địa điểm giải phóng lòng hồ. Ông vác máy quay đi một mình, lang thang nhiều ngày qua các làng bản đã hay sắp di dời, ghi lại tâm tư của người dân. Chết thôi, phải lập tức đề nghị ông giữ kín những tư liệu đó, để khi thành công thủy điện công bố cũng chưa muộn. Nhưng chắc mình lo xa quá. Đúng là “cầm đèn chạy trước ô tô”! Cư mỉm cười tự diễu. Song ngay lập tức, một nỗi lo sợ bủa vây anh. Một nòng súng đang bí mật theo dõi mọi hành tung của anh, chỉ đợi chút gì thất thố hay bất cẩn là sẽ tóe lửa. Rồi sau đó có thể là một, hai ngôi nhà bốc cháy đùng đùng. Gai ốc bỗng nổi lên. Cư đứng lặng, hít một hơi thở thật sâu tự trấn tĩnh. Khi đã bớt hoảng loạn, lòng thương vợ con chợt len lỏi tận ti vi huyết quản. Tay anh bất giác sờ lên chiếc ếp-khẩu, dường để tìm một chỗ dựa cần thiết. Giọt lệ giấu vội của vợ lúc quay ngoắt đi chập chờn ẩn hiện. Lúc này, chắc cô ấy đang lo lắng đến tê dại. Anh chợt ân hận đã nói như quát khi tạm biệt. Lần này, đâu phải như mọi lần… Nếu một cô gái gia đình cán bộ quen sống từ bé ở đô thị, phải sống trong cảnh sắp rời bỏ ngôi nhà sàn như người con gái của Xống chụ son sao: “Ở lại nhé, nái lợn đen ở gầm sàn/ Chiều chiều ta không được xách đậu cám xuống cho ăn”, thì cô ấy sẽ nghĩ gì? Cư tỉnh táo trở lại. Đồng thời, một niềm rưng rưng chợt dấy lên… Cư chưa được biết những tư liệu chủ yếu của thầy giáo cũ có những gì, nhưng anh đã xem gần hết tư liệu dành cho phóng sự Giã biệt Cà Nàng, ở đó anh đồng cảm với tình thương, sự mến phục nghẹn ngào của ông trước sự hy sinh cho nghĩa cả của đồng bào.
Mặt trời vừa lặn sau dãy núi bên kia sông. Núi liền sẫm đen lại hung dữ. Sương mù ập xuống. Bên này sông, bản cũ hoang vu càng thêm lạnh lẽo trong màn sáng lem nhem, mờ ảo. Cư đã quay lại bến sông, kịp hỏi han ghi chép thêm tin tức qua mấy đứa trẻ trai đang bơi lội, đùa nghịch. Một đứa tỏ ra biết kỹ: “Hai nhà bắc ván thông nhau. Cửa sổ có bao cát. Có cả súng kíp mua của người Mông tận Co Tòng cơ!”. “Thế các cháu không đi học à?”- Cư ngắt lời nó như thể xóa bỏ cái ấn tượng khó chịu bởi sự hồn nhiên của trẻ thơ trước tội ác chưa xảy ra. Hỏi xong mới thấy mình vô duyên. Trường nào ở chốn này! Chúng nhìn lạ lùng. “Chú là cán bộ di dân à? Không phải, vì không có cặp da!” – “Chú là ai thì cũng là khách của bản. Tập tục người Thái ta thế nào?”. Một đứa láu táu: “Chú vào nhà cháu, cháu mời chú uống nước… – Nó ngần ngừ – Nhà cháu mấy hôm nay ăn cháo ngô rồi… – Mắt nó sáng lên – Nhưng chú vào hai nhà ông Khem, ông Bình sẽ được mời cơm cá đấy! Họ trữ lương thực để ở lại bản thật lâu mà”. Cư bật hỏi: “Thế nếu nước hồ dâng lên thì sao nào?”. Đứa lớn nhất trạc tuổi con gái út anh, vẻ trịnh trọng: “Họ bảo không thèm di vén lên, mà chìm cùng nước!”. Một đứa đế thêm: “Nhưng không chết đuối bởi thuồng luồng đâu nhé! Tự giết cả nhà để nước làm mồ chôn”. Cư thoáng rùng mình. Sực nhớ, anh lấy ếp-khẩu xôi đưa cho lũ trẻ. Chúng rụt rè nhìn nhau. Chắc thấy anh khẩn khoản, đứa lớn nhất cầm lấy. Rồi chúng lại nhìn nhau vẻ nghi ngại. Cư mỉm cười: “Chú không đói”. Bọn trẻ liền xúm quanh đứa cầm ếp-khẩu, mắt hau háu chờ chia phần. Ánh sáng nhập nhoạng trên những gương mặt hốc hác, lam lũ trước tuổi vì đói ăn và những ngày tháng sống hoang dại. Cư chợt nhớ câu chuyện mẹ kể khiến anh thổn thức suốt thời thơ ấu: có một gia đình nghèo đông con, đúng năm hạn lớn, người mẹ kiệt sức. Người chồng sang nhà tạo bản vay được một nắm gạo, dành tới khuya nấu cháo cho vợ. Nhưng khi muôi bát lỡ chạm nhau, bọn trẻ đã vùng dậy. Hai vợ chồng nhường các con cả nồi cháo, rồi đành gạt nước mắt, bí mật đưa chúng vào rừng tự kiếm sống. Năm sau được mùa, họ vội vào rừng tìm các con. Nhưng, Cô chị cả đã hoá thành khỉ kêu/ Cô chị hai thành vượn hót mặt đỏ/ Còn thằng Căng và thằng Khằng đã thành con dím, con dũi đào đất làm ổ sâu…[83] Cư lặng lẽ rời bọn trẻ, đi sâu vào bản hoang, lòng xáo động bởi câu chuyện vừa sống dậy sau nhiều năm quên lãng… Nhưng chiếc túi thổ cẩm giờ nhẹ tênh, bước chân anh sao trĩu nặng. Anh có quyền quay trở về. Vẫn còn kịp. Không ai