Bùi Vĩnh Phúc

Tranh của Bùi Xuân Phái (1920-1988)
.1.
Ăn uống, nói chung, là chuyện bình thường. Ta nhớ trong Cung oán ngâm khúc, Nguyễn Gia Thiều viết “… Máy huyền vi mở đóng khôn lường! / Vẻ chi ăn uống sự thường / Cũng còn tiền định khá thương lọ là…” Như thế, ăn là một chuyện bình thường, như việc đi đứng, nói năng, hít thở. Nó là chuyện sống. Cho dù trong cuộc sống ấy, đôi khi ta vẫn được nhắc bảo là “Ăn để sống chứ không phải sống để ăn”. Cả Đông và Tây đều có những cái nhìn sâu sắc và ý nghĩa khi nói đến chuyện ăn uống này. Khái niệm “ăn” không chỉ nói đến hành động sinh tồn mà còn là một hiện tượng văn hóa, triết học và xã hội sâu sắc. Cách nhìn nhận về việc ăn uống khác biệt rõ rệt giữa phương Đông và phương Tây, phản ánh những giá trị cơ bản, cốt lõi của mỗi nền văn minh.
Ở phương Tây, đặc biệt là trong văn hóa hiện đại, việc “ăn” thường được tiếp cận dưới góc độ khoa học, cá nhân và trải nghiệm thẩm mỹ.
-
Tính Khoa học (Dinh dưỡng): Triết lý ăn uống tập trung mạnh vào thành phần dinh dưỡng (Nutrition). Việc ăn uống là một hoạt động có ý thức, nhằm tối ưu hóa sức khỏe, thể chất và hiệu suất cá nhân (ví dụ: Calorie counting, Macrobiotics).
-
Tính Thẩm mỹ và Tách biệt: Ẩm thực được coi là một loại hình nghệ thuật (Cuisine) với sự sáng tạo cá nhân của đầu bếp. Món ăn thường được phục vụ riêng lẻ theo trình tự, phản ánh sự tách bạch và tập trung vào trải nghiệm vị giác cá nhân.
-
Triết lý Cân bằng: “Ăn” là sự cân bằng giữa khoái cảm và trách nhiệm sức khỏe.
Một câu nói mà ta thường nghe là “Hãy nói cho tôi biết bạn ăn gì, tôi sẽ nói cho bạn biết bạn là người như thế nào.” (Tell me what you eat and I will tell you what you are.) Nhận định này của Jean Anthelme Brillat-Savarin, một nhà ẩm thực học Pháp, nhấn mạnh đến vai trò của ẩm thực trong việc định hình bản chất con người và văn hóa. Nó lại nhắc ta đến chuyện “cái sống” và “cái chín” trong việc định hình sự văn minh. Trong Le Cru et le Cuit (Cái sống và Cái chin), Claude Levi-Strauss, nhà nhân học nổi tiếng thế giới, như một cách chơi chữ, chơi âm, đã cho rằng việc chuyển đổi miếng ăn từ “sống” (“cru”) sang “chín” (“cuit”) qua việc thui, nướng, v.v., đã biến đổi loài người từ trạng thái man dã, nguyên thuỷ, sang một cuộc sống có nhiều nét văn hoá, văn minh.
Là người đọc sách và là một “con vật xã hội”, là sinh vật có cả môt nghệ thuật thâm sâu về chuyện giao tiếp, rồi đi đến… chuyện PR (Public Relations), so với các loài sinh vật khác, chúng ta cũng thường được nghe một, hai câu tương tự, theo cách nói của nhà ẩm thực học Jean Anthelme Brillat-Savarin đã trình bày ở trên, như: “Hãy nói cho tôi biết bạn đọc (những) sách gì, tôi sẽ nói cho bạn biết bạn là người như thế nào.”, hoặc, “Hãy nói cho tôi biết bạn chơi với những ai, tôi sẽ nói cho bạn biết bạn là người như thế nào.” Không biết câu nào trong ba câu trên xuất hiện trước trong cuộc sống loài người, nhưng, rõ ràng, việc ăn, giao tiếp và đọc sách là ba sinh hoạt căn bản, xếp theo thứ tự, trong việc nhìn nhận bản chất của con người.
Ở phương Đông, đặc biệt là ở các nền văn hóa chịu ảnh hưởng của Trung Quốc, Việt Nam, triết lý “ăn” gắn liền với Sự Hòa hợp (Harmony), Thiên nhiên và Cộng đồng (Communal).
-
Tính Hòa hợp (Âm Dương): Việc ăn uống là hoạt động cân bằng năng lượng âm (lạnh, nước) và dương (nóng, lửa) trong cơ thể và trong món ăn. Mục đích của nó không chỉ là cung cấp năng lượng mà còn là duy trì sự cân bằng của cơ thể với môi trường.
-
Tính Cộng đồng và Tổng thể: Bữa ăn là không gian kết nối xã hội và gia đình, phản ánh thứ bậc (thứ tự mời ăn). Món ăn thường được chia sẻ trong một khung cảnh mang tính gắn kết và tổng thể.
-
Triết lý Y học: Ẩm thực được coi là Y học. Món ăn là bài thuốc phòng ngừa và chữa trị.
Lão Tử, một đạo gia Trung Quốc, viết: “Trị nước lớn như nấu món cá nhỏ.” (治大國若烹小鮮 – Trị đại quốc nhược phanh tiểu tiên.) Câu này cho thấy ngụ ý về triết lý quản lý/lãnh đạo là phải tinh tế, nhẹ nhàng, không nên can thiệp quá mức, giống như việc nấu một món cá nhỏ ngon cần sự cân bằng và không làm hỏng nguyên liệu. Còn nhà văn Nguyễn Tuân của Việt Nam ta, người đã đưa cái ăn, miếng uống lên một tầm cao, thì xem ăn uống là một chuyện tinh tế, gắn với văn hóa. Nó là một nghệ thuật, một giá trị thẩm mỹ. Quan niệm của ông khẳng định ẩm thực không phải (chỉ) là bản năng mà là đỉnh cao của sự tinh tế, là nơi hội tụ của sự hiểu biết về nghệ thuật, lịch sử và con người.
Tóm lại, trong khi phương Tây nhìn nhận việc ăn uống thông qua lăng kính khoa học và trải nghiệm cá nhân, thì phương Đông lại tiếp cận nó như một nghệ thuật hòa hợp thiên nhiên, cân bằng âm dương và duy trì sự gắn kết cộng đồng.
Trước khi tìm hiểu sâu hơn về chuyện ăn trong đời sống, trong tâm thức và ngôn ngữ người Việt, ta hãy thử lược thêm một số cách nhìn và phát biểu của thế giới Tây phương, Âu Mỹ về chuyện ăn.
Nhà văn Virginia Woolf của Mỹ, vừa mang tính cổ điển/hàn lâm lại mang nét tiền phong qua các tác phẩm của mình, phát biểu: “Người ta không thể suy nghĩ tốt, yêu tốt, ngủ tốt nếu chưa ăn ngon” (“One cannot think well, love well, sleep well, if one has not dined well.”) Còn M.F.K. Fisher, một nhà ẩm thực học người Mỹ, thì nói “Đầu tiên, chúng ta ăn. Sau đó, chúng ta làm những thứ [khác]” (Hoặc “Ăn cái đã, mọi chuyện khác tính sau”, “First, we eat. Then, we do the things.”) Kịch tác gia George Bernard Shaw nổi tiếng Anh quốc thì bảo: “Không có tình yêu nào chân thành hơn tình yêu dành cho ẩm thực.” (“There is no love sincerer than the love of food.”) Có lẽ ta phải rất quan tâm đến câu nói này của nhà viết kịch, đặc biệt khi ta đang muốn lò dò tiếp cận với món “tình yêu trai gái”. Bởi lẽ, Auguste Escoffier, đầu bếp nổi danh và cũng là người chuyên viết về ẩm thực Pháp, người đã phổ thông hoá và nâng cấp cách nấu các món ăn truyền thống Pháp, đã nói: “Thức ăn ngon là nền tảng của hạnh phúc đích thực.” (“Good food is the foundation of genuine happiness.” Và, ai đã nói câu này nhỉ, “Tình yêu của người đàn ông đi qua dạ dày”? Đây là một câu tục ngữ hoặc thành ngữ dân gian rất phổ biến. Ta không rõ ai là người đầu tiên nói ra câu này. Tuy nhiên, có lẽ nó có nguồn gốc từ Đức hoặc Pháp. Trong tiếng Anh, câu tương đương, là “The way to a man’s heart is through his stomach”, cũng là một thành ngữ rất quen thuộc.
Còn ai ở phương Tây nữa nhỉ? À, có ông tổ của các vị lương y đây. Hippocrates, mà lời thề đạo đức của ông luôn nằm trong tim và được thốt trên môi của mọi y sĩ khi nhậm chức, được gọi là lời thề Hippocrates, lại liên kết cái ăn với chuyện thuốc men và chuyện chăm sóc sức khoẻ. Ông khuyên “Hãy để thức ăn là thuốc và thuốc là thức ăn của bạn.” (“Let food be thy medicine and medicine be thy food.”) Vậy mới thấy, ăn uống, ở một khía cạnh, nó là một “sự thường”, như đã nói, nhưng ở một mặt khác, nó là chuyện khôn ngoan trong việc giữ sức khoẻ. Trong những năm gần đây, ta thấy có rất nhiều quyển sách được xuất bản liên hệ đến cái ăn, việc ăn, theo chiều hướng mà ông tổ y khoa Hippocrates đã khuyên. Chẳng hạn như quyển Ăn xanh để khoẻ (Fresh Vegetable and Fruit Juices) của Norman W. Walker (viết cùng bác sĩ y khoa R.D. Pope). Hay quyển Ăn gì bổ não (Brain Maker) của bác sĩ David Perlmutter (do Kristin Loberg chấp bút). Hay quyển Ăn gì không chết (How not to Die) do bác sĩ Michael Greger viết cùng với Gene Stone. Vân vân.
Ngoài ra, còn có những câu nói được truyền tụng trong nhân gian, không cần biết ai là tác giả, mang đầy minh triết và sự thâm thuý, như: “Nếu bạn thực sự muốn kết bạn, hãy đến nhà ai đó và dùng bữa cùng họ…, những người cho bạn thức ăn cũng sẽ trao cho bạn trái tim của mình.” (“If you really want to make a friend, go to someone’s house and eat with him… the people who give you their food give you their heart.”). Hoặc một nhận định gần gũi mà ai cũng có thể cảm nhận được: “Tiếng cười rạng rỡ nhất ở nơi có thức ăn.” (“Laughter is brightest in the place where the food is.”) Thức ăn, của ăn, cái ăn chính là một hạnh phúc trên đời.
Người Trung Hoa, cũng là một dân tộc có một nền văn hoá lâu đời, trong đó có khía cạnh ăn uống, cũng có nhiều câu nói liên hệ xa gấn đến điều này, dối với nhiều sự trong sinh hoạt của họ. Như câu: “Dân dĩ thực vi thiên” (民以食为天), mang nghĩa là “Người dân lấy ăn uống làm trời.” [1]. Điều này muốn nói đến việc người dân xem thức ăn là điều quan trọng bậc nhất, là nền tảng của sự sống và xã hội. Hay câu “Bất thời bất thực” (不時不食), với nghĩa là “Không đúng mùa, không ăn”. Câu nói khuyên người ta không ăn thức ăn trái mùa, hoặc không ăn vào những giờ giấc không thích hợp. Một lời khuyên mang tính vừa “lễ nghĩa”, vừa rất “thiền” và rất “chính niệm”. Nó cũng mang tinh thần của câu “Ẩm thực hữu tiết, khởi cư hữu thường” (飲食有節,起居有常). Có nghĩa là “Ăn uống có điều độ, sinh hoạt có giờ giấc”. Đây là triết lý sống cân bằng, nhấn mạnh đến kỷ luật trong cả ăn uống và nghỉ ngơi. Còn gần gũi với các lời khuyên nhủ để có sức khoẻ tốt của Tây phương, Âu Mỹ ở trên, liên quan đến chuyện ăn, người Trung Hoa nói “Tế tước mạn yến” (細嚼慢嚥), là “Nhai kỹ nuốt chậm”. Đây là lời khuyên về thói quen ăn uống lành mạnh, giúp tiêu hóa tốt hơn. Cũng trong hướng ấy, họ cũng nói “Phạn hậu bách bộ tẩu, hoạt đáo cửu thập cửu” (飯後百步走,活到九十九). Có nghĩa là “Sau khi ăn, đi bộ trăm bước, sống đến chín mươi chín tuổi”. Đây là lời khuyên về việc vận động nhẹ nhàng sau bữa ăn để tăng cường sức khỏe và tuổi thọ. Chuyện này thì đa số chúng ta cũng đều biết. Ăn xong mà nằm ì ngay ra, bật TV hay smarphone lên xem, thì chỉ làm cơ thể không vui và tự hại mình. Còn Khổng Tử thì có một câu nhắm thẳng vào bản tính con người, nhấn mạnh đến nhu cầu cơ bản của nó: “Thực sắc tính dã” (食色性也), “Ăn uống và sắc dục là bản tính tự nhiên của con người.”
Như thế, chuyện Đông Tây Nam Bắc liên hệ đến cái ăn, nói qua, là như vậy. Nó vừa là “sự thường” mà cũng là sự “không thường”. Bởi nó đã được “nâng cao”, suy nghĩ, lý giải, biến hoá, để thành một hay những nét văn hoá, nghệ thuật, thậm chí triết lý sống. Nó không chỉ là chuyện “sống trên đời ăn miếng dồi chó, chết đi rồi biết có hay không”. Cho dù, để làm được miếng dồi chó cho ngon, cho “tươm”, thì cũng là một dạng nghệ thuật.
.2.
Bây giờ, xin được bàn về chuyện ăn, chuyện “cái ăn” của người Việt nói riêng. Và ta sẽ thấy, trong hệ hình văn hoá của người Việt, “cái ăn” thường đi chung với “cái ở”, cái giao tiếp, ứng xử. Có nghĩa là, “cái ăn” bao trùm gần như toàn bộ đời sống, suy tư và ứng xử của người Việt mình. Dùng ca dao, tục ngữ, qua sách vở, cũng như “nghiệm thu” qua lời ăn tiếng nói của người Việt, chúng ta sẽ đào sâu vào cái nhìn hết sức phong phú của ta về việc “ăn”. Và những gì liên hệ đến nó trong đời sống, trong tâm thức, trong ngôn ngữ người Việt. Đó là một “chỉnh thể” phong nhiêu, ăm ắp cái làm, cái sống, cái túi khôn, cái mực thước, cái tràn lan, cái “lăng ba vi bộ”, cái quan tâm, cái suy nghĩ, đánh giá và nhìn ngắm cuộc đời của con người Việt.
Bàn về chuyện ăn, ở một khía cạnh, có lẽ dân mình vốn dĩ khổ cực đã lâu, nạn binh đao cứ tiếp diễn mãi trong lich sử dân Việt, nên sự ăn, tự một lúc nào đó có thể đã trở thành một ám ảnh trong lề thói suy nghĩ dân tộc. “Ăn” là chuyện đang bàn đến, là một “sự thường”, sao lại đẩy đưa để nói đến chuyện ám ảnh, chuyện “phân tâm”, chuyện “lịch sử”?!! Để lý giải điều này, ta cũng có thể quan tâm đến việc Việt Nam là một dân tộc vừa có truyền thống trọng lễ, vừa có tinh thần thực dụng ở khía cạnh là biết học hỏi cái khôn ngoan, cái đạo ứng xử cần thiết để thành công, qua những kinh nghiện trong cuộc sống. Và cái túi khôn qua kinh nghiệm đó, nhiều khi, được gắn kết một cách thần tình với khái niệm “ăn”.
Ăn uống là một nét văn hóa của con người, nó còn là một động tác sinh lý quan trọng, giúp con người tự tồn và phát triển về mọi mặt. Theo quan niệm Âu Tây, như đã nói, ăn uống là một chuyện “bình thường như hơi thở”, mặc dù đôi khi được nhìn như một nghệ thuật, nhưng nó rất hiếm khi được dự phần vào những suy tưởng có tính cách triết lý hoặc tôn giáo. Ăn ở đây là ăn ngon, và nhất là ăn bổ, đủ chất lượng dinh dưỡng. Còn theo quan niệm Á Đông nói chung, và Việt Nam ta nói riêng, ăn uống là một nghệ thuật, một triết lý sống. Cũng như ‘triết lý ve gái” [2] chỉ Việt Nam ta có. Nhìn chung, và nói một cách khá cực đoan, thì Mỹ chỉ có “flirting”, hoặc “necking”, hay “petting”, thậm chí “spooning” [3] thôi! Không hề có những triết lý “ăn” hay “ve”, “tán” như theo lối ta.
Trở lại chuyện ăn, Thạch Lam (cũng như Nguyễn Tuân, đã nói ở phần đầu), trong Hà Nội 36 phố phường đã chứng tỏ rõ, đối với ta, ăn là một nghệ thuật. Vũ Bằng trong Miếng ngon Hà Nội và Thương nhớ mười hai còn đi xa hơn Thạch Lam một bực trong việc cho thấy miếng ăn nước Việt đã được chế biến với một cung cách nghệ thuật, sáng tạo và đã được thưởng thức như thế nào. Sau này, ở ngoài Bắc, còn có nhà văn Băng Sơn với quyển Thú ăn chơi người Hà Nội, qua đó, ông viết rất hay về miếng ăn và cách ăn Việt. Ngoài chuyện văn hóa, quan niệm Á đông còn cho rằng “Nhất ẩm nhất trác giai do tiền định” [4] (一飲一啄皆由前定), vấn đề ăn uống không phải là chuyện tình cờ, hoặc chỉ vụ vào chuyện bổ béo, mà là đã được định trước bởi… “thiên duyên”. Ăn uống như thế, đối với các dân tộc Á đông nói chung và Việt Nam nói riêng, lại mang tính cách triết lý và nhuộm màu đạo giáo. Nói lòng vòng như thế để cho thấy rằng chuyện “ăn uống” dù là một “ám ảnh” đối với con người Việt Nam, nó không phải là chuyện phàm phu hoặc bệ rạc. Huống hồ chữ “ăn” của Việt Nam ta còn liên hệ đến nhiều mặt khác của đời sống. Nó là văn hóa, là triết lý, là nếp nghĩ, nếp làm của con người Việt. Ở đây, ta sẽ bàn về chuyện ăn của ta trong ngôn ngữ, dưới ánh sáng hiện tượng luận. Như thế cũng có thể hiểu rằng đây là một bài viết có thể có tính cách… triết lý, một thứ “triết lý trò chơi”, “triết lý cuộc sống” riêng trong cuộc sinh hoạt, cuộc ở đời của người Việt, mang đậm tính xã hội và văn hóa. Nói chuyện ăn, chuyện sinh hoạt, giao tiếp, mà bàn về văn hóa, có lẽ cũng không phải là chuyện lạc điệu!
Như đã nói, trước hết, “ăn” là một động tác sinh lý để nuôi sống con người, gồm có việc đưa thức ăn vào miệng để nhai rồi nuốt, như ăn cơm, ăn quà, ăn cỗ. Ăn cơm, theo lối nói của ta, là dùng các bữa ăn chính trong ngày để sống, ngoài ra nó còn có nghĩa là làm chuyện dễ dàng, dễ như ăn cơm là vậy. Ăn cơm bữa là chuyện làm hằng ngày, chẳng hạn “Nó qua lại nhà nàng như ăn cơm bữa”. Ăn cỗ là ăn tiệc thết từng bàn, từng thồi 8, 10 hoặc 12 người… ở nhà hàng Soái Kình Lâm thời Việt Nam ngày xưa chẳng hạn. Ăn giỗ là ăn để nhớ đến một người đã chết. Ăn hỏi hay ăn trầu là nhận lễ hỏi của đàng trai và hứa gả con gái nhà mình cho người ta. Ăn cưới thì quá dễ, không cần nói ai cũng biết; cưới là phải có ăn, không ăn không ra cưới. Ăn cưới còn là một chuyện “tham dự sự kiện” (event attending), những người tham dự sự kiện sẽ có thể có cơ hội chụp ảnh (photo op) với những người nổi tiếng. Chính bởi thế, cô dâu thường cũng phải thay đổi ba hay bốn bộ quần áo để xứng tầm với “sự kiện long trọng” này. Ăn mừng là bày tiệc ra ăn uống nhậu nhẹt trong một dịp vui mừng nào đó. Ăn tân gia là ăn mừng nhà mới. Ăn quà hay ăn hàng là ăn bánh trái ngoài đường, ngoài chợ, không tính vào các bữa ăn chính; nó còn có nghĩa là cất hàng lên tàu hay cướp giựt của cải trong nhà người khác, như trong những câu “Tàu tới ăn hàng rồi đây!”, hay “Bọn côn đồ đã ăn hàng xong ‘buồm’ mất dạng”. Ăn bốc là dùng tay bốc ăn; không dùng đũa thìa gì cả. Người đạo Hồi có thói quen ăn bốc; tuy nhiên tay nào dùng để ăn, tay nào dùng để làm… các công việc khác thì phải được để ý cẩn thận. Bởi vậy nhiều chuyện vui cười đã… xảy ra chung quanh hai bàn tay năm ngón của những người có thói quen ăn bốc.
Ăn cám xú là câu mắng kẻ ngu đần, coi kẻ đó như con heo. Ăn như heo là ăn nhiều và ăn một cách rất bẩn. Ăn cầm chừng là ăn từ từ, ăn tà tà để đợi; nhưng ăn cầm hơi thì lại là ăn ít, có ăn chút đỉnh để sống, để tạm… giữ hơi sức trong người, chứ không biết ngon. Ăn hớt (ngọn) là ăn trước, không chờ người khác trong khi đáng lẽ phải chờ, vì những lý do a, b, c… khác nhau; còn ăn cơm hớt là nói hớt, giành nói những lời người ta sắp nói hoặc nói những chuyện người ta không muốn mình nói. Ăn cơm tháng, ăn cơm tuần thì là hoàn cảnh của học trò xa nhà, có thể như kiểu của Kim Trọng ngày xưa, mang “cặp sách, túi đàn” đi học xa, nhưng… vẫn có thì giờ dò la được nhà cửa của Thuý Kiều. Ăn chay theo Phật giáo là không ăn mặn, chỉ dùng tương, chao, rau đậu mà tránh cá, thịt; theo Công Giáo thì là… “sáng nhịn đói, trưa ăn no, chiều lót lòng”, những ngày lễ trọng thì còn phải kiêng thịt nữa. Ăn chân là làm lở bàn chân, ca dao nói “Một lần cho tởn đến già, đừng đi nước mặn cho hà ăn chân” là vậy. Ăn chè là … ăn chè, gồm có chè chuối, chè bà ba, chè đậu xanh, đậu đỏ, chè ba màu, chè trôi nước, chè khoai nước dừa bột báng, vân vân; ngoài ra, nó còn có nghĩa là trai gái hò hẹn đến nơi vắng vẻ để tình tự. Ăn chực, ăn chõm hay ăn gẫu, ăn ghé, là ngồi chờ đến bữa để người ta phải cho ăn chứ thực tình người ta không muốn mời. Ăn chơi là ăn và chơi, ăn uống và giải trí, như ca dao đã cho biết “Tháng Giêng là tháng ăn chơi. Tháng Hai trồng đậu trồng khoai trồng cà”. Hay như kiểu nói “flirting” của Xuân Tóc Đỏ với cô hàng bán mía, một câu giả định rất ỡm ờ, “Nếu đấy mà chịu về lo liệu cho đây thì đây đâu có ăn chơi!”.
Ăn gỏi là ăn thức ăn nhiều món, thường có vị chua như gỏi cá, gỏi tôm càng, gỏi sứa, gỏi bao tử… ở chợ cầu Ông Lãnh xa xưa. Nó còn có nghĩa là chơi lớn, tiêu lớn, “Xài tiền như ăn gỏi”, và lại có nghĩa là lấn hiếp, trên cơ, như trong câu: “Khổ! Nó thì ăn mày như ăn gỏi, con ạ!”. Ăn hại là ăn của người mà không làm được chuyện gì; nó thường được đi kèm với chữ “đái nát”. Ăn hoang là tiêu xài phung phí. Ăn ghém là ăn các thứ rau độn trộn chung như rau thơm, chuối cây, giá, bắp chuối… cùng với nước canh. Ăn gạo luộc là chỉ người nghèo ăn cơm lạt, không có thức ăn đi kèm. Ăn đường không phải là ăn của ngọt như đường… Hiệp Hòa, nhưng là ăn tiêu khi đi đường. Ăn đụng là ăn chung với nhiều nhà khác một con heo hay một con cầy. Ngày xưa, dân nhậu ở Sài Gòn thường thích kéo nhau đi “đánh đụng” có nghĩa là đi “hạ cờ tây”, đi chén “nai đồng quê” ở đường Trần Quốc Toản, Phan Đình Phùng, hay có khi chạy xuống tận khu Gò Vấp. Ăn đòn là “phải đòn” mà chẳng được ăn uống gì… sất cả. Ăn chung là cùng ngồi chung mâm với nhau, hoặc nghĩa rộng hơn là ăn tiêu, sống chung một ngân sách gia đình cho đỡ tốn; một nghĩa khác là ăn thua, là liên hệ đến, như “Chuyện đó mà có ăn chung gì đến tôi!”. Một nghĩa khác nữa là thu và chi được điều hòa cân bình, như “Việc làm của nó thì cũng vừa đủ ăn chung thôi, không khá!” Ăn dầm thường đi với “ở dề,” (hay “nằm dề”) có nghĩa là ăn ở mà chẳng làm gì, chẳng đi đâu, chỉ ở một chỗ.
Ăn da là sự phá hoại của các chất hóa học, hoặc nắng và nước biển, làm hư hại các tổ chức tế bào, khiến da bị lở. Đàn ông ở đô thị thì không quan tâm lắm đến việc dưỡng da, chứ còn phụ nữ thì bây giờ có đủ thứ “lotion” để “chân ái dưỡng da”. Như “lotion number nine”, là sữa dưỡng thể (body lotion), một liệu pháp spa toàn thân với hương thơm quyến rũ của quả vả, đường rang và thuốc lá ngọt. Chơi cái màn “chân ái dưỡng da” như thế thì còn hơn là có được cái “love potion number nine”, một “chất nước thuốc tình yêu” làm cho ai cũng yêu mê mình, của Madame Ruth, một bà cô di–gan có hàm răng bọc vàng ở phố Ba Mươi Tư và Vine, như lời một bài hát thịnh hành của thập niên 1960. [5] Người ta nói “Nhất da nhì dáng” là thế! Nghe kiểu so sánh cũng có vẻ giông giống với lối nói “Thứ nhất cự ly, thứ nhì tốc độ” trong phương pháp tiếp cận tình yêu của con người thời đại bây giờ. Bài bản như chiến lược pháp của Tôn Tử vậy. Ăn dè là ăn từ từ, ăn nhín, không muốn ăn hết ngay, ăn từ từ để “kéo dài hạnh phúc”. Ăn dối không phải là ăn gian nói dối nhưng là ăn cho qua, ăn lấy có mà thôi; trong Nam kêu là ăn quấy quá. Ăn dở không phải là ăn kém mà là đàn bà ăn chua khi mới có thai, mới “nghén”. Ăn kiêng là khi ốm phải chọn món ăn để tránh bệnh. Ăn khan là chỉ ăn mà không có rượu để uống. Chán chết! Nhưng những người thích “phá mồi” thì lại hay chơi như thế, cho dù là có rượu sờ sờ ngay trước mắt. Lúc này là lúc cần “ăn nhín” thì cứ nhào tới “phá mồi”! Ăn khao là mở tiệc ăn mừng sau khi thi đỗ hoặc được thăng quan tiến chức. Ăn dằn bụng hay ăn lót dạ, lót lòng là ăn điểm tâm lúc buổi sáng, ăn nhẹ. Ăn lấy thảo là ăn tượng trưng để đẹp lòng người mời; nó còn là câu nói khiêm tốn khi biếu quà cho người khác: “Má con nói con mang chục cam bác ăn lấy thảo!”. Ăn mót là lượm những đồ ăn rơi mà ăn, người ta nói: “Méc moi chòi mòi ăn mót”. Nó còn có nghĩa là hưởng của thừa sau người khác, là “chơi hoa tàn”, như “Cái thằng cà chớn” ấy thì chỉ chuyên ăn mót chứ sức mấy mà biết cắt chỉ” (sic).
Ăn ảnh là “manger photo”, theo lối nói vui của tuổi trẻ ngày xưa, là chụp hình trông đẹp. Bây giờ, tuổi trẻ có màn “selfie tự sướng”, lại có các thứ công nghệ digital của smart phone phù trợ, có thể “chơi’ đủ các kiểu hình rất “ăn ảnh”, đủ màu sắc và ánh sáng thích hợp, tẩy xoá các khuyết điểm và làm tôn làn da đẹp, để mọi người (đặc biệt phái nữ) đăng lên FB, tự PR cho mình. Chỉ đến khi chủ nhân của ảnh xuất hiện tại “hiện trường” thì người được hẹn mới bật ngửa, “Sao trông không giống em trong hình!”. Hay, khi lò dò đến nhà dâng “của lễ” cho bố mẹ vợ tương lai, như trong một vở kịch vui trên TV, “khổ chủ” mới thét lên ai oán, “Sao em Thảo ở đây không giống như em Thảo gửi hình cho cháu!”. Chết thế! Ăn mặn là trái với ăn chay, là ăn các món nêm mặn, có chất thịt. Ăn nắng là da bị xạm nắng; ca dao nói: “Da trắng ăn nắng dễ dàng. Da đen dang nắng nắng hàng da đen”. Ăn nhậu là ăn và uống rượu, ta hay nghe nói “Ăn nhậu đã rồi nói bậy”, hay “Ăn nhậu đã rồi đánh lộn”; nó còn có nghĩa là liên quan, dính dấp đến, gần như ăn chung hay ăn nhập, như “Má ơi! Chuyện đó mà ăn nhập gì tới tui!”. Ăn thịt là ăn món ăn bằng thịt, như thịt heo, thịt bò, thịt dê, v.v., hoặc để chỉ loại động vật sống ròng bằng thịt như cọp; nghĩa bóng là ăn hiếp, xâu xé, đánh chửi: “Mày đi lang thang một mình xuống dưới coi chừng bị tụi nó ăn thịt đa!”. Ăn tái là ăn thịt vừa chín tới, chưa chín hẳn, như khi ăn phở ta có thể ăn tái gầu, tái nạm, tái sách, vân vân. Tục ngữ cũng nói: “Thứ nhất thịt bò ăn tái, thứ nhì con gái đương xuân”. Câu này không biết có đúng không, nhưng người Tàu cũng nói một câu tương tự, còn đưa “con gái đương xuân” xuống hàng thứ ba: “Thế gian tam sự nan trừ liễu / Hảo tửu, phì dương, nộn nữ nhi”, có nghĩa là “Thế gian ba sự khó chừa / Rượu nồng, dê béo, gái vừa đương xuân”. Thật đúng là những kẻ coi miếng ăn miếng uống to như… cái bánh xe, mà hạ thấp… giá trị phụ nữ, không thể được xem là người “văn minh”!
Ăn sống là ăn món ăn còn sống, không nấu, hoặc nói về trái cây thì là ăn lúc còn xanh, chưa chín. Chuyện ăn sống và ăn chín này là cả một khoảng cách lớn của văn hóa mà, như phần một đã nói, nhà nhân học cơ cấu Claude Levi-Strauss đã trình bày kỹ trong quyển Le Cru et le Cuit. Ăn tươi là chỉ việc ăn thịt ăn cá bằng cách để tươi mà nấu nướng chứ không phơi, không ướp. Ăn tươi thì thịt ngon hơn. Nó còn có nghĩa bóng là mắng vãi, ăn hiếp, “ăn tươi nuốt sống” người khác. Ăn quên thôi hay là ăn quên chết là ngon miệng ăn mãi. Ăn tạp là gặp gì ăn nấy, không cần biết sạch bẩn, ngon dở gì cả. Ăn tham có nghĩa đen như tham ăn, còn nghĩa bóng là hưởng lợi một mình, không chia cho người khác. Ăn tiêu là việc tiêu xài tổng quát. Ăn thâm, là ăn lấn ra, xài lấn đến tiền không phải của mình, như “ăn thâm tiền quĩ”. Ăn thừa là ăn những món ăn còn dư của người khác bỏ đi; nó cũng có nghĩa như ăn mót đã nói ở trên. Ăn vã là chỉ ăn thức ăn mà không chịu ăn cơm. Ăn vạ là nằm vạ để đòi người ta bồi thường, nếu không thì làm người ta mang vạ (Bùi Hiển có chuyện Nằm [ăn] vạ rất lý thú); ngoài ra, nó còn liên quan đến tục phạt vạ trong làng thôn xưa bằng cách bắt kẻ có tội phải mổ bò, mổ lợn đãi đằng cả làng để tội được xoá. Ăn vặt là ăn luôn miệng, cũng có lúc gọi là ăn quà. Dân gian có bài hát: “Thìa la thìa lẩy, con gái bẩy nghề, ngồi lê là một, dựa cột là hai, theo trai là ba, “ăn quà” là bốn, trốn việc là năm, hay nằm là sáu, láu táu là bẩy”. Bài hát này như thế là không công bằng, chỉ “kể tội” phái tóc dài. Thật ra, con gái có nhiều tính dễ thương, đáng yêu hơn, chứ không phải chỉ có toàn chuyện… hư hội như thế! Ăn vụng là ăn lén, không để người khác thấy; nghĩa bóng là lén vợ hoặc chồng để tư tình với người khác. Ăn xổi là làm qua rồi ăn ngay, như “bóp dưa ăn xổi”, “muối cà ăn xổi’. Người ta nói “Ăn xổi ở thì” để chỉ những người làm ăn qua quít, dối trá, ăn ở tạm bợ, được lúc nào hay lúc ấy, không lâu dài, không tình nghĩa.
Ăn tết là sắm sửa vui chơi ăn uống trong dịp tết. Ăn thề là sau khi cúng thần để chứng kiến cuộc thề nguyện, xúm lại cùng nhau ăn uống. Sách Luận ngữ nói “Tế thần như thần tại” [6], thần đã ở đó, được cúng rượu và có thể có cả thức ăn, thì con người cũng phải tụ tập ăn uống cùng nhau chứ! Ăn xôi là ăn xôi, gồm có xôi bắp, xôi lúa, xôi gấc, xôi vò, v.v.; nghĩa bóng là “hai năm mươi”, là “kick the bucket”, là “đi buôn muối”, là “lên nóc tủ”, là chết. Nguyễn Bảo Sinh, nhà thơ dí dỏm ở Việt Nam, sáng tạo nhiều câu thơ “thần kỳ” được nhiều người biết, có viết xa gần về chuyện “ăn xôi” này: “Rồi ra tất cả chúng ta / Đều lên nóc tủ ngắm gà khoả thân.” (sic). Thì ra người được… để hình trên nóc tủ, và đang ngắm “gà khoả thân” rất hấp dẫn bày trên đĩa kia, đã “ăn xôi” rồi! Ăn sàng là ăn bữa cúng sàng tức lễ “sơ ngu”, sau khi làm ma chay xong. Ăn trầu gẫm là ngồi suy xét việc đời. Ăn bám là ăn chực, ăn nhờ, dựa vào người khác mà sống. Ăn báo là ăn nhờ vào người khác mà không làm gì cho người ta nhờ cả, cũng giống như ăn hại nhưng nhẹ hơn. Còn ăn báo cô là ăn nhờ vào người khác, lại có ý như bảo người ta phải có bổn phận nuôi mình. Ăn bẩn là ăn uống dơ dáy, nghĩa bóng là ăn hối lộ. Ăn bòn là lấy của người dần dần. Ăn cắp là lấy của người lúc người vô ý hay vắng mặt. Ăn trộm cũng có nghĩa như ăn cắp nhưng ở một mức độ nặng hơn, như khoét vách, cậy cửa, leo nhà người ta để lấy đồ sau khi đã rình rập, để ý từ trước. Ăn cướp là dùng bạo lực để lấy của người khác một cách có tổ chức. Ăn cướp cạn là đón đường giựt của người rồi chạy. Ăn chạy là ăn quịt, ăn xong không trả tiền, đánh bài tẩu mã. Ăn chận là lấy trước một phần mà đáng lẽ mình phải đưa đủ cho người ta. Ăn gian là tính toán dối trá để bắt người ta trả nhiều hơn số tiền phải trả.
Ăn xin là ăn mày, là đi xin của người mà ăn. Đồng Đức Bốn có mấy câu thơ nói về “ăn mày”: “Đang trưa ăn mày vào chùa. Sư ra cho một lá bùa rồi đi. Lá bùa chẳng biết làm gì. Ăn mày nhét túi lại đi ăn mày”. Khổ! Ăn sương là kiếm ăn về khuya, lúc còn sương, để chỉ những cô gái điếm hay quân ăn trộm. Ca dao nói: “Có trộm mới đi ăn sương / Ai người tử tế ra đường giữa đêm”. Ăn lời là lấy tiền lãi của số vốn cho mượn… Nó còn có nghĩa là nuốt lời, như trong Kiều “Nói lời rồi lại ăn lời như không”. Ăn hoa hồng là hưởng số bách phân của giá bán hay số lời về một dịch vụ mà mình đã đứng ra làm trung gian. Ăn chắc là chỉ việc chắc… ăn, chắc chắn sẽ xong, không sợ hỏng. Ăn chịu là ăn mà không trả tiền ngay, nợ lại để trả sau; nghĩa bóng chỉ sự thỏa hiệp với nhau trong công việc làm ăn, như khi nói “Cũng phải có ăn chịu với nhau sao đó nên tụi nó mới đi với nhau chớ!”. Ăn ý là hợp với nhau. Ăn mặc không phải là ăn và mặc mà chỉ là chuyện trang phục; trong Kiều có câu: “Mùi thiền ăn mặc đã ưa nâu sòng”. Người miền Nam nói là ăn vận. Ăn trét hay ăn trớt là bị vuột mất, không có kết quả. Ăn quen là quen thói ăn mãi, làm mãi; tục ngữ có những câu: “Ăn quen bén mùi ăn mãi” và “Ăn quen, chồn đèn mắc bẫy”. Ăn ở không là rảnh rang thất nghiệp, ăn rồi nghỉ chẳng có công việc để làm. Ăn ở là cư xử, đối đãi, một nghĩa nữa là lấy nhau, chung chạ với nhau; ca dao có câu: “Ước cho ăn ở một nhà, ra vô thấy mặt kẻo mà nhớ thương”. Ăn nằm cũng có nghĩa như ăn ở, nhưng chỉ rõ việc chung chạ hơn.
Ăn nói không phải là ăn và nói, nhưng chỉ là việc nói năng đối đáp. Ăn khớp nghĩa đen là hai khớp vừa nhau, nghĩa bóng là hợp ý nhau, như khi nói: “Hai người nói chuyện ăn khớp nhau quá ha!”. Ăn khách là có đông khách thưởng thức, chẳng hạn một cửa hàng ăn khách, một cuốn sách ăn khách, v.v. Xin không nói thêm ở đây. Ăn nhịp là theo đúng nhịp, nghĩa bóng cũng là ăn khớp. Ăn nhằm là bất ngờ ăn phải mặc dù không muốn, chẳng hạn nói: “Ôi! Ăn nhằm miếng ớt cay quá!”. Trẻ con người Bắc di cư vào Nam, thuở nhỏ đi học, thường bị bạn bè con nít trêu ghẹo là “Bắc kỳ ăn cá rô cây. Ăn nhằm lựu đạn chết cha Bắc kỳ.” Đối với trẻ con, đây chỉ là một cách chòng ghẹo, nghe thì có vẻ kỳ thị, nhưng thật ra đây chỉ là một cách thể hiện (theo lối “bỗ bã”, chưa trưởng thành của trẻ) sự chưa quen biết với cái khác, cái lạ, không hẳn là sự “ác độc”. Ăn guốc là bị cô con gái cầm guốc cao gót hay giầy Ét-ca-panh (Escarpin) đánh lên đầu, khốn khổ, nhưng chắc là phải có lý do, ngoại trừ lý do cô nàng là một người quá “đanh đá cá cầy”. Ăn đứt là hơn hẳn không còn chối cãi gì được, trong Kiều nói: “Nghề riêng ăn đứt hồ cầm một chương” là vậy. Ăn lan là ăn rộng ra, bò lan ra, như nói về ghẻ chốc hoặc về cỏ; còn ăn loang là nói về chất lỏng thấm dần ra. Ăn thông là ăn luôn tới, thông thương tới tận nơi, như khi nói: “Con rạch này nó ăn thông tới tận sông Cái à nghe.” Ăn thua là tranh tài hơn kém. Ăn thua đủ thì hơn ăn thua (không đủ) một bực, nó có nghĩa là đọ sức tới cùng, không chịu thua, nhận mọi điều kiện và hậu quả, “Được mà, muốn sao cũng được, tôi nhất định tới mà, ăn thua đủ mà!”. Ăn hiếp là “bắt nạt”, là “bully”, ỷ mình có sức, có thế hơn mà bắt ép người ta phải theo ý mình. Con nít Nam Kỳ hay nói: “Mày đừng ỷ sức ăn hiếp tao, tao dìa tao méc má tao cho coi!”; con nít Bắc Kỳ vô Nam thì nói: “Mày định “ăn hiếp” ông hở. Ông về ông bảo bu ông ra đánh bỏ bầm mày!” Còn có những ông xăm trên bắp tay câu “Xa quê hương, nhớ chị dâu” (như lời kể, rất nghiêm và buồn, của một nhà văn MC Việt Nam), thì, tôi nghĩ, có lẽ lúc nhỏ, mỗi khi bị ăn hiếp, bị bắt nạt, ông nhỏ này lại mang chị dâu của mình ra để doạ dẫm, đe nẹt các trẻ con khác! Có lẽ người chị dâu này hoặc là có sắc đẹp và, đặc biệt, có võ nghệ siêu quần, như Tiểu Long Nữ, hoặc là có món “Cửu âm bạch cốt trảo” vô cùng kinh khiếp của nữ nhân Mai Siêu Phong!
Và cuối cùng ở phần liệt kê các từ ghép liên hệ đến chữ “ăn” này, là… ăn năn, tỏ sự hối tiếc đã phạm lỗi, tự hứa sau sẽ không tái phạm nữa; ăn ten (antenne) là cây dẫn điện ở máy phát, thu thanh hay máy truyền hình (Sau đó, mở rộng ra, nó còn có nghĩa là “người chỉ điểm” (informer) trong những lĩnh vực như mật vụ, trinh thám-gián điệp, hay trong hoàn cảnh đầy phức tạp của các tù nhân trong cuộc sống, trong tâm lý và hành vi họ đối với nhau và đối với cấp trên, những kẻ có quyền hạn trên đời sống họ); và ăn banh (en panne) là bị hư xe giữa đường, làm trễ hay làm mất cuộc vui đang chờ ở chân trời phía trước.
.3.
Tới đây chuyện ăn vẫn chưa xong, bởi lẽ từ trên trở lên chỉ là một số những từ kép có dính đến chữ “ăn” được góp nhặt lại thôi. Từ phần này trở xuống là những thành ngữ, tục ngữ, ngạn ngữ nói về chuyện ăn, ăn uống và ăn ở. Và chính là trong phần thành ngữ, tục ngữ, ngạn ngữ này, những khía cạnh mang tính chiêm nghiệm, khuyên bảo, đánh giá, bình phẩm, răn dạy con người của cha ông ta trong cuộc sống, cuộc giao tiếp, cuộc sinh hoạt, ứng xử, v.v., mới thật nổi bật và rõ nét. Cái ăn, cái uống của ta phong nhiêu, bao la và bao hàm đủ các khía cạnh của đời sống, và có khi “dai dẳng và kinh khiếp” như vậy, nên ông bà ta có lúc cũng phải khuyên là “Ăn bớt bát, nói bớt lời”. Dù sao tác giả bài này đã lỡ dại mà mổ xẻ chuyện ăn uống và ăn ở nên đành phải “ăn thua đủ” với nó, nếu ngưng lại nửa chừng thì biết “ăn làm sao, nói làm sao” với các bậc thức giả, cho nên “chưa thể bớt lời” được. Vì vậy sau đây xin được “ăn cơm mới, nói chuyện cũ” thêm một lúc nữa.
Ăn vóc học hay không phải là muốn học giỏi thì mua quả vóc về mà ăn, chẳng có quả nào là quả vóc cả. Câu này muốn nói ăn uống đã được nên vai nên vóc thì cũng phải học hành cho nên người. Ăn bánh vẽ là bị gạt gẫm bằng những lời hứa hẹn suông. Ăn bánh tét nhưn mây không phải là được ăn bánh ú, bánh tét gì cả, mà là bị đòn đánh bằng roi mây, đau lắm. Ăn bữa sáng lo bữa tối hay ăn bữa hôm lo bữa mai là chỉ nhà nghèo, phải chạy ăn từng buổi. Ăn cơm chúa, múa tối ngày là ăn của ai thì phải cúc cung tận tụy phục vụ người ấy. Ăn (một) bát cháo chạy ba quãng đồng chỉ việc ăn thì ít mà làm thì phải ra công sức thật nhiều; nó còn có nghĩa là vì miếng ăn mà phải chạy đi thật xa. Ăn bắc, nằm nam ý chỉ muốn được cả hai bề. Ăn cướp cơm chim là ăn chận, ăn xén tiền của kẻ nghèo; nó hay đi cùng với những câu mắng chửi tệ hại khác. Ăn cháo đá(i) bát chỉ người bạc bẽo, không biết ơn nghĩa, ăn rồi chửi người đã cho mình ăn. Ăn cơm nhà nọ, kháo cà nhà kia là xin xỏ nhờ cậy người này lại nói tốt cho người khác, cốt ý để người mình xin ghen tị, tranh hơn, cho mình nhiều hơn nữa. Ăn cơm với cáy thì ngáy o o, ăn cơm với bò thì lo ngay ngáy chỉ người nghèo ăn uống kham khổ nhưng chẳng phải lo lắng gì, còn người giàu ăn uống sung sướng mà lòng có trăm mối lo không yên.
Ăn cơm chưa biết trở đầu đũa cũng như ăn chưa sạch, bạch chưa thông, chỉ trẻ con không biết gì, nói năng chưa rành, chưa biết cách nói chuyện. Ăn trông nồi ngồi trông hướng nghĩa đen là ăn cơm phải để ý trông vào nồi để mọi người được đều nhau, hoặc có khi phải nhường cho nhau, ngồi thì đừng phạm hướng như quay lưng vào bàn thờ hay vào mặt người khác, còn nghĩa bóng là ăn ở phải thận trọng, đừng để vấp vào những lỗi lầm sơ đẳng. Ăn cỗ đi trước, lội nước theo sau chỉ những hạng người trước lợi lộc thì xông vào giành phần, đến khi có công có việc thì giả vờ không hay biết để tránh đi; tóm lại chỉ người ích kỷ, chỉ biết đến mình. Sau này có người dùng nó như một cách thế sống khôn ngoan ở đời! Ăn bất thùng chi thình là ăn ào ào, ăn kiểu… “tới luôn bác tài”, không đợi mời và ăn rất nhanh, cũng như ăn nồi bảy quẳng ra, nồi ba quẳng vào. Ăn bóng nói gió là nói không có chứng cớ rõ ràng. Ăn cắp quen tay, ngủ ngày quen mắt là nói về thói quen; mọi thói xấu đều do thói quen mà ra và có thể chừa bỏ được nếu biết cố gắng. Ăn cây nào rào cây nấy giống như ăn cơm chúa múa tối ngày đã nói ở trên. Ăn có chỗ, đỗ có nơi chỉ việc phải sống ngăn nắp, không được bừa bãi. Ăn (có) nhai, nói (có) nghĩ chỉ việc phải cẩn thận khi ăn nói, không thôi mang họa.
Ăn đã vậy, múa gậy làm sao là câu nói của người ngoài hoặc của người cho mình ăn, giúp đỡ mình chuyện này chuyện nọ, muốn biết mình sẽ trả ơn người ta làm sao. Ăn chực nằm chờ là lê lết, nhờ nhỏi người khác. Ăn dầm nằm dề chỉ kẻ ăn rồi nằm một nơi, không chịu làm gì cả. Ăn chực đòi bánh chưng cũng như ăn mày đòi xôi gấc là đã phải nhờ vào người mà còn kén chọn, đèo bồng [7] , chèo kéo, đòi hỏi quá đáng. Câu sau, ăn mày đòi xôi gấc, đôi khi còn được dùng để nói về những nam nhân muốn với quá cao, đặc biệt trong vấn đề nam nữ, muốn quen biết, muốn ghép đôi mình với một cô nương con nhà quyền quý, cao sang. Nó gần với câu “Đũa mốc mà [đòi] chòi mâm son”. Ăn chưa tàn miếng trầu chỉ một thời gian ngắn chỉ 20 phút đến nửa tiếng. Ăn chưa no, lo chưa tới là còn bé, chưa biết lo nghĩ gì. Ăn chung ở chạ (ở lộn) chỉ những liên hệ vợ chồng cũng như ăn nằm. Ăn chó cả lông không phải chỉ dân ăn thịt “nai đồng quê” mà không biết làm lông. Câu này chỉ người tham lam, được lợi muốn vơ hết, không chia cho ai cả. Ăn (cho) đều, tiêu (cho) sòng (Bắc) hay Ăn đồng, chia đủ/đều (Nam), chỉ việc công bình trong vấn đề làm ăn chung. Ăn chắc mặc dày hay ăn lấy đặc, mặc lấy dày chỉ con người sống cần kiệm, kỹ lưỡng, căn cơ. Câu này còn chỉ sự thành thật của một người.
Ăn đàng sóng, nói đàng gió, cũng như ăn không nói có, ăn gian nói dối chỉ người ăn nói ngược ngạo, gian dối, thêu dệt, phao vu cho người khác. Ăn đây nói đó là ăn của người này mà nói xấu người khác, ý chỉ người phỉnh nịnh. Ăn để (mà) sống, không phải sống để (mà) ăn chỉ việc ăn uống để nuôi sống cơ thể chứ không phải mục đích của đời sống là “thực bất tri kỷ vị”, là chỉ để tìm miếng ăn. Ca dao cũng có câu trách người quá chú tâm vào miếng ăn đến mất cả bình tĩnh khi bị lấy mất “miếng mồi”: “Miếng ăn là miếng tồi tàn. Mất ăn một miếng lộn gan lên đầu”. Hay, một câu nói khác cũng để nhắc nhở chuyện này, “Miếng ăn là miếng nhục!” (Nhưng, có những kẻ cố cãi, lại còn chơi chữ: “Nhưng miếng nhục là miếng thịt!” Chẳng còn ra thể thống gì cả). Ăn gửi nằm nhờ là ăn ở nhờ vào người khác. Ăn gió nằm sương là chỉ cảnh vật vã ngoài trời. Ăn hại đái nát chỉ việc ăn uống tốn kém mà không làm được chuyện gì có ích. Ăn hơn nói kém hay ăn thừa nói thiếu chỉ việc ăn thì nhiều mà không biết nói năng gì cả; ngoài ra, nó còn chỉ việc thêu dệt, xuyên tạc, thêm bớt lời người khác. Ăn kiêng, ăn khem hay ăn kiêng nằm cữ chỉ sự kiêng cữ những món ăn có hại cho sức khỏe; nhất là đối với phụ nữ đang mang thai hay mới sinh, ngoài việc ăn kiêng, việc đi-đứng-ngồi-nằm đều phải giữ ý tứ để bảo vệ cho thai nhi, nhất là trước khi sinh. Ăn kỹ no lâu, cày sâu tốt lúa nghĩa đen là nhai kỹ, ăn chậm thì ăn được nhiều và sẽ no lâu, cũng như khi cày sâu, lớp đất nhuyễn sẽ dày, rễ lúa sẽ ăn sâu khiến lúa trở nên tốt; nghĩa bóng nói nếu làm việc kỹ sẽ đạt được kết quả tốt. Ăn kỹ làm dối là câu nói ý chê người làm việc dối trá cho qua chuyện. Ăn làm sao nói làm sao chỉ sự bị dụ vào tình thế khó khăn cứng họng, không biết xử trí ra sao trước sự ngang trái, có khi không phải do mình gây ra, như trong Kiều có câu: “Bây giờ đất thấp trời cao. Ăn làm sao, nói làm sao bây giờ?’. Ăn không thì hóc, chẳng xay thóc cũng bồng em là câu nói để chỉ việc đã ăn, đã nhờ người ta thì phải làm cái gì đó mà trả lại, chứ không thì xấu hổ. Nó còn có nghĩa là ăn mà không làm thì hay sinh ra chuyện có hại, nên kiếm việc lớn việc nhỏ gì đó mà làm để tránh việc ở không. Ăn không ngồi rồi là ăn rồi ngồi, chẳng làm gì cả.
Ăn hàng con gái, đái hàng bà già không phải chỉ chuyện sinh lý ăn và đái, nhưng là chỉ chuyện thường tình là đàn ông con trai chỉ thích giao thiệp với các cô hoặc các bà còn trẻ, chứ không để ý gì đến các bà già. Đúng là ông cha ta có mắt nhận xét, nhưng cách nói “tàn bạo” quá! Ăn mày cầm tinh bị gậy là lời phê bình những người ăn nói vô duyên, lẩn thẩn, nói chuyện thừa, vô nghĩa, ai cũng biết, cũng như ăn mày thì chỉ toàn là cầm bị gậy chứ còn cầm cái gì! Ăn mày (vẫn) hoàn bị gậy chỉ tình trạng trở lại như cũ sau một thời gian chạy chọt để mong khá hơn. Ăn mày quen ngõ như ăn quen bén mùi ăn mãi đã nói ở trên. Ăn mặn khát nước chỉ người ăn ở ác đức thì sẽ gặp nghiệp báo trở lại. Ăn mặn nói ngay hơn ăn chay nói dối chỉ việc dù không đi tu nhưng lòng dạ ngay thẳng, hiền lành còn hơn là đi tu mà ăn nói, làm chuyện thất đức. Ăn mận trả đào hay ăn một quả trả lạng vàng chỉ việc hưởng ít mà báo đáp nhiều. Ăn mật trả gừng chỉ ngược lại. Ăn miếng chả, trả miếng bùi là đền đáp cân xứng với những gì người ta đã làm cho mình. Ăn miếng trả miếng là quyết hơn thua với người làm hại hoặc có ác ý với mình. Ăn một miếng, tiếng để đời là đã nhờ vả người thì sẽ phải mang tiếng mãi; ngoài ra nó còn có nghĩa là hưởng của bất chính, dù ít chăng nữa, cũng sẽ mang tiếng xấu muôn đời.
Ăn no ngủ kỹ chổng tĩ lên trời là được sung sướng rồi sinh kiêu căng không thèm biết đến ai. Ăn no ấm cật rậm rật mọi nơi là ăn uống no say, đầy đủ thì hay sinh chuyện bậy bạ. Ăn no tức bụng là hưởng lợi nhiều thì coi chừng thế nào cũng bị nạn. Ăn ngọn nói hớt là, theo tin tưởng của người dân quê, trẻ con mà được cho ăn cơm trên mặt, chưa xới, chưa trộn, thì sau này lớn lên sẽ hay nói hớt. Nghĩa bóng dùng để chỉ người chen ngang vào lời người khác để giành nói trước, hoặc chọn ăn phần trên, phần ngon mà không nhường nhịn ai, để lộ sự thiếu ý tứ, thiếu tế nhị trong cung cách ứng xử, giao tiếp.
Ăn xuôi nói ngược và ăn ngược nói ngạo là nói hoặc làm trái với lẽ phải. Ăn như mèo là ăn nhỏ nhẹ và rất ít. Ăn như bò ngốn cỏ là ăn uống ngồm ngoàm, thô lỗ. Ăn như mỏ khoét là ăn nhiều, bao nhiêu cũng không đủ. Ăn như tằm ăn dâu là ăn uống nhỏ nhẹ, không ai để ý, nhưng lâu ngày sẽ thấy hết. Ăn như tằm ăn lên là ăn rất nhiều, càng ăn càng khỏe, như con tằm lúc đầu ăn ở dưới lá dâu rồi sau bò cả trên mà ăn. Ăn như tằm ăn rỗi là ăn rất nhiều và rất khỏe, nhai nghe rõ tiếng như tằm vào thời kỳ gần chín (ruột gần thành tơ), ăn cả lá già, tiếng nghe răng rắc. Ăn như rồng cuốn, uống như rồng leo, làm như mèo mửa là ăn uống ồ ạt, bặm trợn, thật nhiều mà đến lúc làm thì biếng nhác, chẳng nên công cán gì.
Ăn như quỷ phá nhà chay là vừa ăn vừa làm rùm, giỡn cợt om sòm, không biết điều chỉnh âm thanh, làm phiền hàng xóm đang cần yên lặng nghỉ ngơi (sic). Ăn ốc nói mò, ăn măng nói mọc, ăn cò nói bay chỉ người ăn nói ba phải, bạ đâu nói đấy, không có ý kiến gì mới lạ cả, cũng như ăn ốc thì nói chuyện đi mò ốc, ăn măng thì nói chuyện măng mọc, ăn cò thì nói chuyện con cò nó bay… Ăn phải đũa là nhiễm tập thói xấu mà không biết, hoặc bị ảnh hưởng người khác; nó còn có nghĩa là ăn quen, lúc gặp nạn mới biết. Ăn quả nhớ kẻ trồng cây ý nói phải nhớ ơn người đã giúp đỡ mình; nghĩa rộng, phải nhớ ơn tổ tiên. Ăn quả nhả hột là phải biết chọn lọc cái hay cái dở, việc phải việc quấy, việc nên làm việc nên tránh. Ăn se sẻ đẻ ông voi chỉ người thêu dệt, phóng đại, chuyện bé xé ra to. Ăn tìm đến, đánh nhau tìm đi nghĩa là khi thái bình rảnh rỗi thì xúm lại ăn chơi, hưởng thụ, đến khi chiến tranh hay lúc có việc thì tản đi chỗ khác. Ý giống câu ăn cỗ đi trước, lội nước theo sau; có những người lợi dụng câu này để biện minh cho sự ích kỷ, thiếu tinh thần trách nhiệm của mình, để cho là đó là một cách xử thế khôn ngoan ở đời. Ăn to nói lớn chỉ kẻ trượng phu, dám làm dám chịu. Ăn thủng nồi trôi rế là ăn bám vào người khác cho đến hết. Ăn trắng mặc trơn là ăn mặc bình dị, sạch sẽ, không xa hoa lòe loẹt. Mở rộng nghĩa, nó còn chỉ cuộc sống giàu sang, sung sướng, đầy đủ về vật chất, không phải vất vả lo toan, có thể hiểu là “ăn sung mặc sướng”, “sống nhàn hạ”, một cuộc sống sung túc, an nhàn. Ngoài ra, trong một số trường hợp, thành ngữ này còn được dùng để chỉ người không có ý định, không có mục đích rõ ràng, thường chỉ biết ăn uống mà không biết suy nghĩ sâu sắc hoặc không có mục đích cụ thể, như “Cô ấy ăn trắng mặc trơn, không có gì để làm, chỉ biết ngồi một chỗ.” Ăn trên nói trước, cũng giống như ăn trên ngồi trước chỉ người có chức tước quyền hành; ngoài ra nó còn dùng để chỉ kẻ tham ăn tham nói.
Ăn trộm có tang, chơi ngang có tích chỉ việc muốn cáo buộc ai, phải có tang chứng rõ ràng. Ăn xong quệt mỏ là lời để phê bình những người không kể đến ơn nghĩa, khi cần thì đến nhờ vả, lạy lục, xong việc thì bỏ đi, không biết cám ơn. Ăn mệt nghỉ là thức ăn nhiều lắm, ăn mãi không hết, giải thích theo lối “hiện tượng”, nó còn có nghĩa là ăn xong thì mệt, chỉ muốn nằm nghỉ, nằm nghỉ xong lại dậy ăn tiếp, ăn xong lại mệt, lại nghỉ rồi lại ăn. Là ăn theo lối trong các buổi gặp gỡ của giai cấp quan quyền, thượng lưu La Mã ngày xưa: Vừa nằm chống tay trên gối, nghe đàn ca nhã nhạc, vừa ăn; xong một chập, nghỉ ngơi (hay làm cho rỗng bụng qua đường họng), rồi lại ăn tiếp! Ăn mệt nghỉ là thành ngữ mới, chỉ mới xuất hiện khoảng cuối thập niên 1960, đầu thập niên 1970. Ngoài ăn mệt nghỉ ra, ta còn có chơi mệt nghỉ, làm mệt nghỉ, cười mệt nghỉ… Tóm lại là xì trum mệt nghỉ! [8]
.4.
Chuyện ăn uống, hay nói rõ hơn là chuyện ăn ở của con người, thì vô tận, có thể nói mãi cũng vẫn còn. Bài khảo luận này chỉ ghi nhớ và góp nhặt lại một số những câu nói được xem là thông dụng nhất trên đầu lưỡi của chúng ta về chuyện ăn và uống, cũng như chuyện ăn và ở của con người, đặc biệt là con người Việt Nam. Nếu, ngoài việc soi chiếu lại cái tâm lý, cái phong tục tập quán, cái nếp làm nếp nghĩ ngàn đời của dân tộc, cái túi khôn của cha ông, cái suy nghĩ, quan tâm, dị nghị, phê phán của/về con người, phản ánh qua những câu nói hết sức bình dân, được truyền lại từ ngàn xưa của ông cha ta qua biết bao đời dựng nước và giữ nước, xây dựng nền nếp xã hội, bài viết này còn tạo lại được một niềm yêu thích và sảng khoái cho những người Việt đang ở tại quê nhà, hay đang xa quê, đối với chữ nghĩa dân tộc, hay hãnh diện đối với ngôn ngữ, đất nước quê hương, thì tác giả rất vui. Mong là nó được xem như một sự chia sẻ lòng yêu tiếng Việt, và như một nụ cười, gửi đến người đọc.
Như một câu ngạn ngữ đã nói, “Thức ăn ăn thấy ngon hơn nếu được chia sẻ với thân hữu, với bạn bè” (“Food tastes better when shared with friends.”), thì những ý nghĩ, những tư tưởng, mong là cũng có thể trở nên đậm đà, có ý nghĩa hơn, khi được chia sẻ với nhau. Đó là hạnh phúc của việc viết và đọc.
Nhân dịp này, qua việc bàn về cái nhìn của con người Việt trong chuyện “ăn uống” và “ăn ở”, xin cám ơn tất cả những con người Việt, những thân bằng thân hữu, những bạn bè hiện ở khắp bốn phương trời, những bà con chòm xóm xưa cùng với các bậc tổ tiên, tất cả những con người Việt đã xây đắp và vun bồi ngôn ngữ, chữ nghĩa Việt, những người đã chung tay gầy dựng, tô bồi đất nước, và nhất là đã tạo cho chúng ta một căn cước tính Việt Nam.
“Ăn uống” và “ăn ở”, những “sự thường” và “không thường” ấy, nằm trong vùng phủ sóng của cái căn cước tính đó.
Bùi Vĩnh Phúc
Tustin Ranch, Calif.
tháng XII, 2025
________________
GHI CHÚ
[1] “Vi thiên” và “vi tiên”. Câu thường được dùng phổ biến là “Quốc dĩ dân vi bản, dân dĩ thực vi tiên” (Nước lấy dân làm gốc, dân lấy ăn làm đầu). Nó nhấn mạnh việc mưu sinh, no bụng là ưu tiên số một của người dân. Có sự khác biệt như thế này: “Dân dĩ thực vi thiên” (民以食為天) là câu gốc Hán, xuất phát từ sách Tống Sử (History of Song), mang ý nghĩa sâu sắc: dân chