Lê Huỳnh Lâm

Bùi Giáng – nhà điêu khắc Lê Công Dũng
Rất nhiều người khi viết về di sản thi ca đồ sộ của Bùi Giáng, thông thường theo tập khí chỉ bình thơ, chiêm ngắm lớp vỏ bọc ngôn ngữ của ông và bị rừng rậm ngữ ngôn của thiền thi họ Bùi nuốt chửng, khiến người viết lạc vào mê cung của ông lúc nào không hay. Nhưng mê cung ngôn ngữ của Bùi tiên sinh chính là “lâm đạo”, tức đường đi trong rừng. Ở trong đại ngàn tâm thức đó, mọi người phải tự tìm cho mình một lối đi, còn không thì sẽ như kẻ mù lòa không thấy đường, mất phương hướng…
Mà với ông Bùi Giáng; một người thơ, một triết thi, thiền thi, một kẻ ta bà khắp các cảnh giới; từ nỗi đau ly biệt, đến sự thiêu đốt niềm mê đắm, từ Biên Hòa thần kinh viện, đến lăn lóc bụi bờ đầu đường xó chợ, diễn vai ăn mày, vai gánh chai bao, vai du côn, vai vũ công thượng hạn, ưa là điên, thích là tỉnh, ưa là ngủ triền miên, vui là thức mênh mông chi xứ…
Suốt đời phải thức suốt đêm
Suốt ngày ngủ nướng mới nên con người
(Gõ cửa tồn sinh)
Và
Bây giờ anh dại anh điên
Biên Hoà Bệnh viện bình yên anh về
(Tình thứ nhất)
Hay
Rằng nay ngôn ngữ vô duyên
Mở ra vô cố lời điên cập kè
(Kỷ niệm Biên Hòa bịnh viện, tập Đười ươi chân kinh)
Và ở chốn vỉa hè, góc phố, xó chợ đầu đường, Bùi đại ca đã rất rõ biết chuyện nhân tình thế thái, kể cả diện kiến với máu me:
Anh vẫn tưởng đầu đường thương xó chợ
Ai có ngờ xó chợ cũng thương nhau
Hồn tan vỡ song đôi trong hơi thở
Ôi đầu đường ôi xó chợ nơi đâu
Là nơi đó chốn kia anh rất rõ
Trong máu me từng khoảnh khắc sơ đầu
(Tình thứ nhất)
Một thiền thi như vậy, thì tác phẩm của ông sẽ khiến người bình thơ rất khó khăn nếu không muốn nói là bế tắc hoặc rơi vào nhận định chủ quan… Người bình thơ Bùi Giáng càng cố để hiểu thơ ông, thì càng xa rời con người ông và thơ ông, kiểu như đem con để hiểu mẹ hay lấy hữu hạn đong đếm vô cùng.
Đến với thế giới thi ca của Bùi Giáng là đến với bát nhã, để đi vào không lộ, đường không đường, lối không lối, đến bằng tinh thần đoạn diệt mới có cơ may thể nhập vào ngữ nghĩa của thơ Bùi Giáng.
Xuân về xuân lại xuân đi
Đi là đi biệt từ khi chưa về
(Lời cố quận)
Hay
Thăm núi đồi thì viếng cả mông lung
Và thăm viếng là không viếng thăm riêng cái gì cả
(Ngàn thu rớt hột)
Kiểu thơ mà mấy từ sau, tự phủ nhận mấy từ trước trong cùng một câu, kiểu phá chấp như tinh thần bát nhã vậy thì thơ đó chỉ dành cho hành giả nghệ sĩ trì đọc liên tục, ngẩn ngơ trước biến động cuộc sống, soi chiếu liên tục tâm thức mình may ra mới thấu cảm được. Dưới đây là những câu thơ khiến nhiều người đọc, các nghệ sĩ trầm tư suy tưởng, cũng với cái điệu thể ngữ ngôn xuôi ngược, ngược xuôi… Có thể có nhiều người cảm nhận nhưng không tài nào lý giải, đó là điều độc đáo trong thơ Bùi Giáng. Cũng như những bài kệ của các tổ thiền tông khi trao công án cho đệ tử vậy, trực chỉ chân tâm…
Em đi từ tỉnh mộng đầu
Hết vui hết khổ hết sầu trăm năm
(Đi và về)
Hay
Người con gái lội qua khe
Bàn chân với nước lạnh đè lên nhau
Nỗi niềm tưởng lại xưa sau
Bàn chân với nước cùng nhau lại đè.
