Tiểu thuyết Âm bản và dương bản (5)

Mai An Nguyễn Anh Tuấn

5.

Thế chính thức bước vào ngành nghề anh mơ ước bao năm, sau một cuộc thi tuyển khá quy mô nhân dịp kỷ niệm ngành Điện ảnh Việt Nam ra đời[36]. Cầm quyết định trúng tuyển, Thế đến văn phòng Giám đốc Minh với tâm trạng hồi hộp, băn khoăn, lo lắng. Minh cầm xem tờ quyết định, mặt ông dài ra.

– Tớ biết rồi cậu sẽ đi… Nhưng không ngờ sớm thế! Tớ đang có nhiều ý tưởng phát triển sản phẩm mới, cần đến cậu…

– Nhưng nếu em làm điện ảnh sẽ giúp anh và Nhà máy tốt hơn, nhiều hơn – Thế vội vã – Em biết ơn những ngày tháng ở đây…

Minh xua tay:

– Thôi, cậu khỏi dài dòng… Tớ biết rồi! Giữ cậu ở lại là một điều phí phạm, bởi việc thông tin tuyên truyền, chuyện văn hóa văn nghệ quần chúng không phải là của cậu, nhiều người có thể làm được… Nhưng, dù vở kịch Tầng cao nghiệt ngã chưa ra mắt được anh chị em công nhân, thì những điều cậu muốn nói cũng đã phần nào thấm vào tôi, và nhiều cán bộ Nhà máy… Chúng tôi phải biết ơn cậu mới đúng! Hy vọng vở kịch của cậu về nghề bê tông sẽ lên được màn ảnh lớn nhỏ! Chúc cậu chân cứng đá mềm để thành công, và tớ cùng anh chị em Nhà máy sẽ tự hào về cậu…

Buổi chia tay, Minh chiêu đãi Thế bằng bữa tiệc nhỏ có nhiều món Nga và rượu Nga. Khách mời cuộc này có Thảo và hầu hết đội văn nghệ Nhà máy cùng mấy diễn viên chính của vở kịch. Lúc đã có men Vodka ngà ngà, anh diễn viên vai Bí thư Đảng ủy đứng lên đọc câu thoại kịch “Tầng cao nghiệt ngã” mà Thế tâm đắc nhất: “Bê tông khi đã hỏng thì không thể sửa chữa được, bao nhiêu mồ hôi công sức tiền của sẽ phải ném vào cái đống phế phẩm chình ình cuối Nhà máy kia kìa, và không biết làm cách nào cho chúng biến đi để bớt những gánh nặng vô ích cho mặt đất…”.

Một tuần sau, Thế lên Tổ chức Xí nghiệp phim làm thủ tục chuyển ngành, chính thức vào biên chế cơ quan này, nhận chế độ chuyển từ 13,5 kg gạo/tháng sang 24kg gạo/tháng để bắt đầu học nghề và làm nghề. Bác bảo vệ tìm anh nhắn: Ông Hoàng Thân mời anh vào phòng Phó Giám đốc làm việc.

Sau hai năm Thế mới gặp lại “ông Từ giữ Đền Nghệ thuật Điện ảnh”, tóc ông bạc hơn qua nhiều cuộc đấu đá, chỉnh huấn mà ông bao giờ cũng là Trọng tài chính, song ông vẫn giữ được vẻ Tiên phong đạo cốt cần thiết để thực thi sứ mệnh làm “thủ lĩnh” giáo huấn của ông đối với các nghệ sĩ còn tàn dư những tư tưởng bất trị có khả năng gây hiểm nguy cho chế độ…

Ông có một trí nhớ ma quái, khi ông kể lại ấn tượng của ông về hai kịch bản của Thế đã “xi nê mồm” cho ông nghe dạo nào, và ông đã khéo léo tinh tế cho Thế hiểu: việc anh vào được ngành điện ảnh là có tiếng nói góp sức không nhỏ của ông… Thế thoáng nghĩ: may sao trong Ban Giám khảo xét vào đạo diễn không có ông (ông ở Ban Giám khảo biên kịch), và bởi Thế đã liều thi vào ngành đạo diễn, nên anh đã thoát được cặp mắt cú vọ soi mói của ông về “tư tưởng lệch lạc, trệch hướng” mà anh ẩn dấu trong các ý tưởng, các phân đoạn kịch bản văn học chưa kịp trở thành Âm bản!

Vì đã chuẩn bị sẵn tâm thế đón nhận các bài huấn thị về tư tưởng của ông Hoàng Thân nên Thế đã nuốt trôi khá dễ dàng những điều lổn nhổn sống sượng được cóp ra từ các cuốn sách, tài liệu lý luận chính trị mà Thế từng phải nhai suốt thời Đại học, song anh đã toát mồ hôi khi ông nói đến đạo đức của người văn nghệ sĩ thời đại mới. Ông nheo mắt lại vẻ tinh quái nhưng không làm mất đi cái vỏ độ lượng vị tha mà ông đã tạo dựng được:

– Chú hỏi thực nhé: làm sao mà cháu gột sạch được cái án “quan hệ trai gái bất chính” có trong Hồ sơ chuyển vùng từ Tây Bắc?…

Trước một người cầm gươm đầy bản lĩnh bảo vệ Chính thể kiêm mật thám Giave như thế, anh lộ rõ chỉ là một con cừu non. Trước một hệ thống tình báo vi diệu đến thế kiểm soát tâm hồn và hành vi của những con người trong giới nhạy cảm, anh đành cúi đầu tâm phục khẩu phục, và chỉ có mỗi con đường thoát hiểm bằng cách thật thà “xưng tội” hết cho ông:

Vào năm cuối dạy học Tây Bắc, đúng dịp giáp Tết, một cô giáo sinh Sư phạm ôm con nhỏ đến phòng giáo viên tập thể của anh, nước mắt nước mũi chan hòa nhờ anh cứu giúp… Cô lấy chồng năm thứ hai, khi có thai với một thanh niên thị trấn, nhờ Thế cùng cả tập thể giáo viên năn nỉ với Hiệu trưởng và Ban Giám hiệu nên cô mới không bị kỷ luật đuổi khỏi trường, chỉ buộc lưu ban để sinh nở rồi học lại. Trước đó, cô giáo sinh nhí nhảnh xinh xắn này là diễn viên thứ trong một vở kịch về Nguyễn Trãi anh dựng cho trường; cô thường đến phòng anh mượn sách, rủ anh xem phim bãi, mạnh dạn tỏ tình cảm với anh. Mặc dù xung quanh anh lâu nay là cả một “vườn hoa” thiếu nữ tươi tắn, anh luôn cố giữ mình cẩn thận, nhưng cô giáo sinh này nuôi tình cảm quá sâu nặng, ấp ủ hy vọng quá lớn đối với anh giáo trẻ người Thủ đô, nên một kẻ sống thiên vì tình như anh quả thực cũng có đôi lúc “rung rinh”… Song cũng chỉ dừng lại ở vài lần ôm ấp, hôn hít vụng trộm may mà thoát ánh đèn pin của đội Cờ đỏ đi kiểm tra mọi ngóc ngách quanh trường hàng đêm… Có lẽ vì thất vọng với tình cảm của Thế, cô đã quăng mình vào lời tán tỉnh và sự mua chuộc vật chất của Đông, đệ tử ruột của một tay trùm cờ bạc và buôn lậu ma túy vùng đó. Sau khi cưới một tháng, cô đã đến phòng Thế, vạch đùi và giơ hai cánh tay thâm tím tố cáo chồng đánh vì ghen lúc say rượu. “Thầy cẩn thận nhé, thằng chồng khốn nạn của em nó nghi ngờ thầy vẫn qua lại với em, bởi cả trường cả thị trấn đã đồn ầm lên là em và thầy từng có quan hệ khăng khít…” – “Đừng lo em, cây ngay không sợ chết đứng! Với lại trường ta có Bảo vệ…” – “Thầy ơi, thằng này liều lĩnh lắm… Em rất lo”… Buổi cô ôm con đến phòng Thế, nếu ai cạn nghĩ sẽ cho là cô tới ăn vạ, bắt đền, còn đối với Thế, anh chỉ thấy cảm thương và bất lực. “Nó bắt em đưa con về quê Thái Bình ăn Tết, để có thêm người làm cỗ cho nhà nó đến vài chục mâm, mà em thì bị hậu sản chưa hết di chứng, sữa cho con không đủ… Em gần như lạy van nó cho em ở lại ngôi nhà nó xây cuối thị trấn, nó nổi khùng đánh em… Thầy ơi, cứu mẹ con em đi, ít nhất là qua được cái Tết khốn khổ này”. Thế ngậm ngùi: “Đúng lệ, em là dâu, lại là dâu trưởng cần về quê chồng dịp Tết cổ truyền… Nên về đi, gia đình họ thấy cảnh mẹ con em như vậy chắc cũng không ép làm nội trợ nặng nhọc đâu” – “Thầy không rõ thôi: nó là ghen đấy, nó còn ghen với cả những cuốn sách văn học em mang về nhà, nó vứt hết vào bếp rồi… Nó tuyên bố: dù ốm liệt giường mày cũng phải về làm cỗ cho đại gia đình tao như một cách cải tạo lao động, cho chừa cho tiệt cái thói đú đởn văn chương, kịch cọt của thầy trò chúng mày… Em không thể sống được với nó nữa… Em quyết ở lại để có thêm cớ ra Tết ly dị với nó” – Cô khóc hu hu. Anh làm sao chống chọi được với nước mắt ấy. Anh bàn với ông Hiệu trưởng người Thái là nên dành cho cô lánh tạm ở phòng Trạm xá trường mươi ngày. Hiệu trưởng ái ngại nhìn Thế: “Cậu cần thận trọng, chuyện này không đùa được đâu… Cậu sống trên này vài năm đã hút vào người chất “côn Tay” (người Thái) rồi: “Yêu người nào thì muốn bồng muốn cõng người đó trên vai”… Nhưng đấy là văn hóa dân gian Thái, còn ở đời, không khéo thương người vạ đến thân đấy!” Ông vốn thân với nhà văn Lường Vương Trung, và qua “nhà văn lão bản” này – theo cách gọi của dân văn trong trường, ông càng yêu mến quý thương tay giáo viên trẻ biết trân trọng văn hóa quê ông. Ông không ngờ được rằng tay giáo viên “tâm hồn treo ngược trên cành cây” kia chỉ mấy ngày sau đó đã được thể nghiệm cái triết lý đắng ngắt mà ông cảnh báo: “thương người vạ đến thân”!… Nửa đêm hôm ấy, ngôi trường vắng lặng bởi nghỉ Tết chợt ầm ĩ tiếng gào thét, Thế tỉnh giấc thì có tiếng đập cửa phòng anh ầm ầm. Anh mở cửa thì lóa mắt bởi gần chục ánh đuốc của mấy tay thanh niên thị trấn và bản lân cận đang hầm hè, Đông, chồng cô giáo sinh một tay tóm tóc vợ dúi xuống đất sau khi kéo xềnh xệch hai trăm mét, một tay lăm lăm dao nhọn chĩa vào anh lè nhè giọng rượu men lá đến cả lít: “Tao bắt được tổ con chuồn chuồn rồi nhé! Mày tiếp tay cho con vợ hư hỏng của tao, giúp nó chỗ trốn tao ở trường, để hú hí với nhau mấy ngày Tết a? Dễ thế a?” Nói rồi Đông lẳng vợ ra, vung dao lao vào Thế xả mạnh một nhát vào má anh. Cô giáo sinh ôm mặt thét lên kêu cứu. Đông liền túm tóc kéo vợ đi cùng cả bọn bước ra khỏi cổng trường. Thế ôm mặt đầy máu tươi, rồi cố bật đèn, tìm gói thuốc lào anh đang hút dở, dốc ra hết đắp vào vết chém. Sự nhục nhã ê chề lấn át cái đau. Anh chạy đến trạm xá, nơi người con gái đáng thương vừa bị bắt đi, lục lọi bông băng, thuốc sát trùng, chỉ y tế và cắn răng tự khâu vết chém qua gương… Những ngày sau đó, nằm trong Bệnh viên Tỉnh, Thế được mấy học trò thân tới thăm cho biết: Bọn Đông đã tung tin khắp nơi là bắt quả tang tay giáo viên văn và vợ hắn “trai trên gái dưới”, nhưng nhân đạo tha chết, chỉ cảnh cáo bằng một mũi dao rạch khẽ trên má. Ra viện, Thế được mời lên Đồn Công an Tỉnh trình báo. Anh thành thật kể mọi sự tình. Tưởng mọi chuyện sẽ êm xuôi, và người bị hại là Thế không kiện cáo lôi thôi gì. Nhưng anh không hề biết là trong Hồ sơ cán bộ có niêm phong gửi chuyển vùng của anh có “ân huệ” của Đảng ủy kèm theo: đó là một bản “kết án” anh – một giáo viên giỏi về chuyên môn song suy thoái trầm trọng về đạo đức, quan hệ bất chính với phụ nữ đã có chồng… Thế chỉ biết nội dung ấy sau khi một Cán bộ tổ chức Sở Giáo dục Hà Nội gọi anh tới nhà riêng làm việc…

Cả đời Thế phải mang ơn vị Cán bộ này… Ông Nguyễn Hữu Thăng, một nhà giáo lâu năm, vì phổi yếu nên xin chuyển làm văn thư ở Phòng Tổ chức, sau được đưa lên Phó Phòng Tổ chức. Mới đầu, khi có lời nhắn tới nhà riêng Cán bộ Tổ chức, Thế nghi ngờ, rồi anh cũng quyết tâm đến, với chai mật ong rừng và hai gói chè Tô Múa. Lần đầu gặp ông Thăng, Thế đã có cảm giác ông có gì đó gần gũi với gia đình nhà giáo – nghệ sĩ của anh. Nhà giáo nghèo thời hậu bao cấp dường có mẫu số chung trong ăn mặc và ứng xử: đạm bạc, giản dị nhưng luôn chung thủy với phong cách “giấy rách giữ lấy lề”, nói ít nghe nhiều không phải theo lịch sự xã giao mà trong sự cảm thông tận đáy lòng… Ông Thăng giơ hai tay cầm hai gói chè Tô Múa – “món quà nhỏ Tây Bắc” như lời Thế, và bảo anh:

– Cháu ạ, bác xin nhận hai gói chè quý đặc sản Tây Bắc này… Còn chai mật ong, bác không nhận đâu. Qua Hồ sơ Lý lịch cháu, bác biết bố mẹ cháu cũng là nhà giáo nghèo như bác, còn giáo khổ Tây Bắc về xuôi chỉ có mật ong rừng là quý nhất, cháu nên mang biếu người thân cháu…

Thế nì nèo thế nào ông Thăng cũng nhất quyết dúi chai mật ong vào cặp anh:

– Bác hiểu tấm lòng của cháu, thế là đủ. Việc bác mời cháu đến nhà riêng thế này là hãn hữu, và bất đắc dĩ… – Ông mở túi Hồ sơ, rút ra một văn bản đánh máy trang trọng cộp dấu đỏ chót đánh giá về tư cách đạo đức của Thế, đưa cho anh xem xong rồi lấy lại – Lẽ ra bác không nên, không thể làm cái việc vô nguyên tắc này… Nhưng, là một nhà giáo, cũng có con bằng tuổi cháu, bác thấy cái công văn này nhẫn tâm quá… – Nhìn Thế ngơ ngác, ngỡ ngàng, ông mỉm cười buồn – Bác không tin là một thanh niên tốt nghiệp đại học xong tình nguyện lên Tây Bắc công tác 8 năm ròng cống hiến cho sự nghiệp giáo dục miền núi lại là kẻ đốn mạt phá hoại hạnh phúc gia đình người khác – nhất là với học trò mình – Ông nhìn thẳng vào mắt Thế như để xác minh thêm cho điều mình nói và tiếp tục như tâm sự với bản thân dể trút bỏ nỗi oán hận tích tụ nhiều năm – Thậm chí, nếu có trót vướng vào lưới ái tình vượt pháp luật thì cũng chỉ là kết quả của tình yêu nông nổi tuổi trẻ, dễ được cảm thông, cớ sao lại chụp vào tương lai tuổi trẻ một bản án kinh khủng như vết đen ngòm trong lý lịch thế này khiến người ta không thể ngóc đầu nổi… – Mắt ông Thăng rơm rớm lệ – Mà cái chủ nghĩa Lý lịch kiểu này xưa nay đã hủy hoại biết bao nhân tài của đất nước, phá hỏng bao mơ ước lớn… Trước khi bác quyết định gặp cháu, bác đã gọi điện lên Tây Bắc hỏi những người có uy tín và trách nhiệm trong ngành giáo dục và cả ngành văn hóa nữa, bác được biết cháu là chàng trai có nhiều khát vọng về sân khấu điện ảnh, cháu đã viết và dựng mấy vở kịch ngắn dài cho trường Cao đẳng Sư phạm và trường Phổ thông cấp Ba bên cạnh. Cháu đã dành mấý dịp nghỉ hè để tới nhiều vùng Tây Bắc, tìm đến nhiều nhà nghiên cứu, văn nghệ sĩ địa phương học hỏi về văn hóa Thái, Mông, Dao… Người như cháu sao có thể là kẻ đồi trụy, xấu xa như họ viết trong văn bản này, và… Chắc cháu chưa biết: sau khi cháu rời Tây Bắc, họ đã cho dán mấy phông chữ to tại trụ sở Ủy Ban và Đồn Công an để cảnh báo một kẻ luyến ái bất chính, phá hoại hạnh phúc gia đình… là cháu đó!

Thế trợn tròn mắt kinh ngạc. Lần đầu tiên anh được biết về cái điều nhục nhã riêng tư của anh bị đem ra bêu rếu trước “Thanh thiên bạch nhật” công luận! Và cũng lần đầu tiên trong đời, anh được chứng kiến và được thụ hưởng sự chính trực giàu lòng nhân hậu của một cán bộ Nhà nước đang nắm quyền sinh quyền sát đối với tương lai chính trị – nghề nghiệp lẫn sinh mệnh của anh… Khi ông Thăng cầm tờ công văn ma quỷ kia lên, chậm rãi xé nhỏ nó ra, trước mắt anh, thì anh chợt òa khóc như một đứa trẻ, như kẻ được giải tỏa bao nỗi ấm ức, lo lắng, nghi ngờ, đau đớn, nhục nhằn, và sâu thẳm là một lòng biết ơn… Nhưng mọi lời cám ơn chân thành nhất lúc này là thừa. Anh chỉ có nước mắt ở tuổi 30 long đong lận đận, chân không tới đất cật không đến trời, chưa kịp làm được điều gì ra hồn, có lẽ may mắn được hưởng Phúc Đức của ông nội anh là Đốc học nghiêm minh, của bố mẹ anh là nhà giáo – nghệ sĩ lương thiện nên mới có được sự giúp đỡ che chở của ông giáo già đang hiển hiện trước mắt và trong tâm tưởng anh như một ông Bụt của tuổi thơ…

Ông Thăng im lặng trìu mến nhìn cậu trai, để yên cho cậu ta thổn thức một hồi, khi nguôi đi, ông mới bảo:

– Con trai! Bác thương quý cháu lắm… Nhưng bác làm cái việc tày đình này, trong công vụ gọi là dối trá, hủy tài liệu một cách phi pháp, chỉ vì xuất phát từ sự công chính – nói theo người Công giáo, không muốn cái ác, cái vô tâm, sự vô nhân tính sẽ lên ngôi thống trị xã hội mình… Nhưng cháu cần “sống để dạ chết mang đi”, tuyệt đối không được hé lộ với bất kỳ ai… Nguy hiểm vẫn còn rình rập cháu…

Nghe Thế kể xong đầu đuôi mọi chuyện, ông Hoàng Thân gật gù, và dường như muốn mình không thua kém ông giáo già kia về lòng nhân hậu, ông nhẹ nhàng chân tình bảo Thế:

– Rõ rồi! Vấn đề là cháu đã quá ngây thơ trong đời sống… Giờ đây, bước vào làm một chiến sĩ trên mặt trận văn hóa nghệ thuật, cháu cần bồi đắp nhiều kiến thức đời sống và nhất là bản lĩnh chính trị… Cháu mà ngây thơ về đời sống thì chỉ bị khán giả quay lưng, còn ngây thơ về chính trị khi làm phim, thì sẽ ngã ngựa không ai cứu nổi, uống sâm quý cũng không lại đâu! Mà này, chú được nghe một thầy Ban Giám khảo tuyển đạo diễn vừa rồi có kể về cháu đấy… – Thế giật mình, ông cười – Ông ấy bảo: Thằng bé ấy nhiều triển vọng lắm, cậu ta đã vượt qua câu hỏi hóc của tôi trong buổi cuối cùng là thi vấn đáp. Tôi hỏi: “Anh đã lập gia đình chưa?” Cậu ta trả lời chưa, thì liền bị tôi “phang” như sau: “Thế thì anh làm đạo diễn thế nào được! Anh làm sao chỉ đạo để diễn tả được chân thực tình cảm của người chồng với vợ, người cha với con, khi chưa từng là một người chủ gia đình?”. Cậu ta suy nghĩ một lát rồi trả lời như một kẻ “thông minh đột xuất”: “Thưa Ban Giám khảo, em chưa có được gia đình riêng khi đã tới tuổi “tam thập nhi lập”, đó là một sự kém cỏi của em, khiến người thân phải thất vọng. Song em thiển nghĩ: đôi khi vốn sống gián tiếp thông qua sách vở và kinh nghiệm của người khác, lại có ý nghĩa hơn, mạnh mẽ hơn kinh nghiệm trực tiếp. Em nhớ ông Lỗ Tấn từng bảo: “Không nhất thiết phải sống trong chảo mỡ mới hiểu được tâm trạng của miếng mỡ rán”, và ông Dostoievsky cũng nói: “Để miêu tả tâm trạng của chàng sinh viên Raskonikov khi giết người thì không cần phải là một kẻ cầm búa giết người”… Thế là tôi và cả Ban Giám khảo bất ngờ vỗ tay – một trường hợp ngoại lệ khá hiếm hoi trong các cuộc thi khắt khe thế này” – Ông Hoàng Thân cười lớ phớ – Được, cháu trả lời khá lắm! Có điều, cháu nên nhớ: vốn sống gián tiếp dù phong phú đến đâu cũng không thể thay thế được cho vốn sống trực tiếp, nhất là vốn sống về cuộc sống chiến đấu và xây dựng gian nan của dân tộc ta…

Thế vội vã tiếp lời ông:

– Vâng ạ, cháu cũng nhớ nhà văn Nga Paustovsky từng nói: “Cuốn sách hay chỉ ra đời như kết quả của một cuộc đời đầy giá trị và sáng tạo”.

Nụ cười khích lệ ban ơn chợt vụt tắt trên môi ông. Thế vỡ lẽ: anh đã phạm sai lầm chết người khi dám đem một thứ lý thuyết không phải của Mác – Lê Nin ra như để thách đố với kinh nghiệm già đời của một nhà biên kịch lão luyện. Ông lấy giọng nghiêm nghị của một “thủ lĩnh” tư tưởng – đạo đức cỡ toàn ngành dạy bảo Thế những điều như tiếng kèn đồng sáng lóa:

– Cháu nên nhớ là từ giờ cháu đã bước vào hàng ngũ sáng tạo quan trọng nhất của nghề làm phim, là biên kịch – đạo diễn, từng lời nói, từng hành vi, từng trang kịch bản, từng cảnh phim đều phải trong sáng như gương không phủ chút bụi của chủ nghĩa cá nhân ích kỷ; có vậy mới xứng đáng với niềm tin cậy của Nhân dân và Tổ quốc đã trao sứ mệnh cho cháu…

Thực ra, đó chỉ là cái bè trầm cho cái thông điệp mà ông cần dạy dỗ tay đạo diễn trẻ “ngựa non háu đá” này, ông hạ giọng nói kiểu người độ lượng nhưng ngầm cảnh báo:

– Cái án “bút sa gà chết” của cháu coi như đã được xóa, nhưng không có nghĩa là cháu có thể quên đi mà không coi đấy là bài học sinh tử đối với người nghệ sĩ kiểu mới đại diện cho tiếng nói của Đảng… Sai lầm của cháu không chỉ là sự ngây thơ về đời sống mà còn là tàn dư của chủ nghĩa hưởng lạc tồi tệ, sẽ là viên đạn bọc đường gặm nhấm lý tưởng Cách mạng, một khi cháu không chịu khó tu dưỡng đạo đức, không lăn lộn vào đời sống cần lao… Thôi nhé, lời ít ý nhiều, chúc cháu vững mạnh về tâm hồn và tư tưởng để cùng cả Xí nghiệp phim ta trở thành một pháo đài của thành trì Xã hội chủ nghĩa… Bây giờ, chú có hẹn với một nhà biên kịch trẻ vừa được tuyển vào cùng cháu…

Ông ngồi tại chỗ trên ghế bành vươn một tay ra bắt tay Thế. Anh ngây người như một chú lính chì dũng cảm của Andersen giơ cả hai tay ra nắm lấy bàn tay xương xẩu rắn rỏi còn giữ chất nhà nông lam lũ của ông. Phải nói là ông rất thành công khi tạo ra được hình ảnh một vị Thánh sống trong tâm trí tay đạo diễn mới toanh chỉ nhiều kiến thức sách vở mà nghèo nàn về đời sống cùng tâm lý của lớp “Thượng lưu” mới như ông; và lúc đó nếu ai nói cho Thế hay: chỉ ngót mười năm sau buổi thuyết trình đạo đức long trọng đó, ông đã rời bỏ gia đình để sống lâu dài trong biệt thự của một người phụ nữ giàu có xinh đẹp trên Quảng Ninh, thì anh chắc sẽ nổi cáu và mắng rằng: thực là sự vu khống bịa đặt xấu xa…

Sau lúc vinh dự được chỉnh huấn tư tưởng – đạo đức chính thức đó, Thế liền tới ngôi nhà tập thể thể bên Hồ Tây tìm nhà biên kịch người Thái họ Cầm, với một chai rượu Thổ Hà nút lá anh chuẩn bị trước từ nhà để nhận “họ hàng” Tây Bắc. Anh đặt chai rượu đặt trước mặt ông: “Tây Bắc là quê hương thứ hai của em. Xin ra mắt đàn anh!”. Cầm Kỳ tròn xoe mắt nhìn Thế từ đầu tới chân rồi reo lên: “Hay quá, tớ đang cô độc đây!”. Lúc đó, tên tuổi ông đã vang danh với các kịch bản được dựng thành phim có nhiều người xem hâm mộ, đoạt cả giải Quốc tế: Hai người mẹ, Chom và Sa[37], Lưu lạc, Trở về Sam Sao. Thế được ông coi là người bạn vong niên tri kỷ, trước hết là bởi từng có một phần tuổi trẻ gắn bó với quê hương ông và đã kịp yêu quý nó. Ông hỏi Thế rất nhiều về những ghi chép, truyện ngắn, ý tưởng kịch của anh về dân tộc Thái Tây Bắc, về Nhà tù Sơn La… Ông khoe: ông đang viết một kịch bản về cuộc vượt rừng nổi tiếng của các tù chính trị số vuông1[38] ở Ngục đá Sơn La, do một người thanh niên yêu nước người Thái dẫn đường, và hồ hởi: “Nhất định tớ sẽ đề nghị với Ban Giám đốc chỉ giao kịch bản này cho cậu làm đạo diễn! Tớ chờ bằng tốt nghiệp đạo diễn xuất sắc của cậu!”.

6.

Như tất cả sinh viên đạo diễn điện ảnh các nước, bọn Thế phải vào nghề bằng một bộ phim câm (không phải là phim câm của thời điện ảnh chưa có tiếng cần có bảng phụ đề nên có thể gọi là “phim điếc”), mà là phim không cần một câu thoại nào, chỉ qua hành động nhân vật, chi tiết đời sống kể lại một câu chuyện bằng hình ảnh.

Phim này của Thế được quay bằng 1.000 mét phim ORWO NP55 đen trắng, do Xí nghiệp phim truyện cung cấp và cho làm hậu kỳ tại cơ quan (in tráng négatif và positif, dựng phim, làm bản đầu); người quay phim là một sinh viên khoa quay phim Đại học Sân khấu – Điện ảnh Hà Nội năm cuối, coi như làm phim tốt nghiệp luôn.

Đọc xong bản phân cảnh quay của Thế trình, thầy Đắc chủ nhiệm Khóa – Phó Giám đốc Xí nghiệp phim đã ký ngay: “Đồng ý cho vào quay!”. Câu chuyện phim như sau: Cảnh phim đầu tiên là vòi nước hỏng chảy không một lúc, sau đó thấy bàn tay của một thiếu nhi nút vòi nước lại bằng nút tự làm, nút xong cô bé đứng dậy nhìn máy nước, rồi rời xa ống kính. Máy lia toàn cô bé đi từ bên kia đường sang, ngồi xuống một gốc cây, nhìn băng đỏ trên tay mình rồi nhìn sang bên kia đường. Một người đàn bà đang rửa rau ở máy nước, rửa xong cầm nút lên nút vội rồi quay ra xe đạp. Nút tuột, nước máy chảy. Người đàn bà đã lên xe, quay lại nhìn một thoáng lưỡng lự rồi đạp đi. Cô bé nhìn bực tức, chạy sang buộc dây vào nút rồi buộc vào cổ máy nước. Lúc đó, một người đàn ông say rượu đi từ bên kia đường sang, cô bé nhìn thấy vội vàng nút lại máy nước rồi chạy khỏi máy. Người đàn ông đổ nước xối xả vào đầu một lúc rồi đi, cô bé nhìn thông cảm, lúc đó, một bà to béo ôm con tới rửa ráy cho con ở máy nước, rồi cứ thế bế con đi mặc nước chảy không. Cô bé ngạc nhiên, bực bội định chạy tới máy nước thì có một cô gái đến rửa chân kỹ lưỡng, nước xối xả, sau đó hứng đầy một xô nước rồi xác xô đi, mặc nước chảy. Cô bé chạy đuổi theo cô gái, giật xô nước lại. Cô ta đặt phịch xô nước xuống, chống nạnh nhìn, cô bé sợ hãi lùi lại. Cô bé quay về máy nước nút lại máy nước, rồi bước sang bên kia đường, ngồi đọc sách dưới một gốc cây, thỉnh thoảng nhìn sang. Một anh thanh niên đeo kính cận cắp nách một cuốn sách dày đi tới máy, đặt sách chỗ khô ráo rồi gỡ kính rửa mặt. Cô bé không nhìn anh ta nữa, cúi xuống đọc sách, một lúc nhìn sang thì thấy vòi nước chảy không, em tức tối chạy đến máy nút lại. Anh thanh niên cận đi một quãng thấy thế có vẻ ngượng, quay lại đặt tay lên vai cô bé, em gạt tay anh ra rồi rời máy nước sang bên kia đường. Anh thanh niên cận nhìn theo em. Cô bé đang nhảy lò cò trên vỉa hè, chợt thấy một đôi nam nữ thanh niên dừng xe lại, anh thanh niên cúi xuống sửa xích xe. Cô gái tay ôm một bó hoa đồng tiền, thấy em bé, mỉm cười rồi đưa cho em một bông hoa. Sau đó, đôi nam nữ rửa chân tay ở vòi nước, hắt nước vào nhau đùa nghịch. Cô bé nhìn và cười thích thú. Rồi đôi nam nữ rời đi, để vòi nước chảy không, Cô bé nhìn ngơ ngác như không tin đó là sự thực, rồi buồn bã bước sang đường tới vòi nước. Chợt một tia nước phụt vào người em. Ba đứa trẻ, đứa cởi trần đứa mặc may ô nghịch bên máy nước tiếp tục phụt nước vào người cô bé. Em cầm còi thổi. Bọn trẻ trai vẫn tiếp tục đùa nghịch, tháo nút gỗ ra tung hứng cho nhau. Cô bé lại cầm còi thổi, một tia nước phụt vào tay áo em, em nhìn xuống băng đỏ. Ba đứa trẻ chơi chán bỏ đi, giơ nắm đấm về phía cô bé. Em chạy tới máy nước, loay hoay tìm nút không thấy, lại tìm giẻ để nút máy lại, vẻ bực tức cao độ. Bông hoa đồng tiền rơi trơ trọi dưới máy nước. Giẻ bỗng tuột ra, nước chảy tung tóe làm trôi bông hoa đi ra cống. Cô bé ấm ức muốn khóc, sau đó chạy đến gốc cây bên đường, cầm sách lên rồi lại quẳng sang bên. Em giơ hai tay ra sau gáy, ngả đầu vào gốc cây. Bầu trời trong xanh qua những vòm lá phượng vĩ. Cô bé dần ngủ ngồi thiếp đi bên gốc cây. Bàn tay cô giáo cầm giẻ nút lại máy nước, ghi gì đó vào sổ tay rồi nhìn quanh như tìm ai đó. Chuyển sang lớp học, ánh mắt cô giáo nhìn nghiêm khắc. Cô bé đứng trước cô giáo vẻ muốn thanh minh nhưng chưa biết thanh minh ra sao. Cô giáo nhìn em, rồi cúi xuống bàn viết, sau đó đưa cuốn “Sổ liên lạc Gia đình – Nhà trường” cho em. Cô bé cầm sổ cúi đọc trang “Hoạt động cờ đỏ”: chữ “Loại kém” và chữ ký của cô giáo. Em từ từ ngẩng mặt lên. Nước mắt lặng lẽ chảy ra. Học sinh ùa ra khỏi lớp. Cô bé bước ra sau cùng. Sân trường vắng tanh, ngập đầy lá bàng rụng. Cô bé đi trên sân trường, cô độc, ra phía cổng trường. Tên phim xuất hiện: LOẠI KÉM. Tên sinh viên đạo diễn – Tên sinh viên quay phim – Tên diễn viên chính.

Phim vào nghề của Thế được đánh gía rất cao trong buổi chiếu phim câm báo cáo tốt nghiệp đạo diễn tại Cục Điện ảnh (mấy năm sau Thế được bạn đồng nghiệp thân cho biết: có một đạo diễn phim trẻ chẳng biết bằng cách nào đã lấy cắp cả bản Pô đầu lẫn bản Nê dựng của phim này mang sang Cộng hòa Dân chủ Đức, thay tên đạo diễn hình như để tham gia một Festival Film sinh viên nào đó…).

Trong buổi giảng đầu tiên, thầy Đắc đã nói với các “tân đạo diễn”: “Bước vào nghề chúng ta, có một cái tên mà các em cần ghi nhớ, đó là King Vidor – đạo diễn, nhà sản xuất phim và biên kịch người Mỹ, người có sự nghiệp làm phim kéo dài gần 70 năm qua cả thời kỳ phim câm và phim có tiếng. Ông không có thời gian và điều kiện để học đại học, ở tuổi 16, vì mưu sinh ông phải bỏ học trường trung học để làm nhân viên bán vé và chiếu phim tại rạp chiếu phim giá rẻ, đó là cơ hội quý đốt lên niềm đam mê điện ảnh trong ông, và ông trở thành một nhà quay phim thời sự nghiệp dư năm 18 tuổi. Khi được các hãng sản xuất giao kinh phí lớn để làm phim, ông đã là một đạo diễn tác giả[39] và thường xuyên phá bỏ các quy ước làm phim để tìm cách thể hiện mới. Có một điều mang đậm đặc trưng của Vidor là ông thường sử dụng thiên nhiên như một biểu tượng và làm nền cho xung đột của tâm lý con người, tiêu biểu là phim Wild Oranges (Quả cam dại) quay năm 1924: một thanh niên địa phương đã ép một cô gái phải hôn anh ta bằng cách đưa cô ta đứng trên một thanh gỗ giữa đầm, xung quanh là các con cá sấu đói há miệng chờ chực con mồi rơi xuống nước; vì sợ hãi, cô gái đành đồng ý cho anh ta hôn má, dù ghê sợ anh ta như sợ cá sấu: người xem có thể cảm nhận cái thiên nhiên trong môi trường ấy mang tính cách thú dữ in dấu vào từ con người tới động vật, và điều đó góp phần lý giải các xung đột đẫm máu trong bộ phim…

Ông giở sổ tay ra: “Hồi học bên VGIK[40], qua chuyên gia, tôi đã ghi chép những lời của đạo diễn King Vidor, đây là câu các em nên ghi nhớ: “Tôi tin vào sức mạnh của điện ảnh trong việc truyền tải thông điệp đến nhân loại. Tôi tin vào bức tranh điện ảnh sẽ giúp nhân loại giải thoát khỏi xiềng xích của nỗi sợ hãi và đau khổ đã trói buộc họ bấy lâu nay”.

Những giờ giảng về đạo diễn của thầy Đắc đối với những người từng tốt nghiệp đại học từ ngành khác chuyển sang thực sự quý báu – ở đó có những lý thuyết điện ảnh của Thế giới được tổng kết vừa xúc tích vừa cặn kẽ; có những kinh nghiệm xương máu của nhiều năm làm phim; có những trường đoạn phim, chi tiết phim kinh điển được miêu tả lại thông qua lăng kính của một nghệ sĩ bậc thầy và sự phân tích của một nhà sư phạm tài hoa; có sự nghiêm khắc của một người thợ cả – và trên hết, có tấm lòng của một người thầy tận tụy, quyết chí truyền nghề cho lớp hậu sinh với tất cả niềm mê say không vẩn chút vụ lợi… Nhưng đâu phải chỉ là nghề nghiệp với những quy luật nghiệt ngã của nó! Thầy Đắc – với sự minh mẫn và từng trải, không phải chỉ một lần đã mở mắt cho những “chú ngựa non háu đá” – những đạo diễn trẻ tương lai thấy rằng: ở trong sân nghề, những ngón kỹ thuật thuần túy cùng mọi trò láu cá vụn vặt chỉ có thể nhất thời đánh lừa được đồng nghiệp rồi sau đó là khán giả, nhưng không bao giờ có thể thay thế được cho một trái tim biết rung cảm thật sự, biết và khao khát hướng tới những vấn đề đang làm đau đáu tâm trí hàng triệu người. Ông không phải là nhà duy mỹ, duy cảm, càng không phải là nhà đạo đức học. Song cái thở dài và cái lắc đầu buồn bã của ông trước mỗi điều gì liên quan đến sự tham lam, đố kỵ, hẹp hòi, thiển cận của một ai đó trong ngành (hay ngoài ngành) đã tác động mạnh đến Thế như đứng trước một tấm gương có ánh sáng phản chiếu của đèn vạn Wát trường quay! Xông xáo, năng nổ, quyết đoán và chính xác, ông đã làm cho những học trò được ông đưa theo đoàn phim với tư cách trợ lý hay phó đạo diễn phải toát mồ hôi cũng chưa thực hiện được trọn vẹn yêu cầu của đạo diễn chính! Nhưng ở cương vị nhà sư phạm và học giả, ông lại làm cho bọn Thế ngỡ ngàng, háo hức mê say, trước cánh cửa bí mật dẫn đến ngôi đền thiêng Điện ảnh hoặc trong “căn phòng bếp núc” bừa bộn của nghề nghiệp đạo diễn. Thế thường tự hỏi: Cái gì đã gắn kết một cách kỳ lạ ở trong ông những điều tưởng chừng trái ngược nhau: uyên bác về tri thức điện ảnh và lòng say đắm trong việc sáng tạo các bộ phim truyện; ôn hòa, tỉnh táo, bình tĩnh nhưng cũng biết đau buồn thậm chí phẫn nộ trước thói đời tiểu nhân bạc ác – nhất là khi nó lại ở trong một kẻ nào đó mang danh “nghệ sĩ” hoặc “quan chức nghệ sĩ”! Tỉ mỉ và khắt khe trong công việc nhưng giản dị xuề xòa trong những mối quan hệ xã giao rắc rối; con người bộc trực, cương nghị, ghét sự xu nịnh và thói khiêm tốn giả vờ ấy lại ưa thích sự tĩnh lặng, cô đơn… Con người nghệ sĩ và nhà sư phạm trong ông là một sự kết hợp hài hòa, tốt đẹp, có lẽ, bởi trước hết ông có một tấm lòng nhân hậu rộng lớn mà chắc phải nhiều năm sau Thế mới thật thấu hiểu. Nhưng anh đã chợt nhận ra điều ấy ở cặp mắt nghiêm nghị song không giấu được vẻ hiền từ độ lượng của ông trong các giờ giảng, các buổi hướng dẫn thực tập quay phim hoặc trong cái nắng gay gắt của tiến độ sản xuất phim…

Không bao giờ Thế có thể quên được cặp mắt đỏ hoe rớm lệ của ông trong buổi liên hoan kết thúc Khóa học… Trước các học trò đạo diễn của khóa Đại học tu nghiệp đầu tiên và cũng là cuối cùng của nền điện ảnh Việt, ông đã bộc lộ nhiều ý nghĩ riêng tư mà chắc chưa bao giờ ông có dịp: ông nói rằng, ông không có con, vì thế, những tác phẩm điện ảnh chính là con ông, và trong thâm tâm, ông muốn đối xử với những học trò của mình như tình cha con… Ông nói về con đường chông gai đầy thử thách khắc nghiệt mà bọn Thế đã lựa chọn, về những phẩm chất cần có của một người nghệ sĩ điện ảnh. Ông cũng đã nhìn thấy trước rằng, hư danh và lợi lộc sẽ đón đường những người đạo diễn trẻ và rất có thể một ai đó không chịu giữ mình, không chịu tu dưỡng nghề nghiệp sẽ bị chúng quật ngã rồi tóm cổ ném ra ngoài… Sự cần thiết phải khiêm tốn trọng thị học hỏi cũng là một bài học lớn ông đem đến cho Thế và các đồng môn. Ông đã cho sinh viên thực tập nghề đi theo đoàn phim với tư cách phó đạo diễn, trợ lý đạo diễn, và ông lắng nghe chăm chú những ý kiến đóng góp của mỗi học trò trước cũng như sau mỗi cảnh quay. Trong giai đoạn làm phim “Thời hiện tại”, khi đã quay xong đoạn kết, ông triệu tập mấy học trò lại và bảo: “Tôi thấy chưa hài lòng lắm với đoạn kết, các cậu thử đề xuất xem nên ra sao – với cách nhìn cách cảm mới mẻ hơn của các cậu?”. Riêng Thế, ngay trong đêm đó đã thao thức với cái kết phim để sáng hôm sau trình thầy. Ông trầm ngâm: “Cũng khá độc đáo đấy. Nhưng với cái kết này, tôi phải cho quay lại rất nhiều đoạn trước, thay đổi kết cấu phim, và cũng thay đổi cả chủ đề tư tưởng mà kịch bản đã được duyệt… Cậu hẵng để dành cho một phim nào đó của cậu!”. Tuy ông không sử dụng bất cứ cái kết nào của học trò, nhưng tất cả đều hiểu, đó cũng là một cách ông dạy học trò về sự suy nghĩ sáng tạo độc lập trong làm phim, và hơn thế – cách biết chịu khó nghe người khác góp ý, phản biện…

Những ngày hành nghề & học nghề với chức danh phó đạo diễn cho phim của giảng viên chủ nhiệm – đạo diễn Đắc, Thế còn có một hành động bất ngờ ra khỏi nghề nghiệp khi một sự kiện kinh hoàng diễn ra tại phim trường mà lịch sử Điện ảnh thế giới có lẽ chưa từng biết đến: Tại bối cảnh ngoại cầu Mai Lĩnh, một chiếc quạt khổng lồ tạo gió làm từ động cơ máy bay đang hoạt động, thì một cậu trợ lý thuộc lớp đạo diễn khác (cũng do đạo diễn Đắc phụ trách chuyên môn) đã tự động nhảy lên bục quạt gió, hua chân múa tay chỉ đạo khối diễn viên quần chúng mấy trăm người đang vào cảnh diễn lễ Hội ngày mưa bão. Bất ngờ, tay cậu ta đã bị cánh quạt chém đứt mấy ngón và ôm tay ngã gục lăn xuống đất – may mà cánh tay cậu ta vung theo chiều quay của quạt, nếu không cả cánh tay thậm chí toàn bộ thân người sẽ bị cuốn theo! Mấy cô diễn viên bưng mặt khóc thét. Cả đoàn phim sững sờ ngây dại chưa biết làm gì. Lúc đó, không hiểu sao Thế bình tĩnh đến kỳ lạ, anh nén nỗi đau cho bạn nghề, chạy đến bãi đất đặt quạt gió và căng mắt tìm cho đủ mấy ngón tay đứt rời, nhặt một chiếc túi ni lông nhỏ lăn lóc phủi bụi cho sạch rồi cho mấy ngón tay vào đó buộc thắt nút; rồi anh chạy ra giữa cầu giơ tay chặn một chiếc xe tải, gọi mọi người dìu nạn nhân lên xe và gửi gắm tài xế cả túi ni lông tới bệnh viện gần nhất là Bệnh viện quân đội 103, không quên dúi vào tay anh tài xế mớ tiền mà anh vừa vội vét sạch trong túi. Đoàn làm phim vẫn tiếp tục tiến độ quay như không có chuyện gì xảy ra. Nhưng sự việc diễn ra nhanh như một cuốn phim câm ngắn đó không lọt bất kỳ chi tiết nào qua mắt đạo diễn – giảng sư Đắc. Mấy hôm sau, Thế đến nhà đạo diễn Đắc để nhận lệnh chuẩn bị cho các cảnh quay hôm sau, đồng thời báo cáo với ông về tình trạng nạn nhân đã ổn nhờ kịp thời xử lý tai nạn, ông mỉm cười vỗ vai Thế một cách thân thiết: “Cám ơn em đã nhanh chóng cứu bạn và cũng cứu cho cả đoàn phim ta… Lại cứu cho danh dự của tôi khỏi bị bôi nhọ từ một số người ác ý nhỏ nhen, kiểu: ông đạo diễn Phó giám đốc nghệ thuật Hãng đem học trò ra làm vật thí nghiệm… Còn em, sự bình tĩnh và kinh nghiệm ứng phó nhanh như vậy sẽ rất cần thiết trong đời làm phim đầy gian nan, bất trắc, cả nguy hiểm nữa chờ đợi…”.

