Tiểu thuyết Âm bản và dương bản (2)

Mai An Nguyễn Anh Tuấn

Phần một

LÂU ĐÀI ĐIỆN ẢNH TRONG HỐ THẲM[6]

1.

Nguyễn Yên Thế, một nhà làm phim độc lập[7] bước tới cánh cổng to rộng vốn mở toang hoang từ lâu, nhìn vào bên trong phần Ngoại thất của VFS – một cơ sở sản xuất phim truyện lớn nhất nước và toàn xứ Đông Dương trong hơn nửa thế kỷ.

Nếu một họa sĩ thiết kế phim truyện đang có ý định xây dựng bối cảnh về một Tổng công ty, hay một Gia tộc từng có thời hoàng kim nay bị phá sản, rồi bị thời gian vùi trong lãng quên chắc sẽ phải reo lên sung sướng, vì cái bối cảnh tự nhiên đang bày ra kia đương ấp ủ các hộp phim Pô mốc meo tựa hố đen Vũ trụ trong Nội thất sẽ có giá trị thuyết phục hơn bất kỳ sự tưởng tượng của những họa sĩ điện ảnh tài ba nhất.

Nhưng hôm nay Thế tới đây không phải để làm thay, làm đỡ cho công việc của họa sĩ thết kế[8] – như anh vẫn thường làm theo thói quen nghề nghiệp, trong hoàn cảnh của anh, mà vì lời nhắn gửi của một chị nhân viên dựng phim, con gái một nhà quay phim có tên tuổi vốn quý Thế và từng hò hẹn sẽ “hạ cố” làm phim với anh: “Đạo diễn ơi, anh hay viết báo, anh viết bài cho cơ quan cũ với, VFS đang bị cố tình cho chìm xuồng, xóa sổ rồi, buồn quá. Mà giờ ở VFS, các cây cổ thụ cây đa cây đề, các NSND, NSƯT về hết rồi, toàn hội trẻ không thể bảo vệ nổi, không có tiếng nói. Không hy vọng đòi lại, nhưng ít ra cũng phải trả lại công bằng cho cán bộ Hãng chứ anh? Tôi thì về hưu cùng các anh chị rồi, nhưng nhìn Hãng mà cả đời bố mẹ cống hiến và hơn 30 năm tôi công tác tại đây mà xót xa quá…”. Bài báo sẽ viết cần đến cảm xúc được hâm nóng của anh – đồng nghiệp cũ của mấy trăm cán bộ công nhân viên của Hãng đang tuyệt vọng kêu cứu khắp nơi, may ra sẽ là một trong những giọt nước làm đầy tràn cốc nước lỳ lợm theo chủ nghĩa “mackeno” của các cấp có trách nhiệm. Có thể anh đã ảo tưởng – như bao ảo tưởng của anh trở hành bong bóng xà phòng suốt mấy chục năm trong nghề, nhưng vẫn phải ảo tưởng, bởi nếu không còn cảm hứng ảo tưởng thì anh chẳng có lý do nào nữa để tiếp tục cầm bút, cầm máy quay…

Trước khi bước qua cổng Hãng, đập vào mắt Thế là mảng tường long tróc vôi vữa nham nhở bị dán các tờ quảng cáo “Thông cống”, “Chữa yếu Sinh lý”, “Sửa Ti vi – Tủ lạnh”…, và thực hài hước, có cả một tờ thông báo to đùng nghễu nghện lấn át các “đồng nghiệp”: “Tuyển sinh lớp năng khiếu Diễn viên điện ảnh đặc biệt” của một công ty Truyền thông tư nhân chưa ai nghe đến tên bao giờ! Cũng ở bức tường này, đã từng “được” trưng lên cả tháng ròng một bản công bố chữ to của Lãnh đạo Hãng để cảnh cáo công khai những người đã đi làm phim ngoài Hãng cho một bộ phim của Thế!

Anh bất giác thở dài, cúi đầu bước qua cổng vô tình giống một người lính thất trận…