(Bàn chân vơi nước, tập Lá hoa cồn)
Với tôi, bốn câu của khổ thơ trên như một thông điệp của định nghiệp từ xa xăm tiền kiếp, mang mang tinh thần Hoa Nghiêm trùng trùng duyên khởi, nhưng cái tài tình của Bùi Giáng là chỉ với một động từ “đè” đã khiến bao liên tưởng từ quá khứ ập về như một bản năng gốc từ di truyền học, sự đối ngẫu giữa cái tĩnh và cái động, giữa cái riêng và chung, giữa một và tất cả, giữa mơ hồ và cụ thể… Mọi sự tương tức tương nhập, tương dung tương nhiếp.
Xin được gọi ông Bùi Giáng vốn là một đại sư lập tông phái thiền thi đầu tiên và cuối cùng của thế kỷ 20, dù ông không nghĩ đến điều đó và không muốn bị gán như vậy. Bằng con đường trí huệ qua ngôi lời, Bùi Giáng đã vứt bỏ phương tiện ngôn ngữ của trần gian theo kiểu luận lý học, lôgic học hay cấu trúc học,… với Bùi Giáng chỉ còn âm thanh chuyển động xuyên qua ông để được giải mã qua hệ ngữ ngôn vụt hiện của riêng ông nhằm gửi lại trần gian khổ lụy chút hy vọng le lói của sự phá chấp toàn diện và triệt để nơi thể cách thị hiện của đời sống ông cũng như cách ông lập ngôn và phá ngữ trong thể điệu thi ca của riêng mình.
Bồ đề tâm nguyện dấn liều
Cuộc cơn bồ tát lục triều như lai
(Ấn Độ ca, tập Đười ươi chân kinh)
Đối với ái tình, thiền thi Bùi Giáng sẵn sàng dâng trọn thân tâm một cách quyết liệt để phụng hiến cho nàng, dù nàng ở đây có thể là chân tâm, là tánh không… Hình ảnh đui mù trong câu thơ của Bùi tiên sinh, gợi lên ở người viết một Du Thản Chi đã móc đôi mắt mình hiến tặng cho A Tử đang bị mù trong truyện kiếm hiệp kỳ tình Thiên long bát bộ của tác gia Kim Dung. Nhưng có thể đui mù với Bùi Giáng là quay về hướng vào bên trong để nhận diện bản tâm chân thật, rỗng không mà diệu hữu chứa đựng tất cả nhưng mảy may không dính mắc điều gì.
Tôi xin chịu cuồng si để sáng suốt
Tôi đui mù cho thoả dạ yêu em
(Phụng hiến)
Không hiểu sao, khi đọc hai câu thơ trên trong bài Phụng hiến tôi liên tưởng đến hai câu trong bài Tình sầu của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn: Tình yêu như trái phá / Con tim mù lòa. Cuộc sống vốn là một trường liên tưởng biến hiện.
Trong trần gian này, khi mọi hình thức, mọi biểu hiện rập khuôn đều trở nên sáo mòn, tạo nên bầu tử khí phủ lắp không gian sáng tạo, điều đó bao trùm cả cuộc tồn sinh nhân tình thế thái, từ mỗi chiếc áo, mỗi bộ đồng phục, dáng đi, kiểu tóc, mùi hương, âm thanh, khẩu vị, từ lời nói đến chữ viết,… rơi vào ma trận của sự lặp lại, chấp trước. Bùi Giáng đã thấy rõ điều này và ông chọn cho mình một lối sống dị thường nhưng rất diệu tưởng.
Chúng tôi người ngợm vô thường
Lúc mê man lúc chán chường thể thân
(Lời người điên)
Hay sự nhàm chán của đời sống thường nhật đã khiến ông nhận ra:
Dẫu rằng bước chậm bước nhanh
Tuy nhiên bước bước vẫn loanh quanh hoài
(Anh điên)
Như trên đã nói, khi một hiện tượng trở thành quá quen thuộc thì sẽ dẫn đến nhàm chán và mất tác dụng dẫn dụ, cũng như không còn hấp dẫn cuốn hút mọi người. Ông Bùi Giáng quá thấu cảm điều này, nhưng giữa chọn ẩn dật và lãng đãng du hí, thì có lẽ với kiểu rong chơi đệ nhất không theo một quy tắc nào của ông trong thời đại ông đang sống sẽ diệu dụng hơn. Vì vậy mới có du thi:
Sài Gòn Chợ Lớn rong chơi
Đi lên đi xuống đã đời du côn
Hay
Đây Mỹ Tho Cần Thơ Châu Đốc
Long Xuyên ơi và Sa Đéc em ơi
Trời kỷ niệm đi về trong đáy mắt
Thổi dư vang từ dĩ vãng xa vời
(Chào thu lục tỉnh)
Với cái đẹp của đấng tạo hóa vô hình ban tặng, ông khuyên chúng ta hãy vô ngôn khi đối diện, bởi khi dùng ngôn ngữ để ngợi ca hay tung hô thì cái đẹp đã giảm mất bội phần.
Giập đầu vái tạ cô nương đẹp
Dám hỏi bao giờ có đẹp hơn
Miệng ngọc cười xòa lên tiếng đáp
Rằng xin các hạ hãy vô ngôn.
(Hãy vô ngôn)
Cũng như với đạo, với cảnh giới bất khả tư nghị, tốt hơn hết chúng ta nên thinh lặng, nên lim dim rung động và kính ngưỡng.
Dấu bèo phong vận nín thinh
Sóng phơi trường mộng bình minh vô thường
Nắng hồng chiếu bóng đài gương
Lời nghi hoặc hỏi đoạn trường từ đâu
Nối đuôi khởi sự từ đầu
Ví dù kết thúc trước sau vẫn là.
(Vẫn là là)
Và với Bùi Giáng đã một lần là vĩnh viễn vô chung, bởi hạt giống đã gieo trồng sẽ tự vận hành, tự nương vào duyên để biến chuyển… Nên với ông họ Bùi là “Vĩnh viễn đi tu”:
Đi tu vĩnh viễn giữa đời
Rủ rê dâu biển dưới trời cũng tu
(Vĩnh viễn đi tu)
Với thiền thi của tiên sinh Bùi Giáng, thì quê là chân tâm, quán là thấy rõ nơi trú ngụ cũng là vô trú, vì vô trú nên nơi đâu cũng là quê nhà và thiền thi Bùi Giáng đã chạm vào miền vĩnh cửu:
Hỏi rằng: người ở quê đâu
Thưa rằng: tôi ở rất lâu quê nhà
(Màu nguyên xuân)
Và nơi quê nhà vắng lặng đó, chúng ta cuối cùng sẽ trùng ngộ cho dù vô thường, ly biệt là bản chất cuộc đời này:
Thưa rằng: ly biệt mai sau
Là trùng ngộ giữa hương màu Nguyên Xuân
(Màu nguyên xuân)
Đôi khi sự trùng ngộ không cần một bóng hình nào khác mà đó là trùng ngộ với gương mặt của vô cùng giữa cõi đêm duy lý mù lòa.
Giữa đêm hội diện vô cùng
(Chẻ hai)
Theo kinh An ban thủ ý của Phật giáo thì có 16 phép quán niệm hơi thở, với Phật giáo Việt Nam ngoài rất nhiều pháp môn, thì có lẽ quen thuộc gần gũi với mọi người là hai pháp: chỉ và quán. Bây giờ người ta sính chữ ngoại nên gọi là vipassana và samatha đọc theo phiên âm từ tiếng Pali (Ấn Độ) trong Phật giáo nguyên thủy. Chỉ (samatha) là dừng lại tập trung vào một đối tượng, còn quán (vipassana) là theo dõi đối tượng, có những đối tượng vi tế khởi lên trong tâm và cả nơi giấc ngủ khiến hành giả rất khó kiểm soát. Nhưng có lẽ với đại sư Bùi Giáng, ông để tâm hoạt dụng tự do nương theo duyên, duyên của Bùi Giáng là rừng tâm thức ngữ ngôn linh hoạt diệu dụng cứ đến đi và thị hiện, hóa hiện ra thành thi ca.
Có thể là suy diễn cá nhân, nhưng thử ví dụ để thấy rõ sự nương theo duyên của Bùi Giáng là khi giống loài từ hang động rừng rú tràn về gây náo động và hoảng loạn phố thị, khiến Bùi tiên sinh phải vận dụng pháp môn Đười ươi chân kinh:
Hỡi người hỡi ngợm hỡi đười ươi
Hỡi thằng Sáu Giáng buồn vui thế nào
(Đười ươi Sáu Giáng, tập Mùa màng tháng tư)
Với mẫu thân Trí Hải, Bùi Giáng như trở thành hài nhi ngơ ngác ngậm ngùi:
Con về giũ áo đười ươi
Nụ cười trí hải ngậm ngùi mẫu thân
(Thơ điên, tập Sa mạc phát tiết)
Và hình bóng đười ươi như một ám ảnh thi nhân Bùi Giáng giữa cõi ta bà mộng huyễn tuyệt thế giai nhân:
Đi về trong cõi người ta
Trước là thi sĩ sau là đười ươi.
(Gấu ôi, tập Mùa thu trong thi ca)
Để nhắc nhở những thần dân, thứ dân, kẻ phải ra đi và người chọn ở lại với sự nhẫn nại, cùng nỗi buồn của người ly hương nơi đất khách, khiến đười ươi Sáu Giáng cũng sụt sùi.
Ở lại quê hương trì trọng nhẫn
Ra đi khách địa ngậm thay ngùi
Cháu con dâu rễ thành đại tập
Cảm động đười ươi cũng sụt sùi.
(Đười ươi sụt sùi)
Với người thường sẽ bị động trước duyên và sự ập về của nhân quả. Nhưng với thiền thi Bùi Giáng ông đã khiêu vũ cùng với duyên sanh, nên mọi sự đi đến, qua về, xuống lên nơi thân tâm Bùi Giáng cũng như hơi thở ra vào, tự nhiên như nhiên,… vì thế với thiền thi Bùi Giáng thì không còn theo dõi hơi thở, không còn theo dõi dòng tâm sinh diệt với hành giả họ Bùi, cũng như không còn tập trung để định tâm với thiền thi Bùi Giáng… Ông đã vận hành cùng nhịp đập của núi sông, của phố thị, của rừng rú và của vũ trụ hay còn gọi là vòng duyên sanh. Thiền thi Bùi Giáng như một hành giả đã thể nhập vào pháp giới vô tận, nên với ông ở bình diện ngôn ngữ, người đọc có thể nhìn thấy phá chấp, còn với đại sư thiền thi Bùi Giáng đã không còn tác ý mà chỉ thuận theo duyên sanh một cách hoát nhiên phiêu hốt.
Để kết thúc bài viết này, người viết trích bài thơ tám câu của Bùi tiên sinh và xin không bình, không luận để mọi người tự cảm nhận về một thiền thi Bùi Giáng độc nhất vô nhị trong nền thi ca Việt Nam!
Người từ vô tận tái sinh
Đi qua trần thế mang tình nhân gian
Rồi từ giấc mộng vừa tan
Quê hương một độ bàng hoàng ra đi
Ngày về bạc tóc hài nhi
Nắng chiều rủ xuống thầm thì trên vai
Giã từ giấc mộng Thiên Thai
Vô biên ngày ấy Như Lai gọi về.
Huế, 6/2026
L.H.L.