trách móc, phê bình hết. Thậm chí, có người sẽ vỗ tay hoan hỷ… Còn vợ anh thì sẽ chỉ cấu véo trách yêu vì đã để chị mất oan một đêm lo âu thót tim! Cái vụ này, quả là mình ăn gan Trời. Mặc dù vẫn lễ phép, nhẫn nhịn, song cái ý chí sắt đá của mình khi đề nghị bỏ cưỡng chế, đã khiến không ít vị chưng hửng, thậm chí kinh ngạc. Hôm đó, sao mình hăng thế. Còn thề thốt đủ thứ… Nhưng ai dám bảo là mình đã sợ hãi? Dớ dẩn! Cư lấy ra chiếc đèn pin, sốc lại chiếc túi thổ cẩm nhẹ hều trên vai, thầm tiếc đã bỏ cuốn sách và con dao ra. Thầy Thế trong một lần nói về kịch Sêkhôp với các học trò cũ yêu văn, có kể một nguyên lý kịch học: nếu có một khẩu súng treo ở đầu cảnh một, thì tới cảnh năm, nhất định nó phải nổ súng. Nhưng đó là kịch! Con dao sẽ chỉ cần thiết cho đúng khoảnh khắc này, chỉ giúp làm nặng thêm cái bờ vai không phải lúc nào cũng đủ tự tin như mình… Dớ dẩn nốt! Cư nảy cảm giác liều lĩnh, bất cần. Những ánh mắt thương hại, sự dè bỉu coi thường của mọi người trong Ban, kể cả của vợ con anh nữa, bỗng dưng khiến anh sôi tiết. Cư soi chúc đèn pin, khum bàn tay che bớt sáng, chậm rãi bước về phía hai ngôi nhà mà vài giờ trước anh quan sát được từ xa. Ve rừng bắt đầu nhưng nhức hòa âm giữa không gian đen kịt. Loài ve đã nhập vào các phi bản, phi mường (hồn ma) đây, định dọa ta chắc? Đừng có hòng! Nhưng một tiếng chim đêm cô độc cất lên khắc khoải khiến Cư chợt nao lòng, rã rời ý chí… Một bà mẹ đi đào củ mài, vì quá mệt và đói nên cắm đầu chết trong hố củ. Đứa con nhỏ ngồi chờ phía trên cứ gọi mãi, giục mãi mẹ về cho em bú, rồi nó biến thành con chim đêm. Có phải là loài chim này không? Đừng hủy hoại nốt lòng dũng cảm ta vừa vun lại được! Cư tắt đèn pin, nấp sau một gốc cây để lấy lại tinh thần, và để mắt quen với đêm tối, quan sát địa hình. Anh căng mắt nhìn ánh đèn dầu hắt qua các cửa sổ của hai ngôi nhà sàn truyền thống, trong đó một nhà từng được phá để di dời, rồi chính nó được dựng lại sát kề nhà hàng xóm thành thế liên kết, dù mong manh vẫn là đáng kể. Chúng xếp hàng ngang trước mắt, vì thế anh không thể nhìn thấy bốn cửa ra vào phía bốn đầu hồi, trong đó có một cửa bên quản, một cửa bên chan phải được nối với nhau bằng ván – nếu bọn trẻ nói đúng. Ở mấy cửa sổ, hình như nổi lên các bao cát để kê nòng súng, và để tránh đạn. Trẻ con không biết bịa! Chà! Thành một vế tục ngữ mới được đấy, kiểu như: “Trẻ con không biết mệt, con gái không biết đói”… Ờ, làm người ai mà chẳng biết đói, biết mệt! Nhưng ở các vùng quê nghèo quen tự cung tự cấp xưa nay, mối quan tâm hàng đầu là “khẩu đón, tón pa khao” (gạo trắng, miếng cá bạc), mà hoàn cảnh lại khắc nghiệt, thì vô tình phụ nữ và trẻ con bao giờ cũng phải chịu đựng, chịu thiệt thòi nhiều nhất… Mai về, đọc câu tục ngữ cổ này cho vợ nghe, xem gái Thái mang danh trí thức hiểu tới đâu? “Ngày mai” lập tức kéo anh một cách phũ phàng về đáy thực tại “Ngay lúc này”. Cư dụi mắt để có thể quan sát kỹ hơn hiện trạng “pháo-đài-nhà-sàn” chưa từng có ở vùng này, kể từ thời mưa máu chinh chiến vùng Thập châu. Ừ, mà sao mình lại có vẻ dấm dúi thế? Hãy làm khách đường hoàng. Chuyện gì xảy ra chưa biết, nhưng trước tiên hãy để họ có cơ hội thể hiện là người dân miền núi quý khách, trọng khách như luật tục bao đời. Cư bước tới giữa hai ngôi nhà, cất giọng nói to: “Có ai ở nhà không ạ?” Ánh sáng đèn dầu lay động. Tiếng giẫm sàn nứa cót két. Một tiếng nói trầm trầm tựa dưới Âm ty vọng ra từ mép cửa sổ: “Ai vậy?”. Nghe giọng đoán tuổi, Cư đáp: “Ải lung (bác, anh), em ở mường xa tới, xin miếng cơm ngụm nước!” – “Vậy à? Mời lên sàn” – “Lên thang nào đây ạ?” – “Nếu tự cho là khách quý, lên đằng quản!”.
May rồi, như thế là mình sẽ được tận mắt nhìn thấy tấm ván liên kết phòng thủ của hai nhà. Sẽ chủ động khi xảy ra sự cố. Và có dữ liệu cụ thể cho bản báo cáo… Cư bước tới giữa hai ngôi nhà, chậm rãi bước lên thang quản ngôi nhà bên phải, anh nhìn thấy một tấm ván lớn lao từ bên quản nhà này sang chan nhà hàng xóm một cách chắc chắn. Quả là một sự đoàn kết sống mái, không kém mọi cuộc uống tiết ăn thề!
Bữa cơm rượu đãi khách được bưng ra trên một mâm gỗ lên màu thời gian trộn bồ hóng. Dòng rượu táo mèo phản chiếu đèn dầu hỏa và lửa bếp sàn sóng sánh tựa mật ong. Chủ nhà không hỏi anh từ đâu đến, làm gì, ông chỉ lặng lẽ uống và nhiệt tình rót như lâu ngày mới có khách tới thăm. Ông hàng xóm cũng được mời sang ngồi mâm. Sau mấy chén, họ mới trò chuyện dè dặt. Khi biết chủ nhà vốn là một ông mo, Cư hơi nao núng. Trời ạ, thuyết phục sao nổi một người đang làm chủ văn hóa cả mường bản!… Ông kể, ông chia một nửa gia đình tới vùng tái định cư cách đây gần trăm cây số để thăm dò trước. Nhưng nơi đó quá lạnh, lại ở nhà làm toàn bằng bê tông nên càng lạnh, vườn tược không có. Gia đình được phân một lô chè và hai con bò sữa. Sau hơn nửa năm bỡ ngỡ trong lĩnh vực làm ăn hoàn toàn mới, lại chưa được hướng dẫn kỹ thuật đầy đủ, bò ốm chết, gạo tạm ứng hết sạch, đành phải kéo nhau về, kết với một gia đình cùng cảnh ngộ ăn thề trụ lại. Còn mấy gia đình khác cũng quay về, chấp nhận cảnh di vén theo mực nước, bất kể nơi đó có điện, nước, trạm xá, trường học hay không; nhưng họ không nằm trong diện bị cưỡng chế…
Khi chủ khách đã ngà ngà, ở buồng giữa chăng màn đen, lời “khắp” của một người đàn bà vọng ra: À…ới…ì… Rượu này là rượu tình rượu nghĩa, không phải là rượu phản rượu thù… Cư giật mình bay hết rượu. Câu hát có ẩn ý gì đây? Họ đoán được mục đích của mình? Không phải! Mình trở nên đa nghi, cảnh giác từ bao giờ vậy? Nhưng đó là bài hát đầu cuộc rượu, sao đến lúc này mới hát? Một đòn tâm lý thăm dò? Cư vội lắc đầu nhẹ để tự xóa bỏ cái ý nghĩ có phần thiếu lương thiện. Chính mình là kẻ đã đến đây trong tâm địa dò tìm địch thủ trước, trong khi lẽ ra phải là một người bạn chỉ mang tới điều họ hằng khao khát: tình và nghĩa. Việc họ phải trang bị cả súng cho việc cố thủ, có lẽ chỉ là một phản ứng tuyệt vọng, bị dồn tới cùng đường, sẵn sàng buông hết cho số mệnh…
Trong lúc Cư đang miên man với bao ý nghĩ dằng xé gay gắt, ông mo đã từ góc nhà quay lại, mang theo trên tay mấy cuốn vở học sinh. Ông hàng xóm cáo lỗi ra về. Lúc ông ta đứng lên chào, Cư có cảm giác hai người làm dấu hiệu gì đó với nhau. Những bao cát phía sau lưng Cư là đồng lõa nham hiểm, chúng lầm lỳ lắng nghe để giải mã lời chủ nhân:
– Về Mường Húa, tôi ghi lại được một bản chiêu hồn quý lắm nhé! Cậu thích nghe không?
– Em chưa được biết văn bản này của người Thái ta, nên chắc cái gì cũng lạ, cũng thích… – Cư hồi hộp, nghe rõ từng hơi thở của mình.
Thế là ông vừa đọc vừa hát bằng cái giọng khê nồng song truyền cảm, về hành trình chiêu hồn của một ông mo mường xưa từ các tầng của mường Trời tới nhiều nơi dưới trần gian… Đúng nghề đúng việc cũ, lại gặp người thích nghe, không coi lời Mo khuôn là vô bổ, nhàm chán, ông có thể hài lòng sống qua một đêm chờ đợi dường vô tận: Các trai và đoàn gái ta ơi/ Niết Bàn dù cao sang chớ ở/ Không cùng lứa đôi chớ nằm với nhau/ Ma chia ruộng cho chớ làm/ Ma chia rẫy chia nương chớ lấy/ Ma phần phai cho chớ ngăn…
Người dân ai cũng muốn phân biệt rõ hồn ma tốt hồn ma xấu để soi lại cõi đời mình; và người hướng đạo phần hồn – các ông mo, hơn ai hết phải nhận chân sự thật nhằm giúp cho hồn dù ở trên trời hay nơi hạ giới, cả người chốn dương gian tránh bớt rủi ro, bất hạnh… Đối tượng của Cư lâu nay chính là những con người vốn có mơ ước cuộc sống bình dị, như các hồn của “Mo Khuôn” kia đang dung dăng dung dẻ đi qua sướng khổ của kiếp người, kiếp ma, với niềm tin chất phác: những ai đã làm điều thiện khi sống, thì lúc chết, không trước rồi sau sẽ được hóa thành vì sao sáng; còn những kẻ làm trái đạo người sẽ bị Then Xội trừng trị, bị nhốt vào cõi u minh vĩnh viễn… Ở cảnh ngộ nào, họ cũng lạc quan: “Dù miếng ăn còn nắm đầy nắm vơi, nhưng lúa gạo ở dưới đất, thức ăn ở trong rừng…”. Nhưng anh và các cộng sự đã có đủ khả năng thuyết phục nổi những người đã mang nặng tâm lý bao đời: “Mười bản không bằng bản rụng rốn, mười mường chẳng bằng mường chôn nhau”?