Trong thời kỳ làm phim này, hết giờ quay Thế lại mò vào chơi với lớp Cao học ở Khu nhà 7 trong Đại học Sư phạm Hà Nội đến khuya, có hôm ngủ lại rồi sớm hôm sau tới thẳng trường quay. Dân Cao học vốn được công chúng “ăn sư ở phạm” mệnh danh bằng câu đố vui: Xào xào nấu nấu/ Mặt xấu như ma/ Là cái con gì?/ Là dân cao học… Lớp Cao học này không có bạn học cũ cùng lớp văn khoa của Thế, mà toàn là ở lớp trên và lớp sau, nhưng đều ôm mộng văn chương kịch cọt – trong đó mấy người thân thiết, đặc biệt là Bình và Phúc. Hồi ở Tây Bắc, hai tên “giáo khổ” dạy văn Phúc – Thế có dịp hè đã rủ nhau lang thang tới tận thượng nguồn sông Mã, nơi hoang vu xa xôi nhất của tỉnh Sơn La, nơi dấu chân hổ chân voi còn mới, và dấu vết voi từ Lào sang liếm chất muối làm vẹt núi; hai kẻ lãng tử theo chân một nhà thơ dân gian người Thái thăm quê hương Mường Và – Sốp Cộp của ông và ngắm hoa Ban nguyên sơ chưa bị đốn chặt phải chạy trốn lên núi cao…

Nhiều đêm trên một chiếc giường tầng của phòng dành cho dân Cao học, Thế sau khi nghe thơ các bạn đã “xi nê mồm” về bộ phim anh đang tham gia, và một số ý tưởng điện ảnh mới nảy sinh – trong đó có ý tưởng về vụ án Lệ Chi Viên từ vở kịch Sao Khuê sáng mãi, vở kịch do Phúc cùng Thế viết rồi dựng cho thầy trò trường Sư phạm và dân Thị trấn xem gần hai giờ không một ai bỏ về… Có một đại cảnh quay ở Bắc Ninh tái hiện lễ hội Bà Chúa Mía, Thế đã nhờ dân Cao học liên hệ với mấy lớp sinh viên ở cùng Khu nhà 7 làm diễn viên quần chúng, và thi sĩ Cao học Thế Hoàng đã tình nguyện vào vai phụ có thoại là ông thầy bói, mà sau này anh sẽ ghi trong lý lịch là “Làm diễn viên điện ảnh”! Lúc đó Thế Hoàng có cuốn tiểu thuyết đầu tay viết về giới sống “ngoài vòng pháp luật” ở vùng hồ Yên Bình – Thác Bà, Thế đã chuyển thể thành kịch bản điện ảnh Nỗi buồn của quỷ nước. Song không được các Hãng phim mặn mà, anh bèn chuyển thể thành phim truyện truyền hình hai tập, giao cho anh bạn đạo diễn của Đài PTTH Hà Nội thực hiện, còn Nỗi buồn của quỷ nước vẫn còn là Âm bản chưa biết đến khi nào…

Sau đợt quay đại cảnh phim đó, Thế Hoàng trở về quê hương của anh mà anh gọi là “Xứ Mưa”, bỏ dạy học làm báo và viết tới chục cuốn tiểu thuyết dày cộp; Bình lên Khoa Văn Đại học Sư phạm Hà Nội 2 Xuân Hòa làm giảng viên môn văn học Việt Nam hiện đại, một năm sau sẽ là “ông mối” của Thế; còn Phúc thi đỗ lớp tuyển sang học tại Học viện Gorki – Liên Xô, và từ đó rời xa đất nước ba chục năm trời, mang theo cả ý tưởng của hai kẻ ôm mộng kịch sĩ về “tấn thảm kịch của một vĩ nhân sống trong một xã hội quá ư bé nhỏ” (Yveline Féray) là Nguyễn Trãi sang đến tận một phần tư thế kỷ sau mà vẫn chưa thể tìm cách biến thành Dương bản điện ảnh…


[36] Ngành Điện ảnh và Nhiếp ảnh Cách mạng Việt Nam ra đời do Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 147/SL ngày 15/3/1953 tại Thái Nguyên.

[37] Phim Chom và Sa đoạt giải Silver Elephent tại LHP Quốc tế thiếu nhi năm 1979. Phim dựa theo câu chuyện về hai em bé người Thái đen ở Mường La – Sơn La không còn cha mẹ, sống lẩn khuất trong rừng, cho đến khi bộ đội Việt Minh vào giải phóng Tây Bắc đã cứu sống các em và nuôi cho ăn học…

[38] Tức tù chính trị Cộng sản, phân biệt với tù thân Nhật và tù thường số hình trám hình thoi.

[39] Đạo diễn tác giả (Auteur Director) là nhà làm phim có phong cách cá nhân độc đáo và nhất quán trong toàn bộ tác phẩm, thể hiện dấu ấn “tác giả” rõ nét, được xem là nguồn lực sáng tạo chính tựa tác giả tiểu thuyết, chứ không chỉ là người hiện thực hóa kịch bản chuyển thể thành bộ phim.

[40] Đại học điện ảnh quốc gia toàn Liên bang Xô viết.

This entry was posted in Văn and tagged . Bookmark the permalink.