Liễu Trương

Chân dung Ý Nhi, tranh Nguyễn Thái Tuấn
Nhà thơ Ý Nhi đến với độc giả qua những thi phẩm: Nỗi nhớ con đường và Đến với dòng sông (1974-1978), Người đàn bà ngồi đan (1985), Ngày thường (1987), Mưa tuyết (1991), Gương mặt (1991), Vườn (1998).
Thơ của Ý Nhi tinh tế, đa dạng, từ nội tâm hướng về ngoại giới, là thơ của tình yêu, tình bạn, tình người, thơ kể lại những nơi chốn đã sống, đã đi qua, thơ của con người giao cảm với cái đẹp của thiên nhiên, con người sống với nghệ thuật, con người sáng suốt không nhân nhượng trước những áp lực.
Tự thức tỉnh
điều chỉ có nơi một lương tâm trong sạch.
Tự lìa bỏ
những giá trị đã một đời xây đắp
điều chỉ có nơi một người hoàn toàn mạnh mẽ.
Tự bước khỏi lối mòn
(cái lối mòn từng dẫn tới vinh quang)
điều chỉ xảy ra với một tài năng.
Bừng sáng
giữa bao nhiêu ràng buộc, tối tăm.
Bừng sáng
giữa bao nhiêu hiềm khích.
Bừng sáng
Gương-Mặt-Người-Kêu-Gọi.
(Nhà văn Nguyễn Minh Châu)
Ý Nhi ca tụng tranh của các họa sĩ Nguyễn Sáng, Bùi Xuân Phái, Dương Bích Liên, v.v., nhưng chính Ý Nhi cũng vẽ tranh, không vẽ với đường nét, màu sắc như các họa sĩ, mà vẽ với… ngôn ngữ. Bài thơ Người đàn bà ngồi đan là một bức tranh tuyệt đẹp.
Thơ Ý Nhi vừa nhẹ nhàng vừa lôi cuốn vì ý nghĩa sâu sắc, vì cái đẹp ẩn kín thấp thoáng đây đó. Bài thơ Người lính sau đây là một bài thơ câm nín, đầy im lặng, nhưng qua những gợi ý lại nói nhiều về thảm họa chiến tranh. Phải chăng ảnh hưởng của hội họa đưa im lặng vào thơ của Ý Nhi để biến cảnh tương một thành phố náo nhiệt trong thơ thành một bức tranh dưới mắt người lính và cũng dưới mắt người đọc?
NGƯỜI LÍNH
Trên con đường từ mặt trận đến mặt trận
Người lính đi qua một thành phố lớn.
Cái thành phố khổng lồ, rối ren, náo động
bỗng hiện ra tĩnh lặng trước đời anh
cây bên đường im phắt một màu xanh
toa xe điện như trôi giữa lòng đường phố hẹp
không có tiếng động cơ, xe lao đi vun vút
và bao người bước lặng dưới nhà cao
họ khóc cười, chia biệt, đón chờ nhau
anh cảm biết mọi điều qua ánh mắt
nhưng lời chuyện trò, anh không nghe thấy được
anh không nghe tiếng khóc, tiếng cười kia.
Ôi cuộc đời thường nhật đã hiện ra
đúng như thể bao lần anh mong mỏi
nhưng đó là giấc mơ
đó là điều anh chưa thể tới
chưa bao giờ anh có đủ thời gian.
Trong những lán che, trong những căn hầm
anh qua tháng ngày của mình trong đạn lửa
trong cơn sốt, trong cái đói giày vò, trong làn súng
kẻ thù đe dọa
anh giữ nơi tay ngọn cờ xung trận
anh đã nghĩ đến cái chết
như bao lần anh nghĩ về cách sống.
Tiếng còi tàu đã vang lên như tiếng còi báo động
anh quay nhìn thành phố
và thoáng qua gương mặt anh lời từ biệt.
Ở cửa ga
người soát vé vừa giúi vào tay anh mảnh bìa con vừa
thét to giải thích
đó là chứng từ thanh toán của chuyến đi
anh mỉm cười
hờ hững nhét mẩu vé tàu vào túi ngực.
Bài thơ vẽ lên hai thế giới mâu thuẫn: thế giới của chiến tranh và thế giới của hòa bình, thế giới của cái chết và thế giới của sự sống. Ở nơi nào và vào thời nào, người lính cũng là kẻ phải chịu bao gian khổ, là kẻ hy sinh xương máu và mang một tâm trạng khắc khoải, tuyệt vọng khi đối diện với cái chết.
Từ mặt trận này qua mặt trận khác, người lính ngày đêm sống trong tiếng nổ chát chúa, trong tiếng bom đạn rền trời. Khí giới là bộ mặt của thù hận, của chém giết. Tiếng nổ vang trời dậy đất là tiếng nói của tử thần.
Người lính ra khỏi địa ngục chiến tranh, đột nhiên đứng trước một cảnh tượng mới lạ, câm nín, bèn đâm ra ngỡ ngàng. Anh thấy con người sống trong cảnh thanh bình quá đẹp, nhưng chiến tranh bùng nổ quanh anh đã làm anh hóa điếc, tâm hồn anh bị tiếng bom đạn ngự trị, ám ảnh, anh không còn nghe được tiếng nói của con người, của sự sống, của hạnh phúc, những điều mà anh không vói đến được.
Nếu người lính không bị chiến tranh giết thì tâm hồn người lính cũng mang thương tích suốt đời.
Bài thơ Người lính của Ý Nhi có một sức gợi ý và gợi cảm rất mạnh. Tác giả dùng thủ pháp tương phản để nhấn mạnh sự mâu thuẫn giữa chiến tranh và hòa bình, giữa sự chết và sự sống, giữa đau khổ và hạnh phúc của con người. Tiếng động và im lặng là biểu tượng của hai thế giới đó, làm tăng giá trị nghệ thuật của bài thơ.
Để kết thúc, xin dịch bài thơ Người lính sang Pháp ngữ sau đây.
Le Soldat
Sur la route menant d’un front à un autre front
Le soldat traverse une grande ville.
Une ville gigantesque, aux allures enchevêtrées, en pleine agitation
elle apparaît soudain silencieuse face à sa vie
les arbres au bord des rues se figent dans un vert uni
les tramways semblent couler au cœur des rues étroites
sans bruit de moteur, ils foncent à toute allure
et tant de gens marchent silencieusement à l’abri des immeubles élevés
ils pleurent, rient, se séparent, s’attendent
le soldat comprend tout cela à travers son regard
mais il ne peut entendre leurs conversations
il n’entend pas leurs pleurs, leurs rires.
Oh ! Telle est la vie quotidienne
que tant de fois il avait désirée
mais c’est un rêve
c’est ce qu’il ne peut encore atteindre
il n’a jamais eu le temps suffisant d’y parvenir.
Dans des cabanes, dans des tranchées
il passait ses jours et ses mois dans le feu des armes
dans la fièvre, dans les tortures de la faim, sous la menace des armes ennemies
il tenait à la main le drapeau, signe de l’assaut
il avait pensé à la mort
comme tant de fois il avait pensé à la façon de vivre.
Le sifflement du train retentit comme le rugissement d’une sirène d’alerte
il se retourne pour regarder la ville
et sur son visage passe rapidement un mot d’adieu.
Au portail de la gare
le contrôleur tout en fourrant dans sa main un morceau de papier épais
lui explique en hurlant
que c’est la preuve du règlement du voyage
il sourit
indifférent, il enfonce le billet dans sa poche de poitrine.