Ngừng đọc một chút, ông cất giọng buồn hơn cả tiếng pí-thiu[84] đêm vắng:
– Cậu biết không, nhiều nơi đẹp đẽ hồn đi qua, và cả nơi sinh ra bản Mo hồn này cũng sẽ chìm mãi trong nước lạnh…
Cặp mắt mờ đục của ông ư ứ nước. Ý chí Cư bị quật ngã, anh nôn nao say sóng. Phải chăng, đây mới là nguồn cội chính của mọi việc?… Ông chủ nhà chợt cắt ngang tâm tư xáo trộn của Cư:
– Cậu nghe nữa không? Lúc nãy là hành trình mường Trời. Giờ mới là hành trình Hạ giới…
Cư gật đầu lia lịa.
– Vâng, vâng, ải lung chưa mệt thì em còn muốn nghe. Ít khi em có dịp…
Ông lại khề khà, nửa đọc cho người nửa cúng ma cho hồn với đầy đủ lễ vật, kèn pí-lao, đèn nến lung linh trước mặt một mo mường. Trong khi hồn được dẫn qua các địa danh cả xa lạ lẫn quen thuộc đối với Cư – Mường Khiêng, bản Hốc, đồng Pụa, Mường Bon, bản Mòn…, Cư chợt hình dung cảnh những con bò sữa đã biến thành bò rừng gầy guộc run rẩy, đi ngơ ngác giữa những ngôi nhà xây cứng đờ theo kiểu doanh trại, không hề có những mảnh vườn thân thiết với phụ nữ, trẻ em, những lô chè mướt xanh hóa lùm cây dại, cỏ hoang trùm lấn… Hiện trạng này thực ra cũng đã được khắc phục khá nhiều. Nhưng nơi đó còn biết bao gian nan đang đón đợi. Nhiều điểm tái định cư khác tuy có thuận lợi hơn, song chuyện xóa đói giảm nghèo thực sự, vẫn còn là nỗi đau đầu. Rồi những kẻ bất lương cấu kết với không ít cán bộ đã lưu manh hóa, tuồn hàng rởm, hàng Tàu kém chất lượng tràn ngập nhiều làng bản chưa kịp hồi sinh, nhẫn tâm vơ vét những đồng tiền ít ỏi được đền bù của dân, ăn chặn đồ viện trợ từ các tổ chức phi chính phủ, khiến đời sống của họ đã bấp bênh lại càng thêm cơ cực, khốn khó…
– Này, cán bộ!…
Tiếng của một người phụ nữ tựa tiếng thanh la xóc vào tai Cư. Anh choàng tỉnh.
Chị tuổi ngoài năm mươi, dáng sắt lại như lõi cây rừng, mái tóc tằng-cẩu[85] gọn ghẽ chắc chưa hề được gỡ ra đêm nào suốt những ngày qua. Chị đăm đăm như soi vào mắt Cư.
– Cậu vừa khóc đấy à? Sao lại khóc ở nhà anh chị?
Giọng chị bớt căng, và chuyển sang lối xưng hô thân mật gia đình của người Thái. Cư ngỡ ngàng vì điều đó, mà cũng vì xấu hổ. Đúng là anh đã chảy nước mắt tự lúc nào. Cư vội lấy tay quệt hai má.
– Dạ… Chắc là do khói bếp đấy ạ…
– Cậu đừng giấu chúng tôi! Cậu là người của Ban di dân tái định cư! Cậu tới đây để lại vận động chúng tôi chứ gì?- Giọng người phụ nữ bỗng đanh lại.
Cư chết lặng. Anh đã lộ chân tướng. Một cách bị động. Một cách nhục nhã. Cư muốn hét lên: “Phải đấy! Thế thì sao? Anh chị có biết sự ngoan cố của anh chị đã khiến bao người thêm vất vả, biết bao thời giờ quý báu bị mất, nước hồ thì sắp dâng lên…”. Nhưng Cư bị chẹn ngang họng. Một con thú mắc bẫy giương mắt nhìn người săn. Giọng người phụ nữ trở nên nhẹ nhàng, song Cư có cảm tưởng chị đang bỡn cợt một con dũi trong lồng trước khi lôi ra làm thịt:
– Có đứa trẻ báo… Nó được trả công hàng ngày mà! Chúng tôi đếm từng khắc chờ cậu đến, nhưng không mong chờ cậu sẽ lại tuyên truyền những thứ ai cũng thuộc làu đâu!
Như đọc được ý nghĩ của Cư vừa lóe lên, người đàn ông tiếp lời:
– Chúng tôi cũng không chờ đợi sự đe dọa lẫn những lời hứa hẹn. Mà cần ai đó hiểu cho: chúng tôi mệt mỏi lắm rồi. Cũng sợ chứ! Sợ đổ máu. Sợ phạm pháp… Nhưng hai tuần qua, ngày một thất vọng. Lại nghe ngóng là sẽ cưỡng chế, nên bảo nhau chuẩn bị sẵn sàng cùng sống chết…
Mồ hôi Cư toát đầm lưng áo. Ông chủ nhà thủng thẳng:
– May là cậu không nói ra những điều chúng tôi chẳng mong đợi…
Người phụ nữ tranh lời chồng:
– Có đấy, có điều chẳng mong đợi đấy!
Cư ngước mắt nhìn chị. Chị mỉm cười, nụ cười mệt mỏi còn hằn vết lo âu, sợ hãi nhiều ngày qua: “Chính là nước mắt của cậu đấy!…”. Và chị cũng chảy nước mắt thương cả cho mình nữa.
Cư bật đứng dậy, lóng ngóng nhét lại áo vào thắt lưng để kìm nén một cảm xúc đột ngột khiến anh mất tư thế- điều thực không xứng đáng đối với một cán bộ không còn trẻ trung gì nữa, lại trước người dân dù sao cũng đang “có vấn đề”. Anh lúng búng:
– Em… Em quấy rầy anh chị lâu quá rồi… Anh chị và bà con yên tâm. Sẽ không bao giờ có một cuộc cưỡng chế nào hết! Nhưng…
Cư ghìm lại được, và thầm tiếc chót nói từ “bà con” đậm tuyên huấn trước đông người – Nhưng… sao em không thấy con cháu anh chị ở nhà?
