Tiểu thuyết Âm bản và dương bản (18)

Mai An Nguyn Anh Tun

8.

Hôm nay, ĐẠI HỘI ĐẢNG diễn ra, xin trân trọng gửi tới Đại Hội một đề nghị thống thiết: cần có những chính sách thiết thực và hữu hiệu nhằm bảo vệ & cứu lấy rừng bị đang hủy hoại, thú hoang dã bị truy đuổi, góp phần chấm dứt cảnh THIÊN NHIÊN bị tàn phá, để những thảm cảnh Miền Trung vừa qua và một em bé bị gấu hút lấy mật cắn đứt hai tay trở thành quá khứ… Xin đưa lại bài viết về một sự kiện thảm khốc sẽ tiếp tục tái diễn, nếu như Thiên Nhiên còn bị tận diệt:

LỜI TẠ LỖI MUỘN MẰN

(Mẩu tin trên báo & ảnh: em bé 5 tuổi ở Phú Thọ bị gấu cắn đứt hai tay).

 

Mẩu tin chìm nghỉm trong bao chuyện cướp, hiếp, giết,  tham nhũng, lọt thỏm giữa bạt ngàn hình đại gia khoe của, mỹ nữ khoe thân

Con gái tôi ôm mặt thét lên kinh hoàng đau xót

Tới lúc đó, tôi mới có thể khóc được

Và tôi chỉ còn biết Tạ lỗi muộn mằn với em bé  đáng thương…

Khi chơi đùa với gấu, chắc em nghĩ nó cũng hiền từ như chú gấu Mi-sa em từng ôm ấp, chú gấu được thả lên bầu trời tạm biệt thế gian khiến bao người rơi lệ…

Em đừng cho rằng loài gấu  đánh lừa em.

Tôi tạ lỗi với em thay mặt những kẻ nhẫn tâm hàng ngày chọc kim vào thân gấu lấy mật, mặc con thú rên rỉ van xin hay gầm gào giận dữ

Tôi tạ lỗi với em thay mặt những kẻ mặt đỏ phừng phừng nhồm nhoàm gặm chân gấu hầm thuốc bắc trong các nhà hàng sang trọng

Tôi tạ lỗi với em thay mặt những nhà bảo vệ môi trường bảo vệ rừng trên hội thảo trông chờ giải ngân và chia chác tiền dân đóng thuế

Tôi tạ lỗi với em thay mặt vài ông bà Nghị có từ tâm song chỉ biết gạt lệ sau đôi phản ứng yếu ớt trước các chiến dịch phá tan rừng hủy hoại sạch thiên nhiên được khoác áo mỹ miều phát triển – các chiến dịch vô đạo đẩy thú hoang tới cùng đường và trở thành thù địch với con người mà than ôi đôi cánh tay ngọc  ngà của em lại là vật thế mạng xót xa quá…

Nhân danh một người cầm bút, tôi Tạ lỗi với em vì đã có lúc nhắm mắt bưng tai trước không ít kẻ có trách nhiệm ngoài miệng hô to “Tất cả vì tương lai con em chúng ta” nhưng tâm địa sánh với thú dữ bởi họ yêu quyền lợi và địa vị của bản thân hơn tất thảy; thậm chí đã có khi tôi đồng lõa với họ để yên ổn với chút cơm thừa canh cặn bố thí…

Nhân danh một người làm cha tôi Tạ lỗi với em, vì giữa lúc em đang đau đớn tột cùng và chưa hiểu nổi chuyện gì đã xảy ra với mình, tôi chỉ có nước mắt xót thương bất lực…

 

9.

Vừa làm xong hậu kỳ bộ phim tài liệu về văn hóa cho một Đài Phát thanh – Truyền hình địa phương, Thế nhận được lá thư ngắn ngủi của một người bạn miền trung tên là Lân: “Anh về ngay. Cháu gái Vân đã mất tại châu Âu”. Anh choáng váng…

Cách đây ba năm, Thế về vùng biển này để làm một phim tài liệu về các di tích lịch sử, danh nhân văn hóa địa phương. Khi được biết Lân là một thầy giáo cấp II yêu thích văn hóa dân gian và đang ấp ủ làm một cuốn sách sưu tầm truyền thuyết các nhân thần, thiên thần miền Trung, Thế liền tìm đến làm thân. Với sự hiểu biết cặn kẽ, khá sâu rộng về lịch sử văn hóa địa phương, và với lòng kính trọng thành thực bất kỳ ai có liên quan đến chữ nghĩa, phim ảnh, Lân đã giúp đỡ anh rất nhiều trong công việc. Vì phải điền dã quanh huyện nhiều ngày, nên Thế chỉ được gặp vợ con anh có hai lần tại nhà, và một lần được trò chuyện với cô bé mê văn. Em nhờ Thế tìm cho tập 4 của bộ tiểu thuyết JăngKritxtôp và bộ tiểu thuyết Bão táp triều Trần. Thế đã hứa, đã tìm được sách cho em, nhưng chưa kịp mang về thì được tin dữ… Anh choáng váng suốt chuyến xe đò bốn trăm cây số, rồi ba chục cây số xe ôm về tới ngôi nhà xập xệ đang chờ được sửa chữa để có thể tồn tại qua một, hai mùa biển động nữa…

Rời chiếc tủ gỗ thông cũ kỹ dùng làm bàn thờ tạm cô con gái xấu số, Lân chậm chạp quay về phía Thế. Lưng người đàn ông trạc bốn mươi tuổi như còng hẳn bởi nỗi bất hạnh mới giáng xuống anh và cái gia đình bé nhỏ của anh. Mắt anh ngầu đỏ sau ba ngày thẫn thờ khóc ròng bên di ảnh con gái lớn. Anh nhìn vào chiếc giường có người nằm bất động trùm kín chăn, rồi lặng lẽ ngồi xuống chiếc ghế đối diện với Thế qua chiếc bàn nhỏ, như Thế đang là một kẻ bị hỏi cung. Thế không dám nhìn thẳng vào khuôn mặt hốc hác có ánh mắt vô hồn chẳng thiết tha thứ gì nữa trên đời. Thế quay sang nhìn phía trái căn nhà, nơi có một giá sách khá lớn chất chồng chủ yếu các loại sách cũ in từ những năm 70, 80 thế kỷ trước.

– Anh đọc đi… Tôi tin anh…

Giọng khàn khàn khác lạ của Lân vọng đến Thế tựa vực thẳm dội lên. Anh rụt rè cầm lấy lá thư Lân đặt trên bàn, lưỡng lự và thoáng băn khoăn về cái gọi là “lòng tin” của anh ta đối với mình, bởi đương nhiên là thế mà sao lại nói như một sự khẳng định mới mẻ. Trong tột đỉnh của nỗi đau, người bạn Thế quen biết lâu nay vẫn đủ sự tỉnh táo và sự thận trọng để nói về một thứ mà hiện tại người ta đã đánh tráo, đã đánh cắp nhiều và trơ tráo đến độ nó chẳng còn có khả năng thuyết phục hay cảm động được bất cứ ai nữa. Thế ái ngại nhìn thẳng vào Lân như để tìm được một sự giải thích mơ hồ, một niềm an ủi mong manh nào đó trong khi thực ra người cần được an ủi chính là Lân!

– Không ngờ… lá thư này của cháu lại là thư tuyệt mệnh… Anh đọc đi… anh.

Lời này của Lân dịu dàng một cách kỳ lạ, như để cố nén lại nỗi đau, lại giống một tiếng khóc thầm. Không đợi Lân giục thêm lần nữa, Thế run rẩy mở lá thư. Những dòng chữ rắn rỏi, của một người hay đọc sách và bắt đầu làm quen với cách diễn đạt tâm hồn bản thân mình bằng từ ngữ chợt nhập nhòa trước mắt anh…

Thưa bố, mẹ…

Con đắn đo nhiều lắm, và phải tập trung rất nhiều lòng dũng cảm để có thể viết bức thư này… Khi bố mẹ đọc được những dòng này, con đã ở một phương trời xa, phương trời mơ ước mà con từng ấp ủ trong những năm túng quẫn đến cạn đường sống của nhà ta… Bố vẫn hay chê con gái bố ít nói ít cười, nhưng con hiểu đằng sau sự trách yêu đó là một niềm cảm thông mà một người bố thương con nào cũng có: bố hiểu và cảm thông cho đứa con gái giàu tình cảm, giàu suy nghĩ, thương gia đình mà chỉ biết thở dài buồn bã, một kẻ ôm nhiều khát vọng đẹp mà phải chôn vùi đi… Con không sao quên được cái buổi con tuyên bố nghỉ học cấp ba để đi làm giúp bố mẹ nuôi em, bố đã giấu con vào buồng trong để khóc thầm. Rồi con cũng ra vườn khóc một mình. Khóc, vì con đã làm bố mẹ buồn khổ. Khóc vì phải vĩnh biệt tuổi học trò dù nghèo túng cay cực song cũng thực đáng yêu biết bao. Sau đó, đợi bố đi khỏi nhà, con đã đốt hết những bài thơ, truyện ngắn, ghi chép mà con viết dấm dúi trong niềm mơ tưởng trở thành nhà văn, nhà báo. Không phải vì có lần bố đã bảo: làm nhà văn nhà báo trong xã hội mình thì nghèo lắm, khổ lắm, lại nguy hiểm nữa, mà cái chính là con muốn xóa hết cái dấu tích sẽ khiến con nuối tiếc khi bước vào “chiến trường làm ăn kinh tế”- mà thực ra lúc đó con chưa biết mình sẽ phải làm gì để giúp bố mẹ bớt cực nhọc! Nhưng điều làm con đau lòng xót xa hơn cả là biết rằng: bố cũng đoán ra hết cái tâm tư đó của con nhưng không thể làm gì được cho con! Nếu là vài năm trước, con đã chạy vào ôm chầm lấy bố mà khóc cho thỏa, nhưng con đã lớn rồi, biết kìm hãm cảm xúc để bố đỡ tủi trước sự bất lực của mình, một thầy giáo được mọi người kính trọng, một người chủ gia đình không kém cạnh gì với đời, đã phải bó tay trước sự thất học của con gái bởi gia cảnh khốn cùng…

