(Lý thuyết sáng tác truyện mới nhất trong đầu thế kỷ 21 do Ngu Yên đề xuất)
4. NGƯỜI KHÁCH
Truyện ngắn: Bài học phân tích theo lý thuyết Đa nhân vật độc giả.
Cậu ngồi đi. Cái ghế kia chắc hơn. Tôi pha trà, cậu đừng ngại, người già pha trà cho có việc mà làm, chứ ngồi không thì bần thần.
Cậu từ tỉnh về tới đây cũng xa. Hỏi đường nhà tôi chắc không khó, cả xóm này ai cũng biết bà già ở căn cuối, cái bà sống sót trong đám cháy năm xưa. Họ kể tới đâu rồi. Thôi cậu khỏi giấu, tôi biết người ta kể gì. Bốn mươi năm rồi, kể đi kể lại, mỗi lần thêm một chút.
Cậu hỏi đêm ấy ra sao. Được, tôi kể. Tôi kể đúng như nó xảy ra, còn tin hay không là việc của cậu.
Đêm ấy gió. Tháng chạp, gió bấc, nhà tranh vách đất, lửa từ bếp bén lên là đi cả dãy. Tôi với Liên ở chung căn ấy đã sáu năm. Người ta nói này nói nọ về hai người đàn bà ở chung không chồng, tôi nghe quen rồi, nghe như nghe mưa. Liên hiền, Liên có đứa con nhỏ, thằng bé mới hơn một tuổi.
Cậu hỏi vì sao tôi ra được mà Liên thì không. Cậu hỏi thẳng vậy cũng phải. Người ta cũng hỏi tôi câu đó suốt bốn mươi năm, có người hỏi bằng miệng, nhiều người hỏi bằng mắt.
Lửa bén lúc nửa đêm. Tôi tỉnh trước vì tôi vốn ngủ cạnh cửa. Khói xuống thấp rồi. Tôi bò. Cậu cứ hình dung, khói thì phải bò sát đất mà đi, đứng lên là chết. Tôi bò ra tới cửa, và đây là chỗ người ta không tha tôi: tôi ra được tới cửa rồi.
Trà cậu uống đi kẻo nguội.
Cậu không hỏi nữa à. Cậu đợi tôi nói tiếp. Người ta thường tới chỗ này thì thôi không nhìn vào mắt tôi nữa. Còn cậu vẫn nhìn. Cậu giống một người. Tôi chưa nói là ai.
Tôi ra tới cửa, hít được một hơi ngoài trời. Rồi tôi quay vào. Cậu nghe rõ chưa, tôi quay vào. Tôi vào lại trong cái nhà đang cháy ấy. Không phải vì tôi gan. Lúc đó người ta không nghĩ bằng đầu, người ta nghĩ bằng một cái gì khác, ở dưới sâu hơn. Trong nhà có thằng bé.
Tôi vào, tôi quờ trong khói. Cái giường của Liên ở góc trong. Tôi quờ trúng thằng bé trước, nó nằm phía ngoài tay mẹ nó. Tôi vơ nó vào ngực, tôi bò ngược ra. Tôi để nó ngoài sân, trên đất, chỗ xa lửa. Rồi tôi quay vào lần thứ hai.
Cậu thấy tay tôi không. Cậu nhìn đi, đừng ngại, tôi đưa ra đây cho cậu nhìn. Mấy ngón này nó không duỗi thẳng ra được nữa. Da chỗ này nó như sáp chảy rồi đông lại. Bốn mươi năm rồi mà mùa lạnh nó vẫn buốt tới xương. Hai bàn tay này tôi đút vào lửa lần thứ hai để tìm Liên.
Tôi không tìm được. Khói đặc quá, nóng quá, tới một lúc thì chính tôi cũng không còn biết đường nào ra. Người ta kéo tôi ra, nghe nói vậy, lúc tôi đã ngất ngoài hiên, người tôi cháy một mảng lưng. Liên ở lại trong đó. Khi dập được lửa thì không còn gì để nhận ra Liên nữa.
Cậu hỏi sao bao năm tôi không kể chuyện tôi quay vào. Để làm gì hả cậu. Người ta đã quyết tôi là con mụ ác để con bạn chết cháy mà cướp cái nhà. Cái nhà tranh đó, cướp để làm gì. Tôi kể tôi quay vào hai lần, ai tin. Kể ra nghe như tôi bịa để gỡ tội. Tôi thấy thà im. Im thì người ta khinh, nhưng im còn đỡ nhục hơn là van xin người ta tin mình.
Còn thằng bé. Người ta đem nó cho một nhà trên tỉnh nuôi, ngay tuần sau. Tôi không giữ được nó. Một con mụ mang tiếng như tôi thì ai cho giữ trẻ. Tôi cũng không đi tìm. Tôi nghĩ để nó lớn lên đừng biết gì về cái đêm ấy, đừng biết mẹ nó chết thế nào, đừng biết có một con mụ mang tiếng giết mẹ nó mà lại là người lôi nó ra khỏi lửa. Để nó sống cho nhẹ.
Cậu đặt cái tách xuống làm gì. Tay cậu đang phản ứng kìa.
Tôi nhìn cậu từ lúc cậu bước vào cửa. Cậu hơn bốn mươi tuổi. Cậu có cái trán của Liên. Lúc nãy cậu hỏi đường, giọng cậu, tôi đã giật mình.
Tôi không hỏi cậu là ai. Tôi không dám hỏi. Bốn mươi năm tôi chờ một người tới gõ cửa để hỏi tội tôi, và tôi đã định bụng, nếu người ấy tới, tôi sẽ chỉ kể đúng như đêm ấy, một lần, rồi thôi, tin hay không tùy người ta.
Giờ tôi kể xong rồi.
Trà nguội cả rồi. Để tôi pha ấm khác. Cậu… cậu cứ ngồi đấy. Ngồi thêm chút nữa. Tôi pha cho có việc mà làm, kẻo cả người tôi lại lạnh ngắt.
Bản phân tích: Truyện này dùng hết kỹ thuật ra sao
Phần này là bài giảng, mổ truyện trên ra để chứng minh từng kỹ thuật của lý thuyết Đa nhân vật độc giả đã vận hành ở đâu. Truyện được thiết kế để dồn càng nhiều kỹ thuật càng tốt mà vẫn phải đứng được như một truyện làm động lòng, vì nếu nó chỉ là bài tập kỹ thuật thì nó tự bác bỏ lý thuyết.
Kỹ thuật một, vật chất hóa nhân vật độc giả thành người nghe trong truyện. Đây là trục của cả truyện. Người khách, cậu, không phải nhân vật bình thường. Cậu là hiện thân của người đọc thù địch, kẻ nghi người kể nói dối, bước từ sau bàn viết vào ngồi hẳn trong phòng. Toàn truyện là độc thoại, người khách không nói một lời trực tiếp, nhưng mọi câu hỏi của cậu được suy ra từ câu trả lời của bà lão, vì sao bà ra được mà Liên không, sao bà không kêu cứu, sao bao năm không kể. Đó chính xác là những câu hỏi của người đọc thù địch. Nhân vật độc giả ấy đã được vật chất hóa thành một người ngồi uống trà.
Kỹ thuật hai, phản gián, tức dụ người đọc thật nhập vào một phe đầy thành kiến rồi lật tẩy. Nửa đầu truyện cố tình gài để người đọc thật ngả theo người khách mà nghi bà lão: hai người đàn bà ở chung mang tiếng, bà sống sót còn bạn chết, bà được tiếng cướp nhà, bà kể bằng giọng lạnh khô. Người đọc thật bị dụ vào vai người đọc trung bình đầy định kiến, ngồi xử bà cùng người khách. Cú lật ở chi tiết hai bàn tay đút vào lửa lần thứ hai đập tan cái thành kiến ấy, và sinh ra cái mà cẩm nang gọi là sự xấu hổ tỉnh thức: người đọc nhận ra chính mình vừa kết án oan, y như người khách. Người đọc thật và người đọc thù địch cùng bị lật một lượt.
Kỹ thuật ba, chuyển kênh show và tell. Những quãng cần nhanh thì tell gọn, như câu tóm về xuất xứ đám cháy, gió bấc nhà tranh lửa bén đi cả dãy, để người đọc sốt ruột không phải chờ. Còn khoảnh khắc cao nhất thì chuyển sang show và show thật chậm: bàn tay đưa ra, mấy ngón không duỗi thẳng, da như sáp chảy. Chỗ ấy tuyệt đối không tell rằng bà đau khổ hay bà vô tội, vì người đọc dự tính và thù địch đang dồn mắt vào đó, và chúng sẽ khinh ngay một lời giảng giải. Cái nghĩa bà vô tội phải để người đọc tự rút từ bàn tay, không ai được nói hộ.
Kỹ thuật bốn, tạo cảm xúc bằng sự kìm. Cả truyện bà lão không một lần than, không một lần khóc, không một lần xin được tin. Giọng càng khô ở chỗ đáng lẽ càng được phép gào. Chính sự kìm ấy, được áp đặt bởi sự có mặt của người đọc thù địch ngồi đó, là cái làm người đọc đồng cảm vỡ ra. Nếu bà khóc lóc kể công, truyện đã chết. Nước mắt thật nằm trong sự kìm.
Kỹ thuật năm, mỉa mai bi kịch và độc giả tòng phạm. Bà lão gieo sớm một chi tiết tưởng thoáng qua, rằng bà quờ trúng thằng bé trước, vơ nó ra sân, rồi quay vào lần hai. Người đọc thật cầm lấy chi tiết ấy và bắt đầu ngờ ra thằng bé là ai trước khi bà lão nói. Khoảnh khắc người đọc biết trước người khách, người đọc thành kẻ tòng phạm, biết một điều mà nhân vật trong truyện, là người khách, chưa biết. Khoảng cách giữa cái người đọc đã đoán ra và cái người khách chưa hay chính là nguồn của nỗi nghẹn ở đoạn cuối.
Kỹ thuật sáu, dịch chuyển người đọc chủ đạo. Mở truyện để người đọc sốt ruột và giả tưởng chủ đạo, kéo vào bằng câu hỏi đêm ấy ra sao. Khúc giữa trao quyền cho người đọc thù địch, để sự nghi ngờ dâng lên. Cao trào, chỗ bàn tay, trao cho người đọc đồng cảm và dự tính. Và đoạn kết, ấm trà pha lại, trao cho người đọc hậu thế và người đọc là chính tác giả, những kẻ ngồi với cái nghĩa còn lại sau khi mọi tình tiết đã xong. Đường cong dịch chuyển ấy là xương sống kết cấu của truyện.
Kỹ thuật bảy, kết bỏ ngỏ sinh dư âm. Truyện không cho biết người khách có tin bà, có tha thứ, có nhận bà không. Người đọc trung bình thèm một cái ôm hòa giải; người đọc dự tính biết rằng một cái ôm sẽ là dối. Hai phe giằng nhau, không kẻ nào thắng, và cái thắng ra là hình thức thứ ba: câu kết về ấm trà pha lại và bàn tay run, một cử chỉ đời thường gánh tất cả những gì không thể nói thành lời. Đúng theo mệnh đề bốn, xung đột giữa các nhân vật độc giả đẻ ra cấu trúc của cái kết.
Kỹ thuật tám, sự kết phe, mệnh đề thứ năm. Ở đoạn cao trào, người đọc thù địch không bị tiêu diệt mà bị thu phục, rồi đổi phe sang liên minh với người đọc đồng cảm. Chính sự đổi phe ngay trong lòng người đọc, từ nghi sang tin, từ kết án sang xót, là chuyển động cảm xúc trung tâm. Truyện không thuyết phục người đọc bằng lý lẽ, nó dàn dựng một cuộc đổi phe giữa các nhân vật độc giả và để người đọc thật sống cuộc đổi phe ấy như của chính mình.
Còn một điều cuối, nằm ngoài mọi kỹ thuật, và lý thuyết đã thành thật từ đầu rằng nó không với tới được. Truyện này hay hay dở, có để đời hay không, không nằm trong tay chín nhân vật độc giả vô hình kia, cũng không nằm trong tay người viết. Nó nằm trong tay người đọc thật, lực thứ năm, kẻ đang cầm trang này. Tất cả kỹ thuật trên chỉ là cách dọn một căn phòng cho thật tươm trước khi người khách thật bước vào. Còn người ấy ngồi xuống, uống chén trà, và tin hay không tin, thì như chính bà lão nói, là việc của người ta.