Sát cổng ra vào là phòng Bảo vệ cơ quan, gian phòng như tổ chim hoặc lều canh nương của đồng bào miền núi, kể từ buổi “sinh thời” của nó tới giờ lại càng trở nên thảm hại với mạng nhện bụi bậm chăng phủ. Tại bàn gỗ nhỏ đựng văn thư cơ quan của nơi được các nghệ sĩ mệnh danh là “trấn thủ lưu đồn”, Thế đã nhận được nhiều lá thư của học trò cũ, bạn bè “giáo khổ” Tây Bắc, và đặc biệt là những bức thư gửi từ Liên Xô, Cộng hòa Dân chủ Đức… Vào cơ quan mới này, đúng vào thời kỳ hậu Giá – Lương – Tiền, Thế có dịp làm quen với một người bạn trẻ tên là Dưỡng. Dưỡng chịu khó lắng nghe những nhận xét, bàn luận ở quán nước ngoài cổng Hãng sau mỗi lần cơ quan chiếu phim học tập. Cậu ta chỉ là một phụ động, đang thử việc; và có lẽ ra, sau vài ba phim đi phụ động sẽ được chính thức nhận vào làm thư ký trường quay – nếu cái suất đó không được tổ chức để giành cho con cháu “sếp” trong Hãng! Uất hận, Dưỡng xin đi xuất khẩu lao động. Trước khi đi, Dưỡng và Thế đã có cả một đêm chuyện trò. Trong tâm hồn cậu thanh niên chất phác ấy ấp ủ biết bao khát vọng văn chương và điện ảnh. Dưỡng buồn buồn nói với Thế: “Nhất định em sẽ quay trở lại nơi mà em đã bị hất đi, bằng chính những tích lũy kiến thức và lao động nghệ thuật của em”… Biết Dưỡng đi Nga, lại thích đọc sách, Thế đã tìm mấy cuốn tiểu thuyết dịch cũ của Nga trong tủ sách riêng đem tặng cậu ta, như: Những linh hồn chết, Làm gì?, Một tổ quý tộc, Những đốm lửa, Rừng Nga… Nhìn Dưỡng sung sướng ứa nước mắt, Thế chợt hiểu rằng đó là món quà lớn nhất đối với Dưỡng từ trước tới nay… Thế rồi, anh đã liên tục nhận được những bức thư của Dưỡng gửi từ Sibiri. Sự chờ đợi của Thế khi tìm thư mỗi lần đến cơ quan khiến nhiều người tưởng rằng anh có người thân ở nước ngoài! Thời gian đó, có người thân quen đang ở Liên Xô, ở Đông Đức, ở Tiệp… cũng có nghĩa là ít phải quan tâm đến việc phân phối hàng hoá của cơ quan, không phải bức xúc đến khốn khổ khi lốp xe đạp bị nổ thì lại được phân chiếc pê-đan!… Thế đã theo dõi bước đường tinh thần của chàng trai ham học hỏi, yêu nghệ thuật, và đồng cảm sâu xa với nỗi gian khổ của Dưỡng nơi tuyết trắng rừng Taiga. Anh đã tìm đọc lại những cuốn sách Nga dịch có liên quan đến Sibiri để có thể cảm thông hơn với Dưỡng, và có thể đưa ra lời khuyên hữu ích nào chăng với tư cách một người anh tinh thần, một người thầy, như Dưỡng từng đề nghị… Sau hai năm như vậy, Dưỡng đột nhiên bặt tin. Rồi cũng đột nhiên, Dưỡng liên hệ lại với Thế và thông báo rằng: cậu ta đã sang Đông Đức, và mở một cửa hàng ẩm thực Việt. Sau đó, Dưỡng yêu cầu anh tìm giúp những cuốn sách về văn học, sân khấu, điện ảnh mà Dưỡng cần. Và điều làm Thế ngạc nhiên cảm động nhất, là Dưỡng hỏi anh về những cuốn sách dịch tác phẩm của A. Solzhenitsyn, B. Pasternak, M. Bulgakov, A. Kron – loại sách lúc đó vẫn còn là “quốc cấm không thành văn bản” đối với ngay cả các “thủ lĩnh” Cơ quan… Môt thư điện tử của Dưỡng gửi Thế có đoạn: “Em cảm thấy có nhu cầu phải viết ra tất cả những gì mình đã trải qua… Giờ, em không vất vả kiếm sống như trước, em thấy biết ơn những năm tháng sống ở Hãng phim, ở Sibiri. Và biết ơn văn học, nhất là văn học Nga…”.

Trong cảnh hoang tàn, Thế chợt nhớ đến Dưỡng như một người bạn tri âm tri kỷ hiếm hoi. Vậy là cậu ta đã “ôm đầu máu” chạy khỏi nơi này trước anh, đã sớm may mắn thoát nạn từ lâu trước khi “con thuyền Điện ảnh” xứ này bị chìm, thoát bao nỗi đau đớn bị nghi kỵ và trù dập đến bẹp dí như con sâu róm – những kẻ không thể và không bao giờ có nổi “Thẻ Đỏ” mà dám mơ mộng cao siêu về nghệ thuật, dám mang khát vọng đẹp về Điện ảnh!… Thế giơ máy ảnh chụp lia lịa các chi tiết, các góc của “bối cảnh” phim tưởng tượng kia, để sau khi gửi đăng kèm bài báo sẽ gửi cho Dưỡng, để cậu ta nếu vẫn còn máu mê với Nàng tiên Út – Nghệ thuật thứ Bảy biết đâu sẽ có sáng kiến gì hay ho góp vào công cuộc phục hưng Điện ảnh, phục hồi Hãng phim, dù vô vọng thì cũng đỡ tủi cho ước mộng Điện ảnh vỡ nát của nhiều người, và làm đồng minh bất đắc dĩ của anh!

Thế bước tới phòng Tài vụ, cách phòng Bảo vệ dăm bước chân, đó là nơi không chỉ để lĩnh lương, lĩnh tiền hợp đồng, mà còn là nơi mỗi kỳ giáp Tết nhiều người cơ quan đến để nhận mấy cục “bánh bao đen”: đó là các đoạn phim négatif từ các hộp phim quay thừa của những đoàn làm phim cắt ra và đóng gói giấy đen để “làm quà” cho các tay máy ảnh trong cơ quan làm dịch vụ: phim quay đen trắng loại ORWO NP55 mà chụp ảnh đám ma đám cưới hay chân dung người đẹp thì miễn chê, bởi độ mịn tuyệt hảo của loại phim Nê chỉ dành cho những écran-màn ảnh lớn!

Thế bước tới một căn buồng đóng kín cửa, phía trên có tấm biển gỗ đã mục và xiên xẹo còn lờ mờ chữ: XƯỞNG LÀM PHIM SỐ… Đây là Xưởng đầu tiên Thế được phân vào khi về Xí nghiệp phim truyện nhận công tác. Kỷ niệm sâu đậm nhất tại đây là, ông Xưởng trưởng đã cho anh bài học đầu tiên của “sự nghiệp cày thuê cuốc mướn” chữ nghĩa, thực chất là cướp trắng công sức lao động và chất xám của anh… Thế bước sang căn buồng kế bên, biển gỗ rơi đâu mất, song anh nhớ đó là XƯỞNG LÀM PHIM SỐ…, và ở đây đã diễn ra lần “cày thuê cuốc mướn” thứ hai của anh – so với lần thứ nhất thì có hậu và có âm hưởng “lãng mạn” hơn – tất nhiên không phải là “lãng mạn cách mạng”… Thế ngước nhìn lên tầng hai – nơi có các văn phòng của Giám đốc và phó Giám đốc. Bao kỷ niệm với người thầy dạy nghề đáng kính của anh – phó giám đốc nghệ thuật Hãng – chợt quay về dồn dập… Mấy năm trước, Thế có viết bài báo tưởng nhớ ông: Một nghệ sĩ cô đơn, một người thầy nhân hậu đăng trên tạp chí Thế giới Điện ảnh, phần kết bài báo kể lại chuyện: Trong một cuộc họp tổng kết cuối năm của Hãng phim truyện VN, có các quan khách của Bộ Văn hóa-Thông tin và Cục Điện ảnh, trong khi các diễn văn chúc tụng đang diễn ra, chính mắt tôi được chứng kiến một cảnh thoạt tiên khiến tôi ngỡ ngàng: đạo diễn Đắc ngồi ghế bên dưới, điềm nhiên giở tiền thưởng ra đếm – bất chấp phép lịch sự giả dối, như một cách phản ứng lại sự vô bổ của các cuộc họp chỉ mang tính hình thức, hơn thế, chỉ là sự che đậy khéo léo cho những cuộc đấu đá tranh giành quyền lực và lợi lộc… Lúc đó, tôi thấy xót xa thương ông. Còn bây giờ, chi tiết buồn đó chỉ làm tôi thấy chạnh thương mình, song lại có thêm tình mến thương và lòng kính trọng đối với ông – một người nghệ sĩ chân chính và cô độc… Giờ đây, nơi bên kia thế giới, ông có được thanh thản hơn?

Thầy ơi, lúc này nơi bên kia thế giới, thầy có buồn hơn trước khung cảnh “mờ mờ nhân ảnh” Người và Ma, Vinh quang và Đổ nát của Hãng ta?

Tới phòng Họp cơ quan, Thế bồi hồi nhớ lại buổi cuối cùng của cuộc thi vào ngành Điện ảnh diễn ra tại đây[9]. Hôm đó, Thế được một vị trong Ban Giám khảo (gồm các nhà Điện ảnh nổi tiếng và các GS, TS. nghệ thuật học) hỏi một câu: “Theo anh, nhân vật chính của văn học nghệ thuật thời đại ta là gì?” Với sự háo hức của người sắp bước vào nghề nghiệp mới mẻ hằng ao ước, Thế trả lời: “Thưa, nhân vật thời đại, theo một học giả Bungari, đó là người có trí tuệ của một nhà bác học, có trái tim của một chiến sĩ, và tâm hồn của một nhà thơ!” Cả Ban Giám khảo ngẩn ra giây lát, nhìn nhau, chắc tự hỏi không hiểu kẻ “trái khoáy” này từ đâu ra, cớ sao không thèm nhắc tới Nhân vật Công – Nông – Binh mà tất cả các giáo trình Đại học văn chương, nghệ thuật lúc đó coi là Thần tượng, là hạt nhân tri thức mỹ học XHCN? Nhưng Thế vẫn “vượt Vũ Môn” để vào được ngành điện ảnh; mơ ước cháy bỏng bao năm của anh được thực hiện, có điều anh không thể biết rằng: đó cũng là lúc anh chuẩn bị tiếp nhận bao vỡ mộng đang há miệng chờ đón mình…

Thế đi hết các khu chức năng trong Hãng rồi bước tới một không gian sát Hồ Tây, hiện đang được chủ Hãng mới cho thuê làm một nhà hàng nổi… Đó cũng là nơi trước kia có một dãy nhà tập thể bằng tre nứa của Hãng… Thế nhớ, một trong những việc đầu tiên của anh khi về nhận công tác ở Xí nghiệp phim truyện (sau thành Hãng) là tìm đến căn phòng của nhà biên kịch người Thái Cầm Kỳ, mang theo chai rượu nút lá ra mắt người cùng “quân khu Tây Bắc”. Lúc đó, tên tuổi ông đã nổi như cồn trong ngành, còn Thế thì mới lẫm chẫm vào nghề; nhưng điều đó không hề ngăn cách hai người có biết bao buổi trò chuyện tâm đắc trong căn phòng tồi tàn này, rồi sau đó là căn phòng ngăn đôi ở khu tập thể cũ kỹ Hoàng Hoa Thám… Cứ sau mỗi buổi chiếu phim nghiên cứu học tập của cơ quan vào tối thứ tư, ông lại lôi kéo Thế ngồi bàn luận tới khuya. Rất quan tâm tới cách thể hiện độc đáo trong các phim, song điều khiến ông cảm thụ sắc bén và nhanh nhạy trước hết là những vấn đề nhân văn của chúng. Có lần, sau buổi chiếu phim Dòng nước đen của Nhật, sáng hôm sau ông kể cho Thế nghe ý tưởng một kịch bản mới nói về thân phận những người dưới đáy xã hội… Về đây, qua ông, Thế đã được hiểu thêm rất nhiều về nền văn hóa các dân tộc Tây Bắc, về các nhà thơ nhà văn hóa dân tộc đáng kính mà anh từng được tiếp xúc… Nói đến ông, mọi người thường lắc đầu thương hại. Nổi tiếng là người túng thiếu nghèo khổ nhất trong giới nghệ sĩ điện ảnh, nhưng ông vẫn cặm cụi viết, dù những kịch bản tâm huyết của ông dần trở nên lạc lõng thảm hại giữa “chợ trời” phim ảnh, chẳng một ông chủ hãng phim nào – kể cả ông giám đốc của Hãng phim truyện to nhất nước này đang trả lương bèo bọt và thất thường cho ông -, có thể mỉm cười chào đón ông nữa. Bởi lúc đó cả ngành Điện ảnh trong tình trạng cấp cứu, lại đang bị ngập lụt trong thứ phim đã đi vào từ điển tiếng Việt hiện đại: “Phim mì ăn liền” – nghĩa là thứ phim câu khách bằng mọi giá, kể cả chà đạp lên sự liêm sỉ tối thiểu!… Nỗi đau nghề đau đời của người anh đồng nghiệp đã rời xa cõi trần hơn ba chục năm vào lúc này như làm sống lại và khía thêm vào nỗi cay đắng tràn ngập lòng Thế nửa tiếng trước, bên cửa Xưởng phim cũ nhắc chuyện ông đạo diễn kỳ cựu đã cướp công lao động của anh…

Rồi Thế chậm rãi quay trở lại lối cũ dẫn ra cổng Hãng. Từ xa, trong cái “bối cảnh Thiên tạo” không dành cho bất kỳ cuốn phim négatif nào, Thế có cảm tưởng vừa xuất hiện từ màn sương ký ức một nữ diễn viên điện ảnh cao tuổi – đó là Nghệ sĩ Nhân Dân nổi danh, người từng được tôn vinh trong vài Festival Film quốc tế hệ thống XHCN (tiêu biểu là Liên hoan phim Mascơva). Chị đang đứng trân trân thỉnh thoảng chùi nước mắt ngậm ngùi, dễ khiến cho người lần đầu đến chốn hoang vắng này nghĩ rằng: đang có một cảnh quay phim sử dụng hoàn toàn ánh sáng tự nhiên còn máy quay thì được giấu ở một trong những cửa sổ mục nát tầng hai bị toang ra tựa lỗ châu mai thời kháng chiến chống Pháp.

Ở khoảng cách mà để nếu lấy được trung cảnh hẹp cần tới ống kính télé 200mm, Thế cũng có thể nhận ngay ra chị, nhưng chị chẳng chú ý đến Thế, và chắc chẳng biết Thế là ai, bởi anh thuộc loại đàn em tận mấy lứa sau của các nghệ sĩ Hãng phim truyện. Anh bước tới gần chị và chào. Chị diễn viên lau vội nước mắt tràn trề trên má.

– Chào em…

Chị nhíu mày như muốn nhớ lại tay này là ai, đã gặp bao giờ. Thế không để chị phải thắc mắc lâu hơn, anh nói nhỏ:

– Chị ạ, em hiểu tâm trạng của chị… Mới tuần trước em vào đây, em đã muốn chảy máu mắt trước cảnh các ông chủ mới của Hãng ném ra sân những vật dụng quý giá đối với người làm nghề phim truyện mà chúng em từng phải “thuê chui” để làm phim ngoài, như mấy bộ quần áo lính Pháp lính khố đỏ, vài khẩu Muscơtông!…

Chị diễn viên mắt sáng lên:

– Hóa ra, em cũng là người trong nghề, và có gắn bó với Hãng?

Thế gật đầu.

– Lúc nãy, em nhớ lại lời than vãn gần như cầu xin em của một chị nhân viên dựng phim, con gái của nhà quay phim nổi tiếng Nguyễn Quang…

– Ồ! Anh Nguyễn Quang! Chị đã từng làm phim với nhà quay phim Nguyễn Quang đó! Từ lúc chuyển vào phía Nam theo gia đình, chị chưa lần nào được liên hệ với ảnh… – Gặp lại người cùng cơ quan, giữa khung cảnh tan hoang của chốn làm nghề từng là “cái nôi” nghệ thuật của mình, chị diễn viên như tạm quên đi nỗi ngậm ngùi lúc trước để được sống lại thời xuân sắc và vinh quang chói lọi. Chị thân tình kéo tay Thế bước đi trên con đường rải mấy lớp lá khô, chỉ tay liên tục, như quên mất rằng Thế còn thông thạo nơi này hơn chị:

– Chắc em cũng nhận ra: sau tấm pa nô phim cũ nát kia là cầu thang lên các văn phòng Giám đốc và Phó Giám đốc phụ trách nghệ thuật; mấy gian phòng ở dưới, bên trái là các xưởng làm phim 1, 2, 3, 4… Phía sau cùng là các phòng Tổ chức, Tài vụ, Kỹ thuật… Kia là lối dẫn vào phòng họp Hãng – phòng chiếu phim, trường quay, xưởng in tráng, xưởng hậu kỳ…

Thế cũng chợt sôi nổi không kém chị :

– Vâng, bắt đầu từ đây tạo giới hạn của Hãng ta với địa phận của trường Chu Văn An, tức trường Bưởi cũ và Hồ Tây… Chắc chị biết: Hồ Tây cũng là địa bàn sinh sống những năm cuối đời của đôi vợ chồng thi sĩ đặc biệt có số phận vất vưởng, là Phùng Quán. Em có đôi lần được ngồi cùng nhà thơ Phùng Quán câu cá trộm ở Hồ Tây; và một lần duy nhất mời được ông vào xem phim học tập tại cơ quan mình – phim Anh em nhà Rocco của đạo diễn người Ý Luchino Visconti…

Thế chợt dừng lại. Anh thấy mình nói hớ khi nhận ra thái độ khó chịu của chị diễn viên khi anh nhắc đến một tên tuổi của nhóm Nhân văn giai phẩm. Như có búa nhỏ gõ nhẹ vào đầu anh: Chị ấy là nhân vật kỳ cựu trong giới tinh hoa mà sự sáng ngời của Lý lịch đã góp phần không nhỏ tạo nên bề dày kỳ tích diễn xuất mà cả giới điện ảnh phải thèm thuồng, nhất là qua những vai chính là Nữ Chính ủy, Tình báo quân Giải phóng, Biệt động nằm vùng… Trong các cuộc họp Chi bộ của Hãng ngoài này hay Hãng trong kia, chắc chắn chị là người được quán triệt hoặc ở vai trò quán triệt người khác về tư tưởng phòng chống các nọc độc phản Cách mạng ẩn náu trong các vần thơ, trang sách, phát ngôn, cảnh phim, thoại kịch của những đối tượng văn nghệ đáng nghi ngờ và đã bị đưa vào “máy chém” cải huấn đích đáng – như ông Phùng Quán nọ!

Thế câm lặng bên Ngôi sao điện ảnh khét tiếng một thời, và nếu chị không nổi tiếng đến thế và anh từng quen thân với chị, giữa khung cảnh hoang tàn đổ nát này, anh sẽ kể cho chị nghe vài cuộc “đấu tố” tư tưởng khó mà tin nổi dẫn đến những kết cục bi thảm của mấy nghệ sĩ tài năng, vài “vụ án” không bao giờ được ghi lại chính thức hay mãi mãi chìm trong đống phim négatif – nếu được quay trộm – về nhiều âm mưu thâm hiểm nhằm “giết chết” sinh mệnh chính trị – nghề nghiệp lẫn nhau ở một vài thế hệ điện ảnh mang danh “trí thức”, “văn nghệ sĩ có công với Cách mạng” trong Hãng mà Thế đã âm thầm nghe ngóng, sưu tầm, ghi chép suốt nhiều năm qua… Và anh sẽ kể chị nghe toàn bộ sự thật ô nhục về cuộc “Cổ phần hóa Hãng phim” dẫn đến cảnh “Điêu tàn” không kém của thi sĩ họ Chế này! Nếu thấy chị “chịu” được những điều khó nhằn đó, anh sẽ giới thiệu cho chị nội dung cuốn Trò chơi[10] – cuốn tiểu thuyết tuy không phải là đặc sắc nhất của nhà văn Nga Yuri Bondarev nhưng lại là tác phẩm nói rất kỹ, rất thấm thía về sự suy đồi, tha hóa của một trong những nền điện ảnh lớn thế giới kể từ khi tuân theo định hướng sáng tác XHCN và những “nghệ sĩ lớn” dần biến thành “ông quan” nghệ thuật có “sứ mệnh” là thực hiện chỉ thị từ trên xuống tới các “nghệ sĩ bé” (về chức vụ) nhằm tạo ra các tác phẩm phục vụ thật tốt đường lối cao cả của Chính quyền và đồng thời cũng xa cách dần các giá trị nhân văn phổ quát của nhân loại… “Cái đít đồng ghế Giám đốc Mosfilm” – theo cách nói của Bondarev – đã lấn át hết, tới chỗ thống trị tư duy sáng tạo của không ít nghệ sĩ điện ảnh Liên Xô có lương tâm một thời… Còn nền điện ảnh đàn em, sinh sau đẻ muộn ở nước ta tuy không mắc “căn bệnh ung thư” tới độ trầm trọng như sự miêu tả của Bondarev, song lại không có đủ nội lực để tự vượt thoát và tự “xạ trị” như “ông lớn Mosfilm”, nên đã bị “đầu độc” một lần tới gần chết vào đầu những năm 90 thế kỷ trước mà di chứng còn đến tận giờ – khi Liên Hiệp Điện ảnh Việt Nam đã có chủ trương hãm hại nó bằng nhiều phương thức khá tàn độc – trong đó có việc xóa bỏ tất cả các rạp chiếu phim và chuyển chúng thành các thứ kinh doanh ăn uống hay văn hóa lặt vặt không dính líu gì tới Nghệ thuật thứ Bảy!… Hãng phim, cùng cả nền điện ảnh dân tộc chết lâm sàng từ đó; những phim sử thi hoành tráng ca ngợi chủ nghĩa Anh hùng Cách mạng và Lãnh tụ vĩ đại một cách chân thành nhất cũng không cứu nó thoát khỏi cảnh ngắc ngoải. Rồi tới khi chủ trương cổ phần hóa đưa ra đã là phương thức thật lý tưởng cho tầng lớp “Mafia” (hay gần giống Mafia) trong ngành Văn hóa – Điện ảnh, những “hậu duệ” của Liên hiệp Điện ảnh trước đây bây giờ nhảy vào ngang nhiên xâu xé cả nền Điện ảnh đang thở hắt, với quy luật trơ tráo của thời kinh tế thị trường dị dạng tiếp tay cho “thương vụ 4 Thụy Khuê” mà một nhà văn từng công tác ở Cục Điện ảnh đã phải thốt lên: “Đó là một thương vụ Mua – Bán đến ăn cướp cũng phải chào thua!”.

Năm ngoái, khi có dịp phải đi qua phố Thụy Khuê, Thế có nghé vào cổng Hãng phim cũ, đúng cái lúc Vivaso, chủ mới của Hãng – những người chẳng cần biết Điện ảnh là gì ngoài số tiền họ đã bỏ ra “mua như ăn cướp” để làm chủ khu đất vàng lớn sát Hồ Tây (cùng khu đất của Hãng tại Đồn Đất, Sài Gòn) – ném hết ra ngoài sân toàn bộ kho phục trang, đạo cụ phó mặc cho mưa nắng, bởi với họ, đó chỉ là mấy thứ “đồng nát” vô giá trị, làm bẩn kho của họ. Cũng như họ đâu thèm quan tâm những người làm nghề sẽ đau xót đến chảy máu mắt ra sao, không thèm đếm xỉa đến đời sống và nghề nghiệp của người làm phim giờ đang như “cá nằm trên thớt” chờ “ơn huệ” của ông chủ mới… Hiện giờ, những ông chủ mới của Hãng phim ấy (Vivaso) đã phải nhè ra, bởi khó “ăn tươi nuốt sống” được miếng mồi béo bở cùng phe nhóm bên trên… Nhưng số phận của cả Hãng phim cùng hàng trăm nghệ sĩ, cán bộ công nhân viên vẫn còn trong giai đoạn “Sống cùng Lịch sử” – như tên một bộ phim truyện gần đây, “Sống cùng Lịch sử” với Vinh và Nhục của một nền Điện ảnh chịu nhiều thua thiệt và kém cỏi so với các đàn anh đàn chị trong khu vực chứ chưa dám so với cả thế giới…

Thế nhận thấy chị diễn viên có mối quan tâm thực sự đến số phận của Hãng phim và cả nền Điện ảnh đang chết lâm sàng, nên anh quyết tâm nói cho chị nghe những gì mà anh biết:

-…Nhưng chị ạ, xét cho cùng, nếu chỉ trách mỗi Vivaso thì cũng hơi oan cho họ, bởi họ đã hành động theo quy luật của Kinh tế thị trường, đúng yêu cầu của quy trình Cổ phần hóa, giữa lúc nền Điện ảnh nhiều năm mang danh Cách mạng kia gần như bị phá sản, thua lỗ, không có người xem vì chủ yếu là những đề tài mang nặng tuyên truyền chính trị, phim nặng tính “cúng cụ” – mà cả một thời rất dài nếu muốn xem loại phim đó cũng chẳng còn rạp đâu mà xem, sau khi Liên hiệp Điện ảnh đã xóa sổ các rạp chiếu phim nhựa, biến chúng thành quán bia, vũ trường, câu lạc bộ văn hóa phường…

Anh chỉ tay ra phía cổng Hãng mở tênh hênh:

– Chị ơi, giữa cái thời chị và các bậc thầy điện ảnh của chị em ta đang lâng lâng tự hào với những tác phẩm điện ảnh ca ngợi lý tưởng Cách mạng cao đẹp được trao giải chiếu cố tại mấy Liên hoan phim quốc tế, thì Ban Giám đốc Hãng trưng ra Bảng chữ to treo trước cổng kia kìa, để cảnh cáo, để bêu nhục những người làm phim lương thiện, trong đó có thằng em của chị đây…

Chị diễn viên giật mình, nhăn mặt lại:

– Cớ sao thế em? Các em mắc lỗi gì ư?

– Họ cảnh cáo những người đã đi làm phim ngoài Hãng cho em – dù họ đã làm đủ định mức lao động của cơ quan…

– Vô lý thế – chị ngắt lời.

– Chỉ vì em đã không đưa kinh phí tài trợ Cục Điện ảnh về cho Hãng thực hiện phim của em… Người bạn em làm trưởng phòng Kỹ thuật của Hãng, một nhà quay phim K5 cũ đã bí mật chọn thuê cho phương tiện lành lặn nhất, giá hợp lý nhất và mời mấy ánh sáng viên, kỹ thuật viên đi giúp đoàn phim quay xa ở miền núi, rồi sau đó cũng bị phát hiện và bị Đảng bộ Hãng kiểm điểm lên xuống… Và tên tuổi anh ấy cũng bị bêu lên trên Bảng chữ to kia!

Chị diễn viên lắc đầu nhẹ, nhưng vẻ mặt vẫn băn khoăn như không tin lời Thế. Anh đang trong đà say máu “tố khổ”:

– Trước đó cả chục năm, điện ảnh Việt Nam đã rơi vào cơn khủng hoảng trầm trọng, từng phải lên tiếng cấp cứu thảm thiết, và nền điện ảnh Cách mạng đáng tự hào đã phải nhường sân cho hàng loạt “phim mì ăn liền” với những cái tên phim câu khách lộ liễu trắng trợn! Ở trong ấy, giữa cái Lò chính sản xuất các “phim mỳ ăn liền”, chị lạ gì nữa?

Chị diễn viên gật đầu xác nhận.

– Gần đây, sau khi một cuốn sách viết về diễn viên Châu Nhuận Phát ra đời, em có viết bài báo nhỏ: “Hoan nghênh Châu Nhuận Phát”, bởi đó là một nhân cách đáng quý, nhất là đã không chấp nhận “Đường lưỡi bò” của bọn bá quyền Trung Nam Hải! Nhưng đó cũng là diễn viên lừng lẫy của một nền Điện ảnh thương mại một dạo đã góp phần “hạ đo ván” nền Điện ảnh VN ốm yếu què quặt mà trong một bài báo viết cho báo “Đại Đoàn Kết” ba chục năm trước em có nói đến, kèm theo hai tấm ảnh: ảnh diễn viên Châu Nhuận Phát đang cầm súng lục chĩa vào ảnh diễn viên Thu Hà… Như thế là sự thê thảm của nền Điện ảnh dân tộc đã diễn ra suốt mấy thập niên qua, không đợi đến lúc ngắc ngoải để Cổ phần hóa: nền điện ảnh ấy vốn đã ốm o gầy mòn, không được bồi bổ, bị ăn chặn tứ phía, lại thường xuyên bị “ăn hiếp” bởi những kẻ tự đắc tự mãn, vừa dốt nát vừa tham lam ở các cấp…

Chị diễn viên cắn môi lại vẻ tức tối và bất lực. Thế bảo:

– Nếu chị không ngại đọc những sự thật đau lòng đến trần trụi của ngành ta, em sẽ gửi cho chị mấy bài viết đã đăng báo chính thống của em viết từ hơn ba chục năm trước tới gần đây nhất nhé, chị sẽ hiểu thêm vì sao có cảnh ngộ này – Thế chỉ tay ra “bối cảnh” tàn tạ hoang vu. Nhưng chị diễn viên lắc đầu:

– Không! Chị không muốn đọc đâu! Chị nhớ ra em rồi, từ lúc mấy đạo diễn phải rời Hãng vào Sài Gòn tìm mối làm phim, chị đã được nghe kể về em, đã đọc các bài báo của em viết về ngành mình, nhưng lúc đó chị không tin. Còn bây giờ, những điều đó sẽ chỉ khiến chị thêm đau lòng…

Thế định nói thêm: “và khiến chị thêm tiếc nuối với các vinh quang của chị; lẽ nào các Bằng khen, Huy chương, Danh hiệu cao quý chị đoạt được lại dính líu thậm chí có nguồn gốc từ sự bê bối khủng hoảng kia?… Nhưng Thế chợt thấy thương hại chị, anh không nỡ nói thêm gì nữa, bởi nếu chị có nghe thì chắc không chịu đựng nổi điều này: sự phá sản của cả một nền Điện ảnh dân tộc cũng có phần đóng góp đáng kể của nhiều tác phẩm điện ảnh ca ngợi Chiến thắng bằng mọi giá của Bên thắng cuộc[11], vẫn được gọi là “Phim Cúng cụ” – trong đó, nhân vật chính diện là chị cùng các đồng nghiệp diễn xuất tài hoa đã nhiệt thành cho khán giả trong nước và thế giới dễ dàng nhận ra tính thù hằn giai cấp tới độ “Thù muôn đời muôn kiếp không tan” ẩn sâu hoặc lộ diện giữa Thanh thiên bạch nhật trong hình ảnh những chiến sĩ hoặc nông dân cầm vũ khí bảo vệ Tổ quốc… Nhà điện ảnh Pháp nổi danh René Claire từng bảo: “Bộ phim thực chất là một bài thơ được viết bằng ánh sáng”, còn ở ta, phần lớn các bộ phim thời “hoàng kim” của Điện ảnh cách mạng thực chất chỉ là những bản lên án – tố cáo – tố khổ – lời kêu gọi sự thương hại, được viết bằng ánh lửa thiêu ngùn ngụt hoặc ngọn đèn vạn Wát gay gắt của sự căm hờn thù hận… Sự thù hận đó tạo thành mạch máu chính của cả một “nền văn nghệ minh họa” – theo cách nói của một nhà văn sớm thức ngộ trước cái “hố thẳm” mà nhiều văn nghệ sĩ Việt hiện đại đang lao vào tựa những con thiêu thân, và nó còn hằn vết tới tận hôm nay khiến các trang sách và các màn ảnh lớn nhỏ vẫn nhuộm đỏ máu người như một sự tuyên bố ngầm quyết liệt xóa bỏ lời kêu gọi Hòa hợp Hòa giải thực sự mà hàng ngày vẫn được ra rả trên các phương tiện truyền thông!

Thế nhớ lại mấy báo Thế viết thời bị Hãng cắt lương phải phiêu bạt cùng nhiều đạo diễn già – trẻ vào Sài Gòn tìm đường cứu nghề. Anh sẽ tìm cách thuyết phục chị đọc chúng, cùng nhiều tài liệu chính thức đã công bố (chứ không phải của Mạng xã hội và truyền miệng), hy vọng chị sẽ là “Nhân chứng” sống có sức nặng không nhỏ trong việc đưa “thương vụ mua bán” Hãng phim đầy phi lý và ô nhục này ra “thanh thiên bạch nhật”; đồng thời – điều này quan trọng hơn – như vậy là chị sẽ cùng Thế thắp nén hương không chỉ tưởng nhớ mà còn thay mặt cả nền điện ảnh Tạ lỗi – Sám hối trước linh hồn các nghệ sĩ điện ảnh đã chết tức tưởi sau các cuộc truy bức tư tưởng & kiểm soát bữa ăn, và các nghệ sĩ điện ảnh đã hy sinh anh dũng trong các mặt trận phía Nam trước năm 75 giữa lúc cầm máy quay!


[6] Hố thẳm: Từ dùng của thi sĩ triết gia Phạm Công Thiện.

[7] Nhà làm phim độc lập (independent filmmaker) – khái niệm mới được du nhập vào Việt Nam mấy năm nay, là người làm phim nằm ngoài các hãng phim lớn, không phụ thuộc vào phim trường và diễn viên ngôi sao, không chạy theo thị hiếu đám đông, tự chủ trong mọi khâu từ lên ý tưởng, sản xuất đến tìm kiếm nguồn vốn… để có thể bảo vệ dấu ấn sáng tạo cá nhân. Phim độc lập thường khai thác các chủ đề xã hội nhạy cảm, tâm lý phức tạp hoặc những thể nghiệm nghệ thuật mới lạ và thường được thực hiện với kinh phí thấp hơn đáng kể so với các hãng phim lớn.

[8] Họa sĩ thiết kế, hay Giám đốc mỹ thuật (Production Designer) là người chịu trách nhiệm toàn bộ về mặt thị giác và không gian nghệ thuật của một bộ phim truyện (Phụ trách các tổ xây dựng bối cảnh, thiết kế phục trang, đạo cụ).

[9] Do Cục Điện ảnh, trường Đại học Sân khấu Điện ảnh Hà Nội và các Hãng phim cả nước liên kết tổ chức thi tuyển khóa Đại học Tu nghiệp đầu tiên (và cũng là duy nhất) cho các chức danh nghề nghiệp: Biên kịch, Đạo diễn, Họa sĩ thiết kế, Chủ nhiệm phim.

[10] Trò chơi (Игра) xuất bản lần đầu năm 1985.

[11] Tên một tác phẩm của nhà báo Huy Đức.

This entry was posted in Văn and tagged . Bookmark the permalink.