Chắc chắn là bố mẹ sẽ trách móc con nhiều lắm, vì quyết định một chuyện động trời thế này mà chẳng bàn bạc với bố mẹ một câu. Con sợ bố mẹ sẽ phản đối, ngăn cản, và sợ hơn cả, nếu bố mẹ đồng tình thì sẽ phải lo chạy vạy một khoản phải nói là khủng khiếp đối với nhà ta… Hãy tha lỗi cho con… Con đã tròn 17 tuổi, hơn thế, như bố từng bảo, con là “bà cụ non” là gì?Với lại, cái quyết định này là kết quả sau cùng của biết bao suy nghĩ, đau đớn của con, mà nếu có “đổ lỗi” cho ai thì chỉ là bố thôi, bố ạ. Bố đừng vội cau mày, con nói “đổ lỗi”, tức là con muốn bày tỏ sự biết ơn… Con biết ơn bố trong nhiều năm qua đã miệt mài, tỉ mẩn tìm sách cho con đọc. Một thầy giáo làng quê nghèo như bố đã chăm chút tới đời sống tinh thần cho con gáibằng những cuốn sách cũ mualại hoặc xin ở các hàng đồng nát, ở các hiệu sách cũ, ở nhà bạn đồng nghiệp. Con nhớ rõ những cuốn đầu tiên là Nhật ký Anne Frank, Vỡ bờ, Hãy để ngày ấy lụi tàn, Ai van hô, Suy nghĩ về những câu Mác trả lời con gái… Chúng đều rách bươm, giấy đen xì, đôi chỗ bị mối ăn mất chữ, nhưng đối với con thực là quý giá, quý giá hơn nữa là chúng được bố bồi dán lại từng trang, làm thêm bìa giả cẩn thận. Thấy con mê đọc, bố lại căm cụi đi nhiều nơi tìm sách, với đồng lương giáo còm, và hầu như lần nào đem sách cũ về bố cũng đều tần ngần: “Cuốn này người ta đã tái bản, giấy trắng đẹp, song ở hiệu sách hết rồi, bố sẽ tìm mua sau…” Lần đầu tiên bố nói vậy, con đã phải chảy nước mắt vì hiểu rằng bố đâu có tiền mua sách mới, bố nhớ không, lúc đó bố hỏi vì sao con khóc, con nói tránh đi là con bỗng nghĩ đến cô bé Do Thái 13 tuổi viết nhật ký khi trốn tránh bọn phát-xít, và chết trong trại tập trung khi sắp bước sang tuổi 16… Con cũng hăng hái làm theo bố, đi mượn, đi xin sách, có nhà sau khi bố thí cho một đống sách cũ định thải cho đồng nát đã nhìn con như “cô bé Mai Ka từ trên trời rơi xuống”… Dần dà, sau bốn năm, con đã có một tủ sách vài trăm cuốn, chủ yếu là sách cũ nhưngkhá nhiều sách văn học Việt Nam hay và không ít tác giả văn học kinh điển thế giới đã dịch sang tiếng Việt, như thế, con đã là đứa trẻ giàu có hơn tất cả lũ trẻ làng biển nghèo xơ xác này. Con yêu mê mẩn tủ sách đó, cũng bởi một phần nó chứa đựng mồ hôi nước mắt của bố, và con đã có ý nghĩ như đứa trẻ 10 tuổi là: nó giống làm sao với cái tủ sách ở “Chái nhà bí mật” của cô bé Anne Frank, bởi đằng sau tủ sách của cô bé là một chiếc cầu thang bí mật để chạy trốn, giả sử có chuyện gì bất trắc đe dọa nhà ta, mọi người sẽ theo chiếc cầu thang bí mật đó mà thoát ra ngoài… Nhưng cũng chính vì những cuốn sách ấy mà các cô giáo dạy văn của con thường phê là suy nghĩ không phù hợp lứa tuổi, xa lạ, nguy hiểm, không có ích cho thực tế, thậm chí là đạo văn của người khác; rồi các bạn xa lánh, còn ở nhà lắm khi bị bố mẹ mắng oan. Bố có nhớ dạo biển quê mình bị tàn sát, xác cá trắng xóa dạt bờ, cả một vùng tang thương chết chóc, con đã bỏ ăn bỏ ngủ hai ngày liền, bị bố mẹ mắng xơi xơi, như con là cái chỗ an toàn nhất để bố mẹ trút những lo lắng, đau đớn cho thảm cảnh chung, cho tương lai u ám của gia đình. Bố có biết những ngày đó, con cứ như là người bị đầu độc vậy, đầu độc bởi những ý nghĩ tối tăm về cuộc đời, về những kẻ gây ra tội ác hủy diệt biển, thậm chí về đồng bào mình… Sao con người lại có thể nhẫn tâm độc ác với đồng loại và thiên nhiên hơn cả bọn phát-xít đã bị chôn dưới mồ đến thế? Sao đồng bào mình lại để chuyện thê thảm đó xảy ra ngay trên quê cha đất tổ của mình, sau gần nửa thế kỷ im tiếng súng chiến tranh? Mẹ con, dì con mất nghề buôn bán cá từ dạo đó, và ngay ở làng mình, mẹ con cùng mười người phụ nữ đã và đang tìm mọi cách làm ly hôn giả để tìm đường “cứu nước cứu nhà” – như người ta vẫn nói đùa mà như mếu dở. Bố mẹ cố tình che dấu chúng con, tạo ra những cuộc cãi vã giả vờ để “hợp pháp hóa” sự chia tay đau đớntrước lương tri của con cái. Bố đã gầm lên, đã tát con, khi con phản đối một cách khá hỗn xược. Con không đau vì cái tát, mà đau bởi con chợt hiểu ra rằng, con buộc phải đồng lõa với sự giả dối ấy của bố mẹ, và bố mẹ chắc sẽ diễn giải điều đó như sau, nếu như buộc phải diễn giải: “Tất cả là vì tương lai của chúng mày cả thôi!” Việc ra đi của con, cũng “vì tương lai gia đình cả thôi”, hy vọng sẽ giúp bố mẹ thay đổi cái ý định nhục nhã và đau xót sắp thành hiện thực kia. Và, có điều này rất hệ trọng, con cần kể ra, nhưng mẹ đừng bĩu môi cười con là kẻ mơ mộng viển vông: Năm ngoái, khi bỏ học, con được mời làm gia sư dạy thêm môn tiếng Việt cho con gái út một ông lãnh đạo huyện (con xin được giấu tên), vì được tiếng trong trường là học sinh giỏi văn (mặc dù các cô giáo dạy văn không thừa nhận). Con gặp được con trai ông ấy, một sinh viên Hàng hải năm cuối về thăm nhà. Anh rất quý con, và thán phục khả năng cảm thụ văn học, kiến thức văn học của con mà anh bảo hơn đứt nhiều sinh viên văn khoa mà anh quen biết. Bố anh ấy đang chuẩn bị cho anh ấy đi du học nước ngoài, và lo mua nhà, cả Thẻ xanh cho anh để khi học xong sẽ ở lại định cư luôn. Nhưng anh mấy lần tâm sự với con: anh từ lâu đã ngao ngán thất vọng về lối sống trục lợi, vơ vét của công, bóc lột người dân nghèo một cách tinh vi của bố mình… Khi con thổ lộ ý định di cư, anh kịch liệt phản đối. Song vì con khăng khăng ý định, nên cuối cùng anh đành chiều lòng con, với điều kiện: anh sẽ đi cùng con, bởi anh đã trót yêu con mất rồi. Đến lượt con phản đối dữ dội, nhưng trước sự chân tình của anh, con cũng chấp thuận. Anh đã lấy trộm một khoản tiền, vàng của bố mẹ – mà theo anh ấy là “của phi nghĩa, phi pháp” để lo việc cho cả hai chúng con ra đi trót lọt, như kiểu các nghĩa hiệp xưa lấy của nhà giàu chia cho người nghèo ý! (Anh cũng yêu thích tiểu thuyết của Walter Scott, còn hơn con kia). Chúng con cùng bày ra kế hoạch, khi sang được bên ấy, hai đứa sẽ làm việc kiếm sống cật lực để có tiền, rồi quyết thi vào được một trường đại học danh tiếng: con học ngành hóa – sinh, anh học nghề đóng tàu biển, để sau này trở về- trước mắt cứu biển quê mình và giúp biển vươn xa…

Bố mẹ đừng vội tin hết những lời đồn đại về chuyện những người di cư, nào là gian nguy,nào là lừa đảo, nào là nô lệ tình dục, “nô lệ hiện đại”, nào là chết đông cứng trong công-ten-nơ, chết bị hãm hiếp rồi quăng xác xuống biển, v.v. Chúng con biết rất rõ những chuyện đó, song, như mẹ vẫn nói: “ở hiền gặp lành”, hơn nữa, chúng con là những thanh niên mang hoài bão tốt đẹp cho cộng đồng nên chắc chắn được sao May Mắn chiếu mệnh; ở nơi ấy, xã hội văn minh lâu đời, người ta đã bỏ qua cái thời coi con người là nô lệ, là súc vật, họ biết trọng người ham học hỏi và yêu quý tri thức khoa học; bố mẹ hãy yên tâm.Khi tới nơi, con sẽ báo tin ngay cho bố mẹ. Mong bố mẹ hạnh phúc như xưa, và thật khỏe mạnh để nuôi dạy hai đứa em đáng yêu của con…

Con gái của bố mẹ.

Thế hạ bức thư xuống và bất giác nhìn lên tấm ảnh viền băng đen. Trong giây lát, anh cảm thấy người thiếu nữ xấu số kia có nụ cười sao giống của cô gái nhỏ Anne Frank ở bức ảnh bìa cuốn sách mới tái bản, mà nếu em còn sống, nhất định anh sẽ mua tặng em cuốn sách in rất đẹp đó – cuốn sách mà em từng mơ ước khi rơi nước mắt trên những trang giấy đen của một thời xuất bản… Thế đang lựa lời an ủi chủ nhà, và định thốt lên cái điều mà anh nghĩ không thể nói điều gì khác phù hợp hơn trong lúc đó: “Anh chị nên tự hào về cháu”, thì bỗng có tiếng xe ô tô du lịch đời mới đỗ xịch ngoài cổng. Hai đứa bé, gái 13 tuổi, trai 9 tuổi chạy ào vào. “Bố mẹ ơi, có khách ạ!” Rồi chúng lại chạy ùa ra như cơn gió. Một người đàn ông bệ vệ, chậm chạp bước vào. Cặp mắt ngầu đỏ vì đã khóc nhiều khiến cái ngấn cổ nung núc những mỡ của ông dường như cũng đỡ chối hơn, cả khi người ta nhìn thẳng lẫn nhìn nghiêng. Chẳng nói chẳng rằng, ông ta chủ động bước tới anh giáo khổ gầy gò, ôm chầm lấy anh mà khóc nức lên một cách tội nghiệp. Không cần chủ nhà giới thiệu, mười phần tôi cũng đoán ra tới chín phần ông ta là ai. Nhìn cung cách đau khổ và hạ mình chân thành của ông ta, anh chợt nảy ý nghĩ: “Biết đâu cái chết của hai đứa trẻ sẽ giúp con người này tỉnh ngộ ra được điều gì có ý nghĩa?” Rồi anh chợt tự cười thầm về niềm tin ngây thơ của bản thân mình. Nhưng, nếu như không có những niềm tin ngây thơ như thế được tỏa rạng, được chứng thực bởi niềm tin của cô bé thiên thần trên tấm ảnh thờ kia, đất nước đáng thương này sẽ còn chìm đắm trong bùn đen nhơ nhớp đến bao giờ?

Rời nhà của cô bé bất hạnh, Thế tìm đến một ngôi làng sát bên, cũng từng trải qua những ngày biển miền trung bị đầu độc. Tại đây, ở một ngôi nhà cổ có hai con chó đá ngoài cổng, anh đã được nghe người dân địa phương vùng biển Hà Tĩnh kể cho nghe sự tích của một trong hai con chó đá ấy. Anh ghi chép lại cẩn thận làm tư liệu để sẽ xây dựng thành một Âm bản tương lai có tên: ”Phận chó đá”:

Gọi tên con gái đến lần thứ ba trong hương khói mịt mù, Thông như sụm người bên nấm mộ chưa xanh cỏ với nhiều vòng hoa trắng đã héo rụi. Tấm thân vạm vỡ rung lên trong những tiếng nấc quả không tương xứng chút nào với dáng vẻ võ biền, nếu như không bất chợt để lộ ra những múi mỡ đã tới thời kỳ chảy xệ ra trên cằm, dưới bụng khiến người ta phải thương hại…

Hồi lâu như thế, khi tiếng chuông chùa thu không lơ lửng, Thông mới gượng đứng dậy, đi thất thểu vào làng.

Nhiều năm qua, Thông không về quê. Chỉ có đận này, đưa tiễn đứa con gái yêu dại dột vắn số, ông mới có dịp thong thả thăm thú họ hàng xa, gặp gỡ đôi người bạn cũ thời ngất ngưởng lưng trâu hò hét khản cổ. Những lúc đó, ông xuất hiện như một ông Thiện khổng lồ ngoài chùa, nén nỗi đau riêng bày tỏ mối quan tâm đến sinh hoạt mọi mặt của cố hương- dĩ nhiên là đặc biệt chăm chú tới lĩnh vực văn hóa làng xã, do thói quen nghề nghiệp… Một cách tuần tự, theo đúng quy trình, ông đi từ thư ký Ủy ban lên Vụ trưởng, rồi Thứ trưởng của một Bộ nắm giữ cả linh hồn lẫn hình thái văn hóa của toàn xã hội. Ông chẳng về quê, bởi mối dây liên hệ còn rất ít ỏi, nếu không muốn nói là chẳng còn gì – ngoài họ mạc bắn canon mới tới. Mồ mả cụ kỵ, ông bà, cha mẹ, ông đã dầy công quy tập về một công viên vĩnh hằng sang trọng cách Thủ đô chưa đầy 40 phút xe du lịch đời mới. Ông đưa thi hài con gái về quê là theo lời trăng trối bằng di bút của nó. Nhớ đến di bút con gái, ông lại tối xầm mặt mũi. Ông muốn quên đi, mà mỗi ngày chúng như càng in hằn trong tâm trí mệt mỏi và hoảng loạn của ông. Và điều quái quỷ nhất là, cái khung cảnh quê hương dường đã mờ mịt sương khói trong ông chẳng hiểu sao bỗng đựơc “vén mây giữa trời”, như đựơc tắm gội bằng một thứ ánh sáng mới lạ ông chưa từng biết tới, kể cả trong thời thơ ấu…

Mấy hôm trước, đi theo đám tang con gái có cả một đội quân nhạc do ông mời về, khi diễu qua cổng chùa, ông chợt thấy ớn lạnh khắp người, và một luồng ánh sáng ký ức chộp xuống tựa tia chớp – lúc ông thoáng thấy đối diện chùa là một ngôi nhà cổ, ngoài cổng nằm lặng yên một con chó đá cũ. Hình như, tự thuở nào, kiếp nào xa xôi lắm, đã có một ai nói cho ông nghe về con chó đá này… Ông nghĩ suốt từ đấy ra tới nghĩa địa. Về tới Hà Nội cũng vắt tay lên trán nghĩ cả đêm. Nghĩ mãi không ra.

Hôm nay về quê, sau khi rời mộ con gái, Thông lại đi tới ngôi nhà nọ, như một thôi thúc bí ẩn không sao cưỡng nổi. Trong ánh chiều tà của làng quê nghèo, khi nỗi xót thương con chưa dịu lại, lần đầu tiên trong đời ông thấu hiểu thế nào là sự cô đơn và tĩnh lặng của kiếp người. Bên con chó đá hiền lành sứt sẹo phơi mưa nắng tự bao giờ đương nhấm nháp cái ánh sáng mờ mờ nhân ảnh phủ khắp thân mình, ông chợt nhớ lại rõ mồn một giọng khê nồng thuốc lào của một người đàn ông: “Nếu bất đắc dĩ mà có con đường đâm thẳng vào nhà, hay là có đền chùa ở trước nhà, thì cần phải chôn ở trước nhà một con chó đá, hoặc treo một cái gương ở trên cửa chính để yểm tà khí, một học giả nước ta đã dạy thế đấy!” Những ánh chớp lóe sáng tựa đèn Flah của cánh nhà báo những lần ông tới hội nghị cùng Bộ trưởng hay một yếu nhân nào đó. Trước mắt Thông hiện lên dần một người đàn ông khắc khổ dáng nhà nho. Ông ta xoa đầu con mực nằm khoanh bên cạnh mình và tâm tình như với một người bạn: “Mi chỉ coi được phần dương thôi, muốn canh giữ phần âm thì ta phải ”nuôi” chó đá, hiểu chưa?” Ngôi nhà ba gian có tường đá ong bao quanh, có cánh cửa bức bàn sao mà quen thuộc, thân thương thế! Cả dãy hàng hiên chạy suốt mặt tiền nữa, ở đó có mắc chiếc võng, trên đó, người đàn ông thường nằm đọc sách và ngâm nga những câu thơ của chính mình, bên cạnh là con mực nằm ngoan ngoãn. Trong căn buồng tối tăm chất đầy sách, có hai cọc sách dày bằng giấy bản toàn chữ Nho. Có lần người đàn ông lấy ra một cuốn sách, phủ nhẹ bụi khiến con mực lúc nào cũng cuốn chân ông phải thở phì và hộc khẽ lên một tiếng như trách yêu chủ. Ông chủ biết ý, xoa đầu nó: “Thôi nào, tao xin lỗi”. Nó từng chứng kiến ông chủ thắp hương thành kính, rồi cầm một cuốn sách giấy bản ố vàng ấp lên ngực khấn khứa: Lạy vua Từ Hải, lạy vãi Giác Duyên, lạy tiên Thúy Kiều... Qua những lời trò chuyện của con cái ông chủ với hàng xóm, mực biết rõ lai lịch ông: ông từng tham gia bộ đội huyện, bị thương, khi hòa bình lập lại, ông được đi an dưỡng, rồi chuyển ngành đi học trường HTX mua bán Trung ương. Đang học thì ông bị gọi về trong cuộc “Chỉnh đốn tổ chức và cải cách ruộng đất” kinh thiên động địa, bị giam lỏng tại đình để viết kiểm thảo về tội: tham gia Quốc dân đảng, gia đình thành phần bóc lột. Xét cho cùng, ông chủ vẫn còn hơn ối người bị oan sai khác: bị con đấu tố, bị đập đầu vào tường, bị đạn Muscơtông bắn phọt óc!… Những ngày đó, mực hay chạy tới đình, ghé mắt qua chấn song gỗ tròn nhẵn bóng để nhìn trộm ông chủ thân yêu. Còn tới đêm, nhớ ông chủ, nó lại ra cổng, đứng cạnh con chó đá để sủa lên những tiếng thê thiết như chó con lạc mẹ. Có khi, nó đứng đối diện với con chó đá để sủa, như sủa thi với tiếng kêu im lặng mơ hồ bị tru di tự thuở nào của chó đá…

Đến khi được minh oan, ông chủ được cử đi làm công tác sửa sai. Mực đã nghe ông ngâm một mình những bài thơ hồi bị giam lỏng, sau khi trải qua những năm tháng bị giặc khủng bố, tề hành hạ: Một mình trằn trọc canh chầy/ Nào ai có thấu lòng này oan khiên/ Nằm đây trải mấy tháng liền/ Nỗi lòng ai thấu ưu phiền chua cay…//…Gậy mình đập trúng lưng mình/ Đem tình giai cấp ra tình thù ta/ Cũng nhiều kẻ thừa cơ hám lợi/ Đẩy người ngay vào tội bất trung/ Đất bằng nổi sóng đùng đùng/ Nghiến răng cam chịu nỗi lòng oan khiên/ Vì cao quá nên trên chẳng biết/ Những kẻ gần cố níu làm sai…

Ông còn làm cả thơ chữ Hán, đọc sang sảng rung mạng nhện: Thập niên kháng chiến kỷ công lao/ Cải cách trung truy hóa địch tào/ Ư trung oan khuất thùy năng thức/ Duy hữu vì nhân tại tối cao. Rồi ông ngâm nga bài tự dịch thơ: Mười năm kháng chiến quả công phu/ Cải cách liền ngay hóa lũ thù/ Oan này chừng có ai hay thấu/ Chỉ có cha già ở tít mù!

Những lần đọc thơ đó chỉ có mực, không chỉ là kẻ trung thành tuyệt đối mà còn là kẻ tri âm. Rồi những điều “mục sở thị”, cùng những lời thơ Cảm hoài nghĩ cảnh bể dâu đã qua và thói đời trước mắt bằng giọng run rẩy thiếu dinh dưỡng mà thừa ảo tưởng chân thành của ông chủ giúp mực được biết nhiều nỗi khổ nhục của gia chủ không kém bị oan sai: vợ chồng ông phải tần tảo kiếm ăn từng bữa, trong khi đó, thuế nông chỉ có ba tạ hai thì bị đánh lên năm tạ; thóc già nộp thuế bị chê non nắng, bắt đem ra phơi lại; thiếu hai lạng cũng bị bắt lấy đủ, đành cho con hớt hải chạy về nhà lấy hai lạng nếp dành Tết nộp cho xong chuyện… Những ngày giáp hạt cả nhà ông méo mặt với bảy miệng ăn, chạy vạy gần xa hút chết… Nhưng sau những phiền muộn, lo âu, than vãn, lòng ông bao giờ cũng lượng cả bao dung, vẫn Ơn Đảng, Bác trước nay là thế/ Như trời bể xiết kể cho cùng. Ông tự khuyên mình và khuyên người “Chớ đem lòng thù oán”, mà ngược lại, “Sao bằng đoàn kết tương lân vui vầy”. Mực cảm nhận hết được điều đó qua sự trìu mến cảm thương của chủ đối với mình. Mấy đứa trẻ nhà chủ cũng yêu quý mực, coi mực như một thành viên khăng khít của cái gia đình bấp bênh về sinh mệnh chính trị và kế sinh nhai song tròn đầy tình thương và đầy ắp tinh thần giáo dục cổ truyền. Chó khôn không chê chủ nghèo. Lẽ thường là thế. Nhưng mực còn tự hào là đã được sống trong một ngôi nhà có ông chủ mang khí phách nhà nho cao khiết, như ông từng độc thoại giữa nỗi uất hận: Chỉ muốn nuôi dân luống đợi chờ/ Cứu dân, trừ bạo chẳng lơ mơ/ Di xú, di hương…thây những kẻ/ Ta rồi để lại mấy vần thơ…

Tiếc thay, trong một đợt đói dài sau đợt oan sai, khi đến cả thóc ranh, thóc kẹ, thóc gằn cũng chẳng còn một hạt trong nhà, con lợn nhắt phải đem cân bán, thì mực ta cũng lả dần đi vì đói, rồi ốm chết. Mực đựơc đầu thai vào một gia đình cốt cán bần cố nông…

Thông như sực tỉnh giấc mộng Kê vàng. Mới đó mà đã hơn một Hoa Giáp! Hóa ra, kiếp trước của ông là một con chó mực nghèo và trung thành tại chính làng quê chôn nhau. Mắt ông bỗng cay sè, tâm hồn chấn động. Không phải vì một mối cảm động nào. Không phải vì sự nhục nhã. Không phải vì nỗi xót thương cho thân phận mình hay thân phận những người chủ tốt bụng… Đúng hơn, chính là bởi tất cả những cái đó nhào trộn dữ dội trong chiếc cối xay thời gian không phân biệt quá khứ, vị lai, hiện tại. Cũng chính từ chiếc cối xay chẳng rõ ai đã phát minh ra này, ông đã vô tình đúc rút được bài học nhân sinh cay đắng: sự trung thành cũng có khi trở thành trò cười cho thiên hạ, tệ hơn, hóa ra vô nghĩa. Tuy thế, sự trung thành gần như không pha trộn, lai tạp, đúng hơn là không suy xét của một con chó giữ nhà tựa như một tấm gương thanh khiết giúp nó nhận rõ biết bao là sự bất công, sự tương phản trong cái làng nó sống: giữa khi có những người như ông chủ ấp ủ bao điều tốt đẹp cho đồng loại, từng đổ máu cho đại nghiệp Quốc gia mà luôn luôn túng thiếu nợ nần, thì lại có không ít kẻ chỉ to mồm hô khẩu hiệu, nhơn nhơn vu khống và vơ vét nhanh như chảo chớp, trong nhà lúc nào cũng thịt thà bánh trái ê hề. Con cháu họ mặt mũi hý hửng, tươi tắn, khôn ngoan, không như lũ con của người chân thành ôm bồ chữ Thánh hiền và mớ lý tưởng cao siêu này, lúc nào cũng ngơ ngác vụng dại như cọng sắn khô, xanh mướt như tàu lá… Thế rồi, như một thứ bản năng dần nâng lên thành triết lý não lòng, Thông đã hoàn toàn sống trong ký ức lộn ngược của kiếp trước. Ông đã dần biết cách tạo ra hai mặt, ba mặt, thậm chí bốn mặt của Lòng Trung Thành, ngoài ra, còn biết lấy sự trung thành của con chó để lợi dụng, làm chiêu bài hữu hiệu trong nhiều tình huống. Gió chiều nào theo chiều ấy chỉ là lối sống quê mùa! Trung thành theo kiểu bám đuôi voi hít bã mía cũng cổ lỗ rồi! Và đầu thai ở kiếp người, một con chó lên đẳng cấp Người cần biến sự Trung Thành hóa ra một thứ nghệ thuật siêu đẳng, thế mới bõ làm kiếp người… Đó là những tiếng thầm thì, đúng hơn, những lời kêu gào tự đáy sâu tiềm thức suốt một cuộc đời thường trực tâm niệm “quyền lực là chiến trường” của Thông.

Thời đại học, Thông đã phát huy được tối đa lòng trung thành và bản năng đánh hơi của loài chó bằng việc hăng hái tham gia vào đội Thanh niên Cờ đỏ: Thông luôn được nêu gương thành tích tóm được quả tang những đôi trai gái sinh viên ôm hôn nhau ở xó tối, bụi cây; đặc biệt là sự thính nhạy phát hiện ra những bài thơ, câu thơ “có vấn đề” chép tay hoặc truyền tai, các tác phẩm văn học hay chính trị “ngoài luồng” không được đưa vào giáo trình chính thống để cung cúc báo cáo đều đặn lên chi bộ lớp, đảng bộ khoa – trường. Chó vốn không có khả năng diễn xuất; con người cũng chỉ số ít có được khả năng này, nhưng Thông thì được trời thương, ban cho trọn vẹn. Khi có bạn học bị kiểm điểm lên bờ xuống ruộng, rồi bị đuổi khỏi khoa vì tội lưu trữ, truyền bá văn chương nghệ thuật phản động bôi nhọ chế độ, chính Thông là người duy nhất trong cuộc gặp chia tay ôm chầm lấy người bị anh ta hại mà khóc rưng rức. Khóc thực, chứ không cần đến Glysêrin tạo nước mắt giả mà anh bạn đạo diễn của Thông sau này hay dùng tới (để cho khuôn mặt khi khóc đỡ méo mó phản cảm trong ống kính!). Thông còn biết cách bày tỏ lòng trung thành và năng khiếu diễn kịch trước cả các chị nấu bếp, khiến bao giờ anh ta cũng được dành riêng một miếng cơm cháy chảo gang to đùng – niềm mơ ước của đa số thanh niên sinh viên cái thời mà họ phải cố thực hiện tốc độ ăn tập thể bát/giây để khỏi ngất xỉu vì đói trên giảng đường.

Sau đó, Thông được cử đi thực tập sinh tại một trường đại học danh giá nước ngoài, nhờ “những thành tích xuất sắc” mà chỉ ban lãnh đạo nhà trường nội địa mới đánh giá được hết tầm quan trọng của chúng. Thời gian này, Thông bắt đầu làm thơ, như một hành động tự thưởng, hơn thế, một chuyện xả hơi. Xả hơi sau những cuộc mua bán điểm, và chạy chợ như hầu hết các lưu học sinh Việt để mong có đôi tệp Đô la gài lưng phòng bị. Nhưng khác với những “bộ đội” [101] Việt bình thường ở các chợ hàng hóa trời Tây, Thông còn chú ý “đào công sự” cho sân sau, chuẩn bị chu đáo cho những cuộc “nhảy dù” vào thế giới quyền lực sau này khi có thời cơ. Và cũng không giống các nhà thơ khác, thơ ca đối với Thông thực ra chỉ là một phương tiện lăng-xê tên tuổi tốt nhất, và tạo điều kiện lý tưởng đánh vào tung thâm lãnh địa của những kẻ chuyên gây sự rắc rối trong những “vấn đề nhạy cảm”. Nhưng chỉ cần ông “hắt hơi” ra một bài thơ, hay chỉ một ý thơ nào đó là đã có một vài nhà phê bình có số má săn đón để viết lời bình, rồi biết bao đàn em, nhà doanh nghiệp xoắn xuýt lấy làm vinh dự được tài trợ in thơ, được tổ chức trình diễn thơ – nhạc thật hoành tráng cho ông ở những nơi mà các thi sĩ, nhạc sĩ thứ thiệt còn lâu mới dám mơ tới. Có người đang năn nỉ gạ xin được làm phim truyện nhiều tập về cuộc đời của ông, với tư cách là một nhà văn hóa thời đổi mới có đóng góp nhiều cho Đất Nước…

Và sau bao cuộc chinh phạt tận tụy thậm chí “bảo hoàng hơn vua” vì sự nghiệp làm trong sạch tư tưởng xã hội, Thông đã đựơc hưởng hầu hết những gì mà tiền tài danh vọng đã mời gọi, hứa hẹn: biệt thự, xe Lesus, những chuyến công du – hội thảo xuyên châu Âu, châu Á, hàm giáo sư, bằng tiến sĩ, và lũ đàn em trung thành đang mở chiến dịch để Thông sẽ có cả danh hiệu Nghệ sĩ Nhân dân nữa. Dường như mọi chuyện đều hanh thông, suôn sẻ, mọi con đường tới đích đang rộng mở với Thông.

Nhưng, ở đời ai học được chữ ngờ!

Trong những ngày cả xã hội tựa một cơn bão từ lớn tích tụ hàng triệu nỗi lo âu, sợ hãi, tức tối, căm giận trước thảm cảnh cá chết biển chết khắp miền Trung, có một nhà báo trẻ đứng ra cùng một nhóm các nhà báo, kỹ sư, luật sư, MC, nghệ sĩ trẻ dựng lên cái gọi là “Diễn đàn tìm sự thật cá chết”. Đúng là một lũ ngựa non háu đá, thích chơi trèo tự khẳng định mình mà làm tổn hại lợi ích quốc gia một cách khủng khiếp mà chúng không hề biết! Nhưng trước khi tìm ra được chút ít sự thật mà nhiều người đang mong đợi thì chúng bay cần phải được một bài học về sự lễ độ, thậm chí sẽ phải lao đao suốt đời vì đã không tuân thủ đạo đức nghề nghiệp giữa lúc vận mệnh quốc gia treo đầu đẳng! Thông bí mật chỉ đạo mở chiến dịch để truy quét, hạ bệ bọn trẻ dám liều mạng vuốt râu hùm kia. Đó là nghề nghiệp gia bản thành thạo của Thông. Dĩ nhiên, ông chẳng ra mặt. Chỉ cần ông vạch ra vài cái ý cơ bản là sẽ có lâu la răm rắp thực hiện một cách bài bản, có hệ thống lý luận vững chãi, nói chung là có học thức, trên cơ sở thả hỏa mù bằng tất cả những gì là mode thời thượng: phản biện với ngụy biện, tự do với dân chủ, tương tác truyền thông với hiệu ứng cánh bướm… Chỉ sau hai ngày, một thời gian tên lửa trong cái xứ sở cái gì cũng chậm như rùa, một chiến dịch như thế đã được tung ra trên khắp các phương tiện thông tin đại chúng. Ông chỉ cần ngồi nhà bật laptop, nhâm nhi ly Napoleon thượng thặng mà khoái chí rung đùi, vuốt cằm (tiếc là Thông chẳng có sợi râu nào!).

Bỗng có một status đập vào mắt Thông: “Này, ông Lý Thông! Chúng tôi biết là trong chiến dịch tồi tệ này, ông là người đứng sau múa gậy chỉ đạo. Chính ông và cả gia đình ông cũng đang bị đe dọa bởi một cái chết từ từ, thầm lặng nhưng khốc liệt đang treo trên đầu dân tộc này, thế mà sao ông chưa tỉnh ngộ, còn giơ bàn tay dính máu để đàn áp những thanh niên yêu nước thực sự, bằng chữ nghĩa cũng nhơ bẩn như tâm hồn ông? Thất vọng về ông quá! Đau xót cho những người có quyền lực như ông quá!”. Thông ném mạnh cái ly xuống đất, gầm lên, song tiếng gầm lại có gì the thé, tồi tội, đáng thương, tựa tiếng sủa của một con chó cưng quý tộc chỉ quen được vuốt ve chứ chưa bị mắng mỏ hoặc roi vọt bao giờ. Thông lập bập mở di động, rồi gào cho một đàn em luôn túc trực chờ lệnh ông: “Mày… Mày… Truy tìm ngay cái fây-búc có nic-nêm NTL! Nhanh… lên!”

Chỉ mấy ngày sau, stt. đó đã tràn ngập thế giới phẳng, và chiến dịch lịch sử do Thông khởi xướng, chỉ đạo mang danh mới của đám đông là: “Chiến dịch Lý Thông”. Tên tuổi ông nổi như cồn, và “đá” ném vào cái tên tuổi ấy nếu quy thành lượng vật chất chắc xây đủ mấy cái lâu đài!

Yến, con gái út của Thông đang chuẩn bị thi tốt nghiệp phổ thông trung học. Cô bé bị hành hạ khốn khổ trước những cái nhìn khinh thị, chế diễu, và những lời xì xầm của bạn bè: “Này, bộ phim Lý Thông cướp công và hãm hại Thạch Sanh đời mới bao giờ lên sóng nhỉ?” – “Xem nào, công chúa của kẻ sắp biến thành bọ hung vì hãm hại người vô tội có gì khác người không” – “Cạch nó ra nhé, kẻo mang vạ vào thân. Bố nó là kẻ gắp lửa bỏ tay người đấy” –  “Ô, thế ra lớp mình cũng có hậu duệ của Giave và Lý Thông cơ à?”… Bọn trẻ thời nay, dù có bị “bịt mắt bắt dê” để nhồi sọ bao điều ngớ ngẩn, hay bị lôi cuốn bằng đống trò kiểu “Tinh thần thể dục” của Nguyễn Công Hoan, cũng đã bắt đầu biết quan tâm đến thời cuộc theo cách cốt lõi và chân thực nhất có thể – chứ không chỉ theo định hướng của ông thầy và cha mẹ nữa.

Nhưng bọn trẻ của cái lớp 12A đó không ngờ nổi rằng, cùng với dư luận xã hội, chúng sẽ vô tình phạm một tội ác: đẩy Yến đến cái chết tức tưởi, thảm thương. Cô bé chịu đựng sao nổi hàng trăm ngàn mũi dùi chĩa vào cha mình, và cũng không thể nào chấp nhận nổi cha mình đã là kẻ đốn mạt như thế. Em tìm đến sự giải thoát tiêu cực như hầu hết những người có lòng tự trọng song yếu đuối và bất lực. Ước nguyện cuối cùng của em vỏn vẹn: Bố mẹ tha lỗi cho con. Con là đứa con bất hiếu. Song con không thể chịu đựng nổi nữa. Bố đã làm gì mà để cả xã hội khinh ghét, phỉ nhổ như thế? Con tin là bố có lý do chính đáng của mình. Nhưng bằng trí óc non nớt, con lại nhận thấy những người lên án bố có lý – cái lý cần thiết cho cộng đồng. Mong bố thực sự nghĩ tới bọn trẻ chúng con… Vĩnh biệt bố mẹ. Khi con chết, bố mẹ hãy đưa con về quê. Con gái bất hạnh của bố mẹ.

Mẹ Yến đã gần phát điên, gào thét, cào cấu chồng kịch liệt. Còn Thông đã dìm mình trong hàng lít rượu tây rượu ta để mong xoa dịu vết đâm tử thương vào tim mà ý thức tỉnh táo duy nhất còn nổi lên được phều phào: “Trời ơi, ta đã bị quả báo thật rồi sao?”.

Thông định rời con chó đá, ra mộ con gái để tâm sự, thành khẩn tạ lỗi với nó. Nhưng đôi chân ông đã trở nên nặng trịch. Không có giọt rượu nào nữa vào lúc này, sao tâm trí ông lại quay cuồng, điên đảo. Bỗng dưng, ông cảm nhận được đến tận cùng cái mát lạnh của nền đất nện quen thuộc ngày xưa… Bất chợt văng vẳng bên tai ông mấy câu hoài cảm của ông chủ cựu binh – nho gia: Di xú, di hương… thây những kẻ/ Ta rồi để lại mấy vần thơ. Rồi, như hầu hết những người Việt thực sự xưa – nay vào lúc hệ trọng hay nguy nan nhất, ông bất giác hướng tâm về đức Phật: “Cầu xin đức Phật, cho con trở lại làm kiếp con mực ngày xưa… Một kiếp bình an, dù bần hàn song thanh thản, không có thù hằn, đố kỵ, độc ác, với lòng trung thành nguyên thủy thuần hậu nâng đỡ cho hồn người…”

Dường đấng cao xanh cũng hiểu được ước nguyện chân tình của Thông. Toàn thân ông dần hóa thành một con chó đá. Có điều, nó không mang dáng hình của con chó đá cũ, mà tạc vào không gian một con chó sói căng mình lên, nhe nanh uất hận tru về nơi hoang dã…

Các ngôi chùa Việt thường có hai tượng hộ pháp Kim cương Thiện – Ác. Tại một ngôi nhà cổ bình dị ở một làng quê vốn nghèo xác và đang kiệt quệ kia, giờ đây đang hiện diện hai con chó đá cũng mang biểu tượng Thiện – Ác như vậy để bảo vệ phần âm đức, và mong răn dạy cho người đời chút bài học về Tình thương và Ân nghĩa đang mất dần đi.

11.

Trong những ngày Biển chết dọc duyên hải  miền Trung đó, Thế còn tới một thị trấn biển, và biết được câu chuyện này để có Âm bản về một “Chúc thư buồn”:

Ông X sống trong ngôi biệt thự nguy nga cách biệt một trời một vực với tất cả các ngôi nhà tồi tàn ở làng ông. Nhưng cảnh an nhàn đang bị đe dọa.

Đầu tiên là ông thấy triệu chứng khó thở kéo dài nhiều giờ, đó là điều khó hiểu với một người không phải là cuờng tráng song sức khỏe có thể được gọi là sung mãn như ông. Bác sĩ riêng đã loại trừ ngay cái bệnh buộc phải lập tức i-zô-lê (biệt lập), hoành hành bởi con vi trùng mang tên một nhà bác học Đức. Nơi ông ở cũng chưa đến nỗi phải suốt ngày đeo mõm chó cả khi ra đường lẫn ở trong nhà như thành phố Bác Ki nọ mù mịt bụi khói gần đây mà ông thường thấy trên phim, ảnh. Vậy thì với riêng ông không phải do ô nhiễm không khí! Phim chụp được xem xét kỹ lưỡng chỉ đi tới kết luận đó là phổi của một người bình thường, thậm chí khỏe mạnh. Song song với khó thở, trên thân ông bắt đầu xuất hiện những vẩy nến hình vây cá, thoáng nhìn thì tưởng đâu như sản phẩm của tục xăm mình đời xưa hay thói vẽ trang trí thời thượng. Những phác đồ điều trị của những bác sĩ giỏi nhất cả thành phố lẫn Trung ương đều dẫn đến những kết luận im lặng chất chứa ưu tư. Một người bạn học thuở cởi truồng tắm sông tới thăm để nhờ vả một suất công chức cho con trai, bất ngờ thấy ông chợt ngáp ngáp mà không kịp che dấu thì kinh hoảng kêu lên:

– Bác làm sao thế!

Ông vội lấy lại ngay phong độ quen thuộc của một quan chức đương quyền. Trước vẻ hối lỗi ra mặt của ông bạn vì đã vô tình chứng kiến khoảnh khắc thất thế của người mình đang phải quỵ lụy xin xỏ, ông cuời độ lượng:

– Không sao. Không sao! Chúng mình cũng đều sắp bước vào cái tuổi “lục thập nhĩ thuận” rồi còn gì! Tức là nghe tai này đưa sang tai kia!

Cả hai đều cuời vang làm cho câu đùa có thêm sự thâm thúy, tăng thêm tình thân mật bỗ bã. Nhưng, giá như ông bạn đừng thêm một lần nữa vô tình khi nhắc tới bộ phim Người cá của điện ảnh Liên Xô mà hai người từng xem thời chiếu bóng ngoài bãi. Ông bạn về rồi, ông chìm đắm trong hồi ức tuổi thơ xót thương cho nhân vật Người cá bị bọn xấu săn đuổi, bắt cóc để mò ngọc trai cho chúng, để rồi không còn khả năng thở trên đất liền được nữa, phải vĩnh viễn chia lìa người yêu và sống trong lòng biển cả… Tình xót thương đó chìm không sủi tăm có lẽ bắt đầu từ ngày ông cùng thế hệ ông được giáo dục căm thù vĩ đại, và sau đó bị bắn phá tả tơi suốt cuộc hành trình của ông chinh phục quyền lực. Dù sao thì ông cũng biết ơn người bạn nhắc ông nhớ đến cái thùng nước trong xà lim mà cậu thanh niên Ich-chi-an bị nhốt vào đó suốt mấy ngày đêm. Ông cho gọi đứa cháu nội đích tôn 10 tuổi vào. “Hình như có lần cháu muốn nhà mình có một bể cá vàng?” – “Vâng! Ông hứa với cháu lâu rồi mà” – “Ừ. Bây giờ ông sẽ thực hiện lời hứa. Nhưng… Bể cá để trong phòng ông nhé, để hai ông cháu ta cùng ngắm cá vàng. Ông cũng thích cá lắm”. Bể cá to hai ngày sau đã xuất hiện theo ứơc nguyện của thiếu gia họ Nguyễn. Bể cá không đặt trong phòng khách như thông lệ của các ngôi biệt phủ thời nay chẳng làm bà chủ và các thành viên gia đình thắc mắc nhiều, vì đó là ý muốn của đại lão gia đầy quyền uy. Ông còn cầy cục nhờ một người bạn quan chức ở Hà Nội lùng mua bằng được bộ tranh dân gian Hàng Trống “Lý ngư vọng nguyệt” mà theo bạn ông kể lại việc này cũng khó gần như tìm trăng dưới nước! Nể ông, người bạn đã vất vả tìm đến một nhà nghiên cứu mỹ thuật dân gian, ông này lại dẫn tới một vị buôn tranh, thế rồi, cặp tranh quý phô trương tinh thần yêu vốn cổ dân tộc chỉ sau một tuần đề nghị đã chình ình trong phòng ông, bên trên bể cá lớn. Nhưng trước khi có đôi bức tranh cá đủ đực cái này, chú bé thiếu gia đã sung sướng đến mê mẩn, vì những con cá vàng đang bơi lội tung tăng kia mới là kẻ biết tâm sự, biết chia sẻ với nó trong khu lâu đài bí hiểm với những người lớn thoắt hiện thoắt ẩn lúc nào cũng mang vẻ mặt nghiêm trọng chứa đựng mưu mô, toan tính căng thẳng. Nhưng niềm vui của cậu bé mau chóng bị ô nhiễm, khi một lần đi học về, nó vào phòng ông, thấy người ông đáng kính đang vùi cả mặt trong bể cá tranh hít thở không khí trong lành với những con cá vàng tội nghiệp quẫy đuôi tuyệt vọng khắp tứ phía. Nó hét lên như tường nhà đổ sập vào người nó, vì hoảng hốt nhiều hơn là vì thương ông hay lo cho số phận mấy con cá. Phải tới khi thằng bé bíu hai tay như đu vào vào người ông gào khóc, ông mới chợt tỉnh, giật đầu ra khỏi bể cá. Nước bắn tung tóe vào người thằng bé, rải ướt một khoảng tấm thảm nhung mà bình thường ông rất chăm chút giữ gìn. Ông giận mình vì sự bất cẩn quá đáng không được phép xảy ra: mọi ngày đi làm về, ông vẫn khóa kỹ cửa, phòng khi cơn nghiền ô xy hòa tan trong nước nổi lên như bão tố. Còn ra thể thống gì nữa: tranh nước với mấy con cá nhép! Ờ, nhưng nó là đứa trẻ con, cần lý giải thế nào chẳng được, bịp cũng chẳng sao, bởi mục đích mới là quan trọng, phương tiện đâu đáng kể! Ông chợt  hối tiếc là đã không dành thời gian để đọc truyện cổ tích để có kiến thức và cảm hứng lý giải sự kiện trên theo hướng huyền thoại hóa. Tuy thế, bản năng làm cha làm ông cũng đã được phát huy tối đa đặng yên lòng thằng bé: ông kể lại câu chuyện phim Người cá – bằng trí nhớ lõm bõm và thiên lương bẩm sinh của mình, rồi giải thích: ông muốn thử xem cái cảm giác của Người cá sau nhiều ngày bị tách rời môi trường nước ra sao thôi mà… Ông còn gài sẵn một tiền đề lý thuyết ngộ nhỡ sau này mọi chuyện vỡ lở, thằng cháu đỡ bất ngờ: đó là chuyện khoa học viễn tưởng cháu à, nhưng thực tế trên thế giới ngày nay đã cho thấy, không ít chuyện là viễn tưởng đã trở thành hiện thực… Thằng bé bị thôi miên trong câu chuyện Người cá tới độ quên phứt hình ảnh kỳ dị của ông lúc nãy, ngẩn ngơ tưởng tượng một con người cô độc bơi dưới đáy đại dương.

Nhưng sự cố trên đã không bị hòa tan trong muôn vụ việc ngớ ngẩn tầm phào hoặc biến mất giữa đời thường, nó trở thành sự kiện hệ trọng bí mật được truyền tai của các thành viên trong nhà, các ô sin, đầu bếp, làm vườn. Bắt đầu từ việc thằng bé đòi bố tìm trên mạng internet bộ phim cũ Người cá để xem đi xem lại dăm lần. Rồi sau khi cao hứng xi-nê mồm lại cho mẹ nó nghe, nó liên hệ tới chuyện ông chui đầu rất lâu vào bể cá. “Con biết bịa chuyện từ lúc nào thế?”- “Con thề. Con không bịa. Hôm nào bố mẹ rình mà xem”. Tò mò vốn là một đặc tính của trẻ con. Nhưng rình mò lại là một thói quen chẳng hay ho gì của những người trong nhà đã lây sang thằng bé. Nó đã bị rình mò khi kể chuyện, lại đến lượt nó rình mò người khác xì xầm chính câu chuyện do nó khơi ra. Và từ đây, chuyện chui đầu bể cá, cộng với những dấu hiệu kỳ lạ xuất hiện ở của ông chủ bịt chỗ này lòi chỗ khác đã không còn là chuyện hư thực lẫn lộn nữa, đã hóa sự thực kinh hoàng buộc người ta dần phải làm quen: ông ấy đang từng ngày từng giờ biến thành một con Cá lớn mà ngư dân vùng này những năm trước đây còn thường nhìn thấy hoặc đánh bắt được!

Từ ngày xin nghỉ dưỡng bệnh, ông đã tự thiết kế căn phòng riêng thành một pháo đài nhỏ, đề phòng sự đột nhập bất ngờ của vợ con, các cháu và người phục vụ. Ông đã cho làm một cái bể cá khác ngoài phòng khách, ngoài những con cá cũ chuyển ra còn có cá hề Nê mô theo yêu cầu của thằng cháu.  Còn bể cá trong phòng, ông bí mật nhờ một đàn em thân tín tới kê hộ tới một chỗ kín đáo (Ông không ngờ hậu quả là thằng này đã rỉ tai con vợ về ông, rồi chuyện loang tới khắp cơ quan. Nhục thế!). Khi cửa mở ra, trước hết mọi người sẽ chỉ thấy bộ bàn ăn mà theo lệnh ông, nguời mang đồ ăn chỉ được đem vào đặt rồi phải quay ra ngay, bát đũa bẩn cũng thế. Ông lụi hụi lôi tấm bình phong quý bằng gỗ quý khảm ngà voi được biếu năm ngoái bó gọn chờ dịp để biếu sếp cao cấp, đặt ở phía trái căn phòng, đó là nơi ông náu thân nhìn ra khi có người tới. Dạo này, đôi chân ông đã bị thu ngắn lại rõ rệt và mềm oặt, đi lại cực kỳ khó khăn, nhiều lúc phải di chuyển bằng cách lết người đi. Khổ nhất là khi vào toa-lét. Có lẽ phải đặt làm một đôi nạng đặc biệt. Nhưng nạng thì phải xử dụng tới đôi tay, mà đôi tay ông cũng đang dần teo đi, dúm dó, theo hình chiếc vây cá. Chả lẽ phải đặt làm cả đôi tay giả nữa? Tranh thủ khi chưa biến mất đôi tay với chức năng thiên phú của chúng, ông nén đau kiểm lại những gói tiền to như cục gạch hay chỉ là những phong bì giá trị bằng mấy cái “cục gạch” cộng lại mà người ta chủ động hay “vô tình” để lại phòng làm việc của ông tại tư gia. Thì đã có lúc nào rảnh rỗi để ngắm nhìn cho thỏa các đồ trang sức quý giá, những đồng tiền mồ hôi nước mắt (hay cướp đoạt) của người khác mà ông có được nhờ lao tâm khổ tứ (chứ không phải âm mưu) chinh phục người này (chứ không phải quỵ lụy) hay dạy bảo người khác (chứ không phải trừng trị) trong sự nghiệp công quyền mà cấp trên đã lựa chọn ông một cách xứng đáng nhờ vào lý lịch cống hiến đỏ chót và một truyền thống gia đình Cách mạng nòi. Ý thức cảnh giác chợt đến với ông trọn vẹn trong những ngày kỳ dị khó hiểu này. Ông bí mật gọi điện cho thằng cháu yêu (ông đã cho nó một chiếc điện thoại di động xinh xắn mấy tháng nay để liên lạc riêng với ông). Ông nhờ nó lén đi mua bộ đục khoét của thợ nề. Khốn khổ cho thằng bé, bị bố phát hiện ra bộ đồ nghề này trong ngăn bàn học. Nó chưa học được thói dối trá của người lớn, tái mặt khi bố tra hỏi. Ông con trai hùng hổ tới phòng bố. “Ông sai cháu nó mua mấy thứ này làm gì ạ?” Sau bức bình phong, ông thểu não bằng giọng rin rít khê nồng: “Thì để bố luyện đôi tay cho cứng cáp thôi mà…” – “Thế ông đục tường hay đào nền nhà?”. Ông bỗng vô cớ nổi xung lên:” Thì đào cái mả mẹ chúng mày ấy! Đồ bất hiếu bất mục!”. Ông con ngán ngẩm ném choang bó búa đục giữa nền nhà. “Tùy bố, bố muốn làm gì thì làm. Chỉ là chúng con lo cho bố thôi”. Thế là đi tong một ý đồ hay ho. Chả là, ông đánh hơi đựơc một cuộc “đả hổ diệt ruồi” mô phỏng nào đó sẽ diễn ra nay mai. Ông cần tìm cách chôn giấu của nả làm vốn riêng dành cho tuổi già. “Đồng tiền liền khúc ruột” mà. Vậy là âm mưu của ông đã bị thằng quỷ sứ vô tình bóc mẽ! Nó đã phá của ông biết bao là tiền của trong lần đi học nước ngoài mà ông sĩ diện bảo hàng xóm là “đi bằng học bổng toàn phần”! Mấy năm ở xứ châu Âu đắt đỏ, nó tranh tài “vung tay đốt xô nhà táng” với các quý tử Đỏ phương Bắc, chẳng biết có lọt vào đẳng cấp nào không song đã kịp trở thành một truyền nhân xuất sắc của Đông Joăng (Ông biết đến tên tuổi anh chàng sát gái trời Tây nọ qua tay thư ký Ủy ban xuất thân là giáo viên văn hết lộc gõ đầu trẻ lại bén duyên hoạn lộ). Vớt vát được cái chứng chỉ mác ngoại, nó về nước, ông phải chạy vạy tốn kém không kể xiết để nó vào chân trưởng phòng một ngành nghề béo bở, kiếm chác sao cho hòa vốn trong lúc chờ đợi cơ cấu mới cho cán bộ nguồn lớp trẻ. Cũng may trời thương nên nó đã biết chí thú làm ăn theo hướng đạo của ông, lấy vợ sinh con, và ông có kẻ nối dõi tông đường. Dù kiến thức khoa học lượm lặt từ trời Tây về chưa được đầy nắm tay, về mặt thủ đoạn quan trường xem ra nó có thể vượt qua ông. Nhưng về mặt “đạo đức tiền bạc”, cần phải thử thách nhiều, nó có máu “trăm ngàn đổ một trận cười như không” trước gái đẹp được thừa hưởng từ dòng giống nhà ông. Đúng lúc đó, vợ ông đi qua, bĩu môi ừ hữ một cái rõ to: “Kệ ông ấy! Đang tu nhân tích đức đấy mà!” Lần đầu tiên biết rõ tình cảnh khốn nạn của ông, bà ta tới đứng trước phòng ông khóc hờ như ông đã về nơi chín suối. Thực lộn ruột! Bà ta đang tuổi hồi xuân, xét về khía cạnh đó thì chưa phải là nỗi lo lắng lớn nhất của ông. Bà ta bí mật qua lại với những kẻ ham của lạ nào cấp trên của ông, ông thừa biết song đành “ngậm bồ hòn làm ngọt”. Làm to chuyện ra, thiên hạ lại có cớ xiên xẹo: đã đem vợ làm bậc tiến thân mà còn cay cú. Dại mặt. Lại tự chặt cầu của mình. Không khéo, vợ ông sẽ là kẻ “nuôi ong tay áo”. Nhiều vụ đưa – nhận hối lộ là do bà ta đứng ra thay ông. Cũng có vụ, bà ta dám vượt qua mặt ông để mặc cả với hai bên – đối tác và ông. Lòng tham của một người đàn bà ít nhiều có nhan sắc khi đã thức tỉnh “bản mặt kim tiền” thì thực là hỏa ngục đối với chính họ và những người có liên quan. Nhưng hỏa ngục ở đây lại có gương mặt của những giá đồng Mẫu Thượng thiên, Mẫu Thượng ngàn, Mẫu Thoải. Mấy năm qua, bà ta đã “lên thác xuống ghềnh” khắp các phủ đền Bắc – Trung – Nam, lại tự lập một đền Mẫu ngay tại nhà và làm thủ lĩnh một đám đông con nhang đệ tử cuồng nhiệt. Chủ yếu là bằng tiền của ông chứ đâu phải lá đa nhặt ngoài đường hay ăn mày Phật – Mẫu! Toàn bộ tầng tư của tòa lâu đài là thế giới riêng của bà ta, và chắc hẳn có một căn buồng riêng dành đón tình nhân mà từ nay trở đi, ông chỉ có thể “bái vọng” từ dưới lên! Nghĩ mà căm.