– Một nửa trực nhà, chúng đang đi săn… Một nửa đến những lều canh nương. Đang vụ mà – Bà chủ nhà nhanh nhảu.
Bỗng một tiếng súng nổ dội vào vách đá chát chúa. Cư giật bắn mình. Ông chủ nhà cau mày:
– Chắc thằng út hạ được cầy bay rồi… Lâu lắm, chúng mới về bản! – Ông quay bảo vợ – Tôi đã nói mà chúng nó không nghe à? Nếu có đi săn, thì bằng nỏ và bẫy thôi nhé!
Rồi ông đứng lên nói với Cư:
– Cậu cứ về đi đã!
– Thế gia đình anh chị sẽ di dời chứ? – Cư nóng ruột.
Ông chủ nhà quắc mắt, hơi sẵng giọng:
– Cậu cẩn thận đấy! Về nhà đi! Mọi việc đâu có đó! – Ông chợt trầm ngâm – Chúng tôi đến chỗ nào cũng được, miễn là nơi đó áp dụng được lời có vần của ông cha: “Mất của dễ tìm, mất lòng khó kiếm…”.
Khi xuống sàn, Cư mới có dịp quan sát, dù chỉ trong vài giây- khẩu súng kíp treo sát cửa sổ. Và lần đầu tiên anh mới thấy khâm phục, tự hào trước kỹ thuật kỳ lạ cùng sự kiên nhẫn phi thưòng của người vùng cao: cái nòng thép đã được khoan bằng sức nước chảy ngày đêm suốt một năm ròng…
Cuộc cưỡng chế đã không diễn ra, bởi Cư đã có cam kết với lãnh đạo thế nào đó. Mười ngày sau, ông mo Khem mang lên nộp hai khẩu súng kíp và thuyết phục được tất cả các gia đình bản Púng Lầm còn lại tới nơi tái định cư. Và Cư phải viết báo cáo. Nhưng anh chật vật cả tuần liền. Anh không biết phải kể lại những gì. Về mối thương tâm của đôi vợ chồng nhìn các con biến thành thú vật trong rừng, hay về cô gái bỏ chồng thản nhiên dạo chơi chẳng che vú trong những câu hát đưa hồn giúp anh lật ngược thế cờ? Về thái độ kiêu ngạo của một số người máy mê tín khẩu hiệu tuyên truyền, hay nỗi xót xa căm giận của anh trước những việc hủy hoại lòng tin của người dân đã nghèo đến độ không còn gì nữa ngoài niềm tin?… Dù sao thì anh cũng không thể viết như mọi khi được nữa, như mọi người vẫn viết và mong nhận được từ anh.
Thế bảo Cư sau lúc nghe xong câu chuyện của anh ta trong một cuộc rượu do Cư chiêu đãi thầy:
– Hay lắm, em trai ạ! Thầy phải cám ơn em và Ban đã đồng ý để thầy đi một mình đến các bản còn nhiều rắc rối trong việc di dời… Câu chuyện em kể rất có ý nghĩa! Nhất là trong đó em có nhắc đến một đoạn của Mo Khuôn. Chắc em đọc kỹ lắm.
– Chưa, em mới được nghe vài đoạn bố kể.
– Hôm nào thầy gửi em đọc cuốn Mo Khuôn do chính ông Vương Trung sưu tầm và dịch nhé? Thầy vừa được tặng tháng trước trên Châu Thuận.
– Hay quá, em đang đi tìm. Hôm đến bác Vương Trung hỏi, bác ấy bảo không còn cuốn nào nữa… Thầy ạ, em tin là phóng sự Giã biệt bản mường thương khó của thầy cả Ban em sẽ thích, em mong phim này được phát sóng Quốc gia để cả nước được biết được người Sơn La ta làm Thủy điện gian khổ thế nào… Và em hy vọng thầy sẽ có một bộ phim truyện lớn về sự nghiệp giải phóng lòng hồ sông Đà…
Thế mỉm cười:
– Vâng, thưa đồng chí Tuyên huấn nhiều triển vọng của Tỉnh! Thầy biết rồi… Và cũng đang bắt tay làm đấy!
18.
Những ngày qua, Thế dừng lại lâu nhất ở một ngôi nhà tạm của bản cũ, anh gửi tiền ăn và góp cả một ba lô lương khô anh mang theo cho chủ nhà. Chồng tên là Đin (Đất), vợ là Lao (Ngôi sao), với hai đứa con nhỏ, một trai một gái: Phôn trạc 11 tuổi và Lét trạc 8 tuổi. Người vợ và anh chồng đều trạc ba mươi tuổi. Anh đã chụp khá nhiều ảnh cả nhà và ảnh chân dung từng thành viên gia đình nhỏ này. Với vốn liếng tiếng Thái bập bẹ từ những năm dạy học Tây Bắc do mấy học trò người dân tộc con cán bộ Huyện (trong đó có Cư) dạy cho, Thế bập bõm về nội dung những cuộc trò chuyện riêng trong bữa ăn cả nhà; rồi khi trò chuyện với hai đứa trẻ Phôn – Lét bằng tiếng phổ thông, Thế hiểu được gần hết tâm trạng, cảnh ngộ của gia đình này. Bọn trẻ không thích ở đây nữa, bởi nhà chẳng ra nhà, chúng mong mỏi cả nhà lên mường mới, lúc đó đã vào năm học mấy tháng… Chúng thường băn khoăn trước mỗi bữa ăn: Nhỡ nước ngập lên bản thì sao hở mẹ? Thì được câu trả lời như công thức suốt mấy tuần của “ải êm” (bố mẹ) do mẹ thay mặt phát ngôn: Nước hồ thủy điện lên tới đâu thì chạy lên tới đó! Khi chúng thắc mắc: Nhưng ở trên cao ấy không có trường học. Không có bạn của con, không có ông bà nội, ngoại… Thì bố chúng tuyên bố chắc nịch: Không thích nhà này, thì tao cho đến với ông bà nội ngoại mà ở nhà sàn bê tông! Cô vợ thương con, rụt rè: Nhà ta lên mường mới đi… Tội cho bọn trẻ quá… Anh chồng gặt phắt đi: Ở nơi mới, làm gì còn rừng để đi săn, làm gì có sông suối để bắt cá?
Sau mỗi cuộc “khẩu chiến” như vậy, hai đứa trẻ câm bặt, lấm lét nhìn bố rồi nhìn sang ông “nhà báo” như cầu cứu. Lao lặng lẽ bưng chiếc mâm gỗ ra, trên đựng đồ ăn… Con Lét chạy tới bếp giúp mẹ mang cái cóm khẩu đựng cơm nếp. Cả nhà lặng lẽ ăn. Đin rót rượu lầm lì uống một mình. Lúc đó, cầy bay về, ăn xong Đin vác đồ nghề đi ra khỏi nhà, khỏi bản. Còn Lao mang chiếc sa ra bên ngoài kéo sợi. Cô đang ở cái thời kỳ rực rỡ nhất của một người đàn bà về thể chất, đồng thời cũng tập trung đầy đủ những nét tiêu biểu của một người phụ nữ Thái cổ truyền. Con Lét ngồi xem mẹ làm. Rồi mẹ nó đưa cho nó quay thử. Con bé thích thú mím môi mím lợi làm. Bên ngoài, núi rừng chìm trong ánh trăng nhạt cuối tháng. Phía xa xa, có tiếng mang ăn đêm “tác tác” gọi đàn. Vẻ mặt Lao buồn thương và đơn điệu như vòng sa quay…
Một lần, Thế ngỏ ý với Đin xin được theo anh đi săn một buổi, Đin lặng lẽ gật đầu. Rừng Tây Bắc trước đây có nhiều thú lớn như hổ, voi, tê giác, bò tót, trâu rừng, công, đại bàng, phưọng hoàng… Nhưng giờ đây, với nạn phá rừng đốt nương và săn bắn bừa bãi, rừng chỉ còn các loại thú nhỏ như cầy, cáo, chồn, dím, gion, chim ri, chim chích… Thỉnh thoảng người đi săn còn bắt gặp gấu, hoẵng, hươu nai ở xa làng bản. Từ thời niên thiếu, thú vui hấp dẫn nhất đối với Đin là được vào rừng bẫy chim và đi theo bố săn thú Thời gian đã tạo nên một chàng trai săn bắn thiện xạ, cả súng kíp lẫn tên nỏ. Đin đã có nhiều kinh nghiệm trong việc lần theo vết thú và nấp chỗ kín tạo tiếng kêu bắt chước thú gọi chúng tới gần… Anh cũng đã thông thạo nhiều cách bẫy thú: bẫy sập, bẫy thòng lọng, bẫy phóng, và các loại lưới (gọi chung là “sái”). Mặt trăng ló rạng qua những tán cây. Dưới một gốc đa cổ thụ cạnh vách núi, Đin bật đèn săm soi lên những tán cây, nòng súng kíp của anh hướng theo những đôi mắt li ti vàng khè của những con cầy bay. Một con cầy bò về phía ánh đèn. Nòng súng tóe lửa. Con cầy trúng đạn. Một tiếng động nặng nề rơi xuống cùng tiếng nổ dội vào vách đá vang lại rền rĩ. Những con thú đêm giật mình hốt hoảng chạy loạn xạ. Vẫn vẻ mặt im lìm, Đin bước tới con thú tử thương, lấy mũi súng chọc thử xem nó đã chết hẳn chưa.
Có đêm, đang nằm trong màn đen, Thế chợt tỉnh nhìn ra ngoài. Mấy giọt sương đã bắt đầu rơi từ giọt gianh lợp tạm. Không gian tịch mịch. Ánh trăng nhạt nhòa trong màn sương mù bao phủ mường cũ. Thế hình dung lúc đó Lao cũng đang mở mắt chong chong nhìn đỉnh màn đen. Có tiếng ú ớ của thằng bé, rồi nó nằm lăn ra khỏi đệm, đạp tung màn. Lao mò dậy, đưa nó nằm lại trong đệm, giắt lại màn cho hai đứa. Rồi chị lại thao thức, trằn trọc trong đêm vắng. Đã bao đêm như thế. Hình như chị đang chờ đợi điều gì? Thế đoán rằng: trong những ngày tháng dùng dằng giữa đi và ở này, nhiều đêm chị đã thảng thốt nhớ lại những nỗi gian lao vất vả của một người đàn bà Thái… Từ năm 6 tuổi, còn bé hơn cái Lét bây giờ, chắc hẳn cô đã theo mẹ đi rừng hái lượm, đi nương nhặt bông, cắt chàm, hái dâu, và làm quen với việc cán bông, bật bông, kéo sợi… Thành thiếu nữ, chị hẳn đã thuộc nằm lòng nhiều câu tục ngữ mẹ dạy: Làm nương không chê cỏ rậm. Làm ruộng chẳng kể nhọc nhằn. Cao thấp bằng phẳng chẳng hề chê. Thức khua dậy sớm, ngày vào rừng ba lần chưa tối – Của bố mẹ để lại như nước lũ trôi. Của do bàn tay tự làm như nước nguồn chảy mãi… Ở cái vùng quê nghèo xưa nay sống chủ yếu bằng lối tự cung tự cấp này, mối quan tâm hàng đầu của con người là “khẩu đón, tón pa khao”(gạo trắng, miếng cá bạc). Mẹ chị, bà chị, cũng như nhiều phụ nữ khác của bản Thái này vào mùa đói tháng ba – mùa hoa ban thường phải đi mường xa kiếm gạo bằng cách đổi những tấm thổ cẩm, những súc vải thô, những chiếc khăn piêu, những chiếc nệm bông lau bông gạo, những thân cá suối nướng (còn ruột cá thì giữ lại treo gác bếp hoặc cho vào hũ làm mắm ăn dần). Và cũng giống như tất cả những người con gái ngày đi lấy chồng, chị từng trải qua nỗi day dứt nhớ thương đàn gia súc vườn rau của nhà mình vẫn hàng ngày chăm sóc… Lao chong ngọn đèn mỡ lợn lên, rồi lại ra guồng quay sa. Thế hình dung ánh mắt chị lúc đó thẳm sâu một nỗi buồn khôn tả, kèm theo cả một nỗi tuyệt vọng.
Có lần, khi đã thấy tin cậy ông “nhà báo”, thằng bé Phôn rủ Thế tới một ngôi nhà sàn bằng gỗ duy nhất còn nguyên vẹn sau đợt di dời – ngôi nhà của ông mo kiêm thầy phù thuỷ Lường Sáy, mọc ra từ vách đá. Thực ra chỉ có thể gọi là nửa ngôi nhà, vì chỉ có một nửa mái, một nửa vách, một nửa cột, phần còn lại của ngôi nhà là cái hang đá kín đáo và ám khói ăn sâu vào trong núi. Không ai có thể biết rõ ông thầy mo đã sống ở đây từ bao giờ, và nó đã được dựng lên bằng cách nào… Trong nhà đầy bồ hóng và mạng nhện. Quanh các cột gỗ xù xì treo đầy các sừng dê rừng, hươu nai, bò rừng… mà những người thợ săn đã biếu thầy mo – vừa là già làng vừa là người nắm giữ linh hồn cả mường Thái. Ngôi-nhà-hang trở nên mát mẻ dễ chịu hơn bất kỳ nơi nào trong bản đặc biệt là vào mùa gió Lào, khi nhưng trận gió nóng kinh hồn mang theo lửa chạy bạt mạngj, không gian bị rang bỏng lên, ngay cả những đoạn suối sâu cũng vơi cạn trơ toàn đá. Với bọn trẻ con trong bản và cả trong vùng, ông mo thật hiền hoà dễ gần, mặc dù ông có một bộ mặt nhăn nhúm như một quả quýt khô, mái tóc không mọc ở đỉnh đầu mà mọc ở quanh đầu, chúng dài và cứng mang màu móng trâu chết. Ông mặc một bộ quần áo chàm cũ người ta dệt từ lâu và đã bạch phếch. Lúc này, ông đang ngồi dưới sàn, cầm một sợi lạt khô bằng cật giang bé xíu để xâu những con nhặng chết và khô xác bởi gió Lào và bồ hóng. Ông làm chăm chú, không biết thằng bé Phôn và một người đàn ông lạ đã tới đằng sau lưng. Tay Phôn cầm xâu thịt cầy. Dù đã đến đây không ít lần, nó vẫn không thể rời mắt được chiếc vòng đồng to được chạm nổi những hình thù kỳ quặc thường xuyên đeo ở cổ chân ông lão thầy mo kiêm phù thuỷ – mặc dù đó là thứ khiến nó khó chịu nhất, và sẽ càng khó chịu hơn nếu như nó phải đảm nhiệm sứ mạng kế thừa ông mo như ông vẫn thường tuyên bố trước đám đông. Đó là một quyết định khá bất ngờ. Bởi ông mo Sáy là họ Lường, cái họ sinh ra để làm mo (Lường làm mo, Lò làm tạo), thằng Phôn họ Quàng, nếu kế thừa cả nghiệp mo chang của ông Sáy thì thực không hợp lẽ cho lắm. Nhưng từ bữa đó lũ trẻ con trong bản có vẻ cư xử dè dặt hơn khi gặp thằng Phôn, cả người lớn cũng nhìn nó bằng con mắt khác. Còn thằng Phôn thì yêu quý ông mo kiêm phù thuỷ kỳ quặc đó như tất cả bọn trẻ, vì sự hiền lành vô hại, vì sự quan tâm đến trẻ con theo cách lạ lùng của ông, và trên hết, vì trong vùng ông là người biết nhiều nhất, ông biết cả “việc nhìn thấy lẫn những việc không nhìn thấy” – tức là thế giới người sống và thế giới của các “phi ”(các loại hồn ma) trong đời sống tâm linh người Thái – kích thích trí tò mò tưởng tượng của bọn trẻ con dẫu ở bất kỳ vùng đất nào!
Sau khi Phôn giới thiệu Thế với ông mo, ông nhìn Thế vẻ thân thiện, và nói tiếng Việt khá sõi: “Nhà báo à? Nhà báo đến với người Thái ta lúc này tốt lắm, tốt lắm! Bà con mường Thái vất vả lâu nay rồi, bây giờ càng vất vả…” – Ông chỉ tay vào Phôn: “ Người kế nghiệp của ta đó”.
– Cháu không thích thế đâu ông… – Phôn phản ứng tức thì.
– Thích hay không thích, chẳng quan trọng. Ta đã chọn cháu làm truyền nhân của ta… đó cũng chẳng phải do ý thích của ta… mà của chủ Mường Then trên kia kìa – Ông chỉ tay lên trên trời – Ngồi xuống đây, cháu! Cả nhà báo nữa…
Phôn đưa xâu thịt cho ông mo.
– Bố cháu gửi ông phần thịt thú rừng vừa săn được, dặn phải lam trong ống tre với lá xổm lôm cho chóng dừ!
Ông mo gật đầu, ngắm nhìn xâu thịt:
– Chà, cầy bay! Đã từ lâu lắm mới lại được ăn… Cầy mới đây mà… Loại này ngon lắm!
– Sao là cầy mới ạ? – Phôn hỏi.
– Thế này nhá: Mường ta từ lâu loài cầy bay không đến. Bây giờ mường cũ hoang vắng nên thú mới về đó! Đây là đàn cầy từ nơi khác mới đến thôi. Những con cầy ở mường ta đã bỏ đi xa rồi!
Thế ngồi xổm xuống bên cạnh ông mo, cùng thằng Phôn chăm chú nhìn ông đang xâu những con nhặng vào một sợi lạt khô bằng cật giang bé xíu. Có đến hơn ba chục con nhặng như vậy đã được lão xâu vào từ những ngày trước đó. Chúng đều đã chết khô xác bởi gió lào và bồ hóng. Phôn chỉ tay vào xâu nhặng chết.
– Ông xâu những con nhặng làm gì thế?
– Chúng không phải là những con nhặng nữa rồi!
Ông bước tới xà nhà đầy bồ hóng lấy ra những xâu con cánh cam, con sâu đo, con bọ ngựa chết … Phôn tò mò cùng cực.
– Chúng là những cuốn lịch đấy cháu ạ! Những con côn trùng nói với chúng ta nhiều điều… Năm ngoái, ta đã báo cho cả bản biết sẽ có lũ lớn, vì lịch côn trùng đã chỉ rõ: vào những tháng cánh cam và sâu đo ở năm chẵn thì lũ lớn về. Trước đây, ta thường xem xét tính toán trên sách, xem ngày để đoán sự xuất hiện của con rồng, con vật tạo ra mưa. Năm nào rồng ít và lẻ thì mưa nhiều, và năm nào rồng ra nhiều và chẵn thì mưa ít, nạn hạn hán sẽ đe doạ đất mường. Cháu biết vì sao không? Vì rồng ít, chúng chỉ lo làm ra mưa chứ không có thời giờ để chơi bời, và nếu lẻ, chúng không có đôi có lứa nên siêng năng tạo ra mưa. Còn rồng ra nhiều, chúng chỉ mải miết chơi bời, và lại chẵn nữa thì chúng sẽ thoả mãn tình cảm lứa đôi nên chẳng đoái hoài đến việc làm mưa nữa… Nhưng mấy năm nay, ta thấy cuốn lịch thiên nhiên ở sâu bọ sát hợp hơn là cuốn lịch trong sách vở, cháu ạ!
Phôn vẻ kính nể, khâm phục . Nó chỉ tay vào xâu nhặng:
– Thế những con nhặng xanh này?…
Ông mo mặt thần ra một lúc rồi thì thầm:
– Năm nay năm lẻ, vào tháng nhặng xanh sẽ lại có lũ muộn cháu à! Lũ muộn thì khủng khiếp lắm! Cũng sắp xảy ra rồi! Nhưng thật buồn. Tất cả lũ côn trùng đáng thương này, cả đàn cầy bay mới đến lẫn những cơn lũ muộn sẽ bị chìm hết trong nước lạnh, mãi mãi…
Vẻ mặt buồn đau thực sự và thành kính của ông mo khiến cậu bé như bị mê hoặc. Chợt nó hỏi độp một câu làm ông mo ngẩn ra một lúc.
– Thế sao ông không đem lũ côn trùng này của ông về mường mới?
– Mang theo ư? Cháu hiểu sao được? Những tục lệ của ông cha, những lễ hội của mường Thái Chiềng Sại đâu có thể mang theo được!… Những di tích ngàn đời trong thung lũng mường cũ này làm sao mà rời chuyển được!… Có nhà báo đây làm chứng cho lời của ta… – Cặp mắt ông ngấn lệ.
Thế nhớ Lò Mai Cư có kể cho anh nghe về sự hy sinh của hai kỹ sư người Kinh trong giai đoạn khảo sát lòng hồ cho công trình Thủy điện. Hôm ấy, trong cuộc rượu do Cư chiêu đãi thầy cũ, óc lơ mơ men rượu lá của Thế đã thoáng nảy sinh một nhân vật điện ảnh… Nấm mộ của chàng kỹ sư xấu số chắc hẳn hiện đang nằm ở một bản Thái đã di dời, và cũng có thể ở vùng đất Thế đang sống, biết đâu đấy… Thế rồi, một sự kiện bất ngờ xảy ra: Gần trưa hôm ấy, khi Thế từ suối thăm thú cảnh vật với ý định mơ hồ tìm ngôi mộ hai kỹ sư, trở về ngôi sàn tạm, anh thấy hai đứa trẻ đứng khóc hu hu. Dò hỏi mãi thằng Phôn, nó cho biết: Cả đêm qua mẹ nó không về nhà, tới sớm nay, có người hàng xóm tìm được ở bờ suối bộ váy áo cóm cùng chiếc xà tích của mẹ nó… Từ buổi ấy tới mấy hôm sau, ngôi nhà như có tang. Trước đó một tuần, hình như giữa hai vợ chồng có xô xát – điều hiếm thấy trong các gia đình người Thái vốn sống bằng tình cảm, và có ngày cô vợ đã đi từ sáng đến tối mịt mới về… Sau việc biến mất của vợ mà với dấu tích còn lại ai cũng đoan chắc là đã bị lũ cuốn, anh chủ nhà lại càng câm lặng, lầm lỳ khó hiểu, Thế không nỡ – đúng hơn là không dám hỏi gì. Anh thấy thương hai đứa trẻ, nhưng bất lực. Vả lại, lúc đó Cơ quan gọi điện lên mời anh về giao việc, bởi anh chưa hoàn thành định mức 4 phim truyện truyền hình/ năm…
Trên đường trở về Hà Nội, Thế đã bắt đầu hình dung ra những trường đoạn phim tương lai, và sau một tuần, anh đã thảo ra được một kịch bản điện ảnh, để tìm dịp sớm nhất lên Tây Bắc sẽ “xi-nê mồm” cho Lò Mai Cư nghe và xin ý kiến của trò cũ – một trong những “người thầy về văn hóa Thái” của anh.
[81] Vật đựng cơm xôi làm bằng giang, mây.
[82] Trường ca dân gian Thái Xống chụ xon sao (Tiễn dặn người yêu – Mạc Phi dịch).
[83] Dân ca Thái Tây Bắc (Cầm Trọng kể).
[84] Một loại sáo dọc của người Thái.
[85] Theo phong tục, phụ nữ Thái đen có chồng búi tóc lên cao, gọi là tằng cẩu.