Thôi kệ, có lẽ ông phải tập Thiền tự bây giờ. Đâu rồi nhỉ, cuốn sách tập Thiền người ta tặng năm nảo năm nào, đang ẩn náu ở đâu rồi? Phải bảo thằng cháu lục khắp xó xỉnh để tìm bằng được. Nhưng cái ý chí của những người mong lấy sức mạnh tĩnh tại nội tâm làm chủ ngoại giới vừa xuất hiện cổ vũ ông thì cũng là lúc ông cảm thấy những cơn đau buốt khắp tứ chi đang đến thời kỳ thoái hóa kịch liệt. Sự bàng hoàng kinh sợ ban đầu qua đi, ông dần dà thấm thía nỗi đau đớn tâm can giày vò, nó lấn át nỗi đau thể xác. Những kẻ hàng ngày xun xoe bợ đỡ ông để được ông chú ý nâng đỡ hoặc mong lợi dụng ông, từ ngày biết ông lâm cái nạn vô phương cứu chữa thì biệt tích, mịt mù tăm cá! Vì đâu mà ta nên nông nỗi này hở giời? Trời – Phật ở xa quá, mà bao năm nay ông có thèm ngó ngàng gì tới các Ngài đâu, thậm chí phỉ báng như một kẻ vô thần đầu bảng, mong phép thần cứu giúp chỉ là ảo tưởng!

Cũng may là có một người trần còn có lòng thương thực sự đã giúp ông trong đận gieo neo này: đó là ông lão làm vườn cho nhà ông theo buổi. Thường ngày, có bao giờ ông hạ cố nhìn tới một kẻ lao công hạng dưới đáy làng xã như lão, chứ đừng nói tới trò chuyện để hiểu về gia cảnh, tâm tư của nhau! Đứa cháu đích tôn dường cũng bằng trực cảm trẻ thơ nhận ra tấm lòng ông Bụt ở lão làm vườn. Những việc ông nhờ nếu vượt quá sức của nó, nó liền chạy tới ông Bụt. Như việc mua đồ đục đẽo tường gạch và xi măng. Như việc mua một ống bơm nước nhỏ từ bể cá tới miệng ông cùng cách vận hành thuận tiện nhất đối với một người mà chuyện đi lại và xử dụng mọi vật dụng đã tựa cực hình… Lần đầu tiên, ông có vẻ khó chịu, ngượng ngùng trước ông lão tình nguyện đến giúp ông từ việc trở mình, ngồi dậy, bón cháo, thấm từng chiếc khăn đẫm nước lên mặt đến những việc khó khăn vất vả trong nhà vệ sinh. Nhưng, ông không nhận thấy bất cứ một sự ghẻ lạnh, khinh ghét, ghê sợ nào từ ánh mắt cử chỉ lão, ngoài một thoáng ngạc nhiên ban đầu để rồi thay thế bằng một niềm xót thương, sản phẩm nguyên thủy nhất của lòng nhân từ. Ông bắt đầu láng máng nhớ lại những câu chuyện, những lời ca của bà năm xua đu võng ru cháu kể về lẽ đời quả báo, tham thì thâm, người tốt được đền bù kẻ xấu bị trừng phạt ra sao… Ông lão làm vườn khắc khổ, ít nói ít cười, làm cái việc do thằng bé nhà chủ nhờ vả như một sứ mệnh làm người vậy, không hề cò kè đòi hỏi công xá. Khi ông chủ rụt rè dúi hai tờ 100 ngàn đồng vào tay lão, lão giật tay ra như phải bỏng, nhìn lên ngơ ngác. “Tôi lĩnh tiền làm vườn rồi ông ạ. Xong vườn, chưa hết giờ, tôi giúp ông thôi”. Lâu lắm, giờ đây ông mới ước ao được dào nước  mắt cho vơi nỗi cô đơn và biểu lộ lòng biết ơn chân thật. Nhưng đôi mắt ông đã dần biến thành mắt cá chỉ có thể mở thao láo cả khi sống lẫn lúc chết ngửa bụng, và các dòng máu trong người ông đã gần lạnh tanh như máu cá mất rồi! Muốn khóc mà không sao khóc được phải chăng cũng là một nỗi đau đớn tinh thần đáng kể trong sự trải nghiệm đầy rẫy những tả pí lù của cuộc sống mà tới tận hôm nay ông mới cay đắng nhận ra? Lần đầu tiên, sau bao năm tháng dài ngầu đục tham vọng, ông mới lờ mờ nghiệm thấy: tình thương mới là điều cần thiết nhất, quý giá nhất trong cõi đời ngắn ngủi này… Dù sao thì lão làm vườn, như một quản gia trung thành tận tụy đã giúp cho ông bớt đi bao nỗi nhọc nhằn khổ sở trong việc Tồn Tại với tư cách là một Sinh vật-Người suốt hai tuần lễ liền.

Một buổi chiều tối, lão mang khay đựng cháo vào phòng ông chủ (Con trai ông và mấy ô sin đã ngán ngẩm làm việc này quá đỗi, và có bữa đã quên, để ông nhịn đói. Mặc dù dạ dày cùng phủ lục ngũ tạng đã bị teo đi, bị lấp gần hết bởi các bong bóng, ông vẫn còn chút cảm giác sinh học cuối cùng này của con người). Sau khi lão cho ông chủ mút mát được ít cháo bí ngô (cũng là do lão cầy cục nấu bằng lá khô vun trong vườn), lão nhẩn nha kể tiếp về gia cảnh mình. Chuyện bà vợ mất vì ung thư, chuyện hai thằng con trai đã hy sinh ở chiến trường thì ông đã kể. Còn chuyện thằng cháu trai độc đinh của lão, thê thảm quá, giờ lão mới kể, khi thấy tâm tư của ông chủ bớt xáo động trước thân thể mới, và xem ra đã có vẻ biết quan tâm đến người khác thấp kém hơn mình, dù chỉ để san sẻ bớt nỗi đau… Nó mồ côi cha năm 7 tuổi. Mẹ nó bỏ ra thành phố với người đàn ông khác. Lão phải gà trống nuôi cháu. Khi nó học hết cấp hai, lão không còn khả năng cho nó học tiếp được nữa, đành cho theo lão lên thuyền câu mực kiếm sống qua ngày. Rồi nó cũng trở thành một chàng trai vùng biển lực lưỡng. Vì giỏi bơi lội và sức khỏe tốt, nó được một công ty du lịch tuyển vào làm hợp đồng, chuyên giúp khách du lịch mạo hiểm lặn đáy biển. Nó say công việc lắm. Tối về nhà, nó thường kể cho ông nội nghe không biết chán về những rạn san hô, những đàn cá và muôn loài sinh vật kỳ lạ dưới biển. Nó đã thổ lộ với lão: nó muốn học bổ túc hết cấp ba, sau đó xin vào học ngành Hải Dương học, theo gợi ý của một du khách cảm phục lòng yêu biển của nó và hứa tạo điều kiện giúp nó thực hiện mơ ước. Nó đã cầy cục xin, mượn biết bao là sách liên quan tới biển đảo: lịch sử, văn hóa, du lịch, kinh tế Biển, những thương cảng sầm uất của quốc gia Đại Việt… Lão đã thuộc tên nhiều cuốn sách nó mang về: Bảo tồn đa dạng sinh học dải ven bờ Việt Nam, Luật Biển Việt Nam, Kể chuyện Biển Đảo Việt Nam, Hoàng Sa – Trường Sa là máu thịt của Việt Nam, Lý Sơn đảo du lịch lý tưởng, v.v. Lão đang nhờ nó chọn đọc và giảng giải từ mấy cuốn sách mà theo lão nghĩ rất cần thiết đối với lớp người cùng đinh như lão. Tối đó, lão chờ nó về để đọc nốt cuốn Hoàng Sa – Trường Sa nghiên cứu từ sử liệu Trung Quốc. Mâm cơm lão để phần, nó không buồn động đũa bát, mặt nặng như chì lưới. Gặng hỏi mãi, nó mới thốt lên nặng nhọc, như mếu: “Chết hết rồi” – “Cái gì chết?” – “Biển chết rồi… Các rạn san hô… Các con cá… Các con sò.. Chết cả rồi…”. Nó bất giác ôm mặt khóc rưng rức. Chỉ hôm sau, cá chết nổi lên trắng xóa dọc biển hàng chục cây số, cả trên bờ lẫn dưới nước… Lão kể đến đó thì chợt dừng lại khi thấy vẻ mặt nhăn nhó của ông chủ. “Đau xót quá! Đau xót quá!” – Ông chủ thốt lên. Lão làm vườn nghĩ rằng mình đã tìm được sự đồng cảm, nên hăng hái kể về những diễn biến sau đó làm chấn động vùng biển quê lão và gây nên cả một cơn bão tâm tư khắp nước, khắp thế giới. Lão nghĩ đúng. Nhưng lão không thể biết, cảm thán của ông chủ là chân thực chỉ trong giây phút đó, còn ở trong những ngày bi thảm của biển hơn tháng trước, nỗi đau xót ấy nghiêng nặng về mối lo quyền lực riêng sẽ bị lung lay, đe dọa. Lời lão kể đầm nước mắt, khiến ông chủ cũng phải ngậm ngùi: Ngay hôm cá chết hàng loạt, thằng bé rủ hai người bạn mặc đồ lặn xuống biển. Chúng nó nhìn thấy một ống xả khổng lồ dài khủng khiếp chạy ngầm từ  Tổng công ty X chọc thẳng tận đáy biển. Xung quanh và bên dưới ống xả, màu nước biển chỗ vàng khè chỗ đen tựa hắc ín, khắp một vùng rộng quanh đó không còn sinh vật nào còn sống sót, cá chết sếp thành chồng, tảo biển và san hô cũng thâm sịt cả lại. Chúng vội ngoi lên trong nỗi kinh hoàng chưa từng gặp trong đời. Hai đứa sau đó gặp nhà báo và quan chức môi trường kể lại, rồi từ hôm đó biến đi đâu mất, gia đình, bè bạn không ai biết mảy may tin tức. Còn cháu lão… Lê về tới nhà, mặt nó đã xám ngắt. Nó nôn thốc nôn tháo ra mật xanh mật vàng pha lẫn một thứ nhầy có màu sắc thực kinh dị. Đưa tới bệnh viện thì nó tắt thở, bác sĩ nói nó đã bị nhiễm độc rất nặng…

“Trời đất ơi! Ngờ đâu số phận nghiệt ngã lại rơi trúng cháu lão làm vườn tử tế đây!” Sau khi bật cảm thán nội tâm học lối xuống xề cải lương mà ông ưa thích, ông tìm cách lựa lời an ủi lão thì thằng cháu đích tôn đột ngột phá tan sự nặng nề. Hóa ra, nó đã ở trong phòng ông từ bao giờ và nghe được hết mọi chuyện.

– Hai ông ơi, thế liệu có còn người chết nữa không ạ?

Ông nghệt mặt ra ú ớ. Lão làm vườn cũng ngắc ngứ. Nếu là mọi khi, ông sẽ chỉnh thằng bé về cách xưng hô: không thể nói gộp “hai ông” như vậy, vì thế là xóa nhòa đẳng cấp giữa ông và người lao công thấp hèn. Nhưng cái bài học đạo lý thời mới rất xứng đáng với gia phong nhà ông đó bỗng trở thành nhảm nhí trước nỗi đau đớn vô hạn của lão Bụt – theo cách gọi của cháu ông. Một ý vụt đến tựa phần thưởng muộn mằn đối với ông: bản chúc thư đang viết, ông sẽ thêm vào phần phân chia tài sản, trong đó có một khoản lớn dành cho quỹ học bổng ngành Hải Dương học, một khoản trợ cấp nhỏ dành cho lão làm vườn…

– Ông nội ơi, cháu ra biển tắm nhé!

Ông thở hắt. Lão làm vườn vội đưa ông cái khăn đẫm nước đắp vào mặt. Ông gần như gào lên giữa cơn nghẹn thở:

– Không được! Chưa… Chưa được đâu cháu! Cháu không nghe chuyện vừa kể à? Biển nhiễm độc rất nặng… Chết cả cá voi nữa kia…-

– Nhưng mấy tuần trước ở tivi chúng cháu nhìn thấy ông và cả cơ quan ông xuống biển tắm cơ mà!

Ông á khẩu. Mắt cá đã trợn càng lồi hơn. Lẽ nào, ông phải giải thích cặn kẽ cho nó hiểu sự thật, trước mặt ân nhân của ông nhưng thực ra là nạn nhân của sự dối trá mà ông là một đại diện… Lão làm vườn ngạc nhiên nhìn thằng bé như Mai ka trên trời rơi xuống. Lão và cháu trai không có tivi để chứng kiến cảnh ông chủ đáng kính hô hào mấy người thân tín của mình cùng xuống biển tắm, rồi ăn cá biển, cua biển ngon lành trước ống kính máy quay. Nếu xem được cảnh đó, vốn là người thật thà lương thiện không biết đến công nghệ kỹ xảo lẫn nghệ thuật diễn xuất, chắc chắn lão sẽ đứng bật dậy kêu to: “Dừng lại đi! Biển đang rất độc! Báo chí nói là cực độc! Sao các vị làm thế!”. Và lão sẽ mất ăn mất ngủ vì lo lắng thật sự cho tính mạng của người đem tính mệnh ra đùa rỡn với thần chết. Nhưng người không có ý định đùa rỡn hoặc lừa bịp ai cả là cháu trai lão đã phải chết bất đắc kỳ tử! May sao, lão chẳng còn tâm trí nào, và cũng chưa có thời giờ để nghĩ tới cùng kỳ lý đến vậy. Cảm thấy đã lưu lại quá lâu và lạm dụng tình thân của ông chủ, lão xin phép ra về: “Hôm nay là ngày giỗ tuần chung thất của cháu tôi mà. Nhưng nếu cần gì ông chủ cứ ới qua cậu  nhỏ đây một câu là tôi có mặt ngay.” Lão lật đật quay đi.

Niềm lưu luyến cảm động của ông chưa kịp trào lên để làm khổ trái tim cá thì đã bị thằng cháu cắt đứt:

– Ông ơi! Báo chí loa đài nói ra rả là biển đã sạch rồi, cháu đi tắm biển đây! Mọi người làm theo ông thì được, sao cháu lại không?

Nói rồi, không chờ phản ứng của một con cá-người mà chỉ thằng bé mới hiểu nổi, nó chạy vút ra khỏi nhà. Ông run lên, sau đó là giãy đành đạch lên giường cả thân mình đã phủ kín vây cá. Bố mẹ nó đi vắng. Bà nó thì đang nhảy múa trên lầu thượng. Ông phải làm gì để ngăn thằng bé lại bây giờ? Nhờ hệ thống loa đài công cộng nhan nhản khắp nơi ư? Nhưng ai sẽ giúp ông đưa tin lúc này đây? Liệu thằng bé có chịu nghe không? Vả lại, lời nói và hình ảnh ông còn trơ trơ giữa không trung kia kìa, lẽ nào ông tự vả vào mồm mình! Nhưng để cứu lấy tính mệnh kẻ nối dõi tông đường, ông sẵn sàng làm bất cứ điều gì! Ông định vượt mặt David Copperfield[102] mà không đủ bản lĩnh như ông ta. Nhưng mà biển đang ngắc ngoải kia cần cóc gì cái bản lĩnh của ảo thuật gia! Chẳng lừa nổi được ai nữa thì khốn khổ chưa, thằng cháu ông lại là nạn nhân! Nếu nó thoát nạn được lần này, thì còn biết bao lần nữa biển sẽ mời gọi và đe dọa nó. Biển đã chết, bao giờ mới sống lại? Và có gì đảm bảo là biển sẽ không bị bức tử nhiều lần nữa? Thằng con trời đánh liệu có sức lo cho cháu ông được tắm biển ở nước ngoài suốt đời được không? Trong những giây phút cuối cùng thoát thai phận người để trở thành một con cá ươn đích thực, ông đã sống trọn vẹn nhất tình cảm của một con người: nỗi lo âu trĩu nặng cho số phận và tương lai của cháu ông. Lát nữa cháu về, ông sẽ bảo nó viết hộ thêm ngay dòng Di chúc này, kẻo quên mất thì khốn: “Sau khi tôi chết đi, xác của tôi nếu có đem hỏa táng thì tuyệt đối không được thả tro rắc xuống Biển. Nếu chưa làm được gì để cứu Biển, thì đừng làm cho Biển bị ngộ độc thêm nữa…”.

[101] Tiếng lóng chỉ những người Việt từng lăn lóc buôn bán ở các chợ hàng hóa tại các nước Đông Âu, Liên Xô.

[102] David Copperfield (sinh năm 1956): ảo thuật gia người Mỹ nổi tiếng.

This entry was posted in Văn and tagged . Bookmark the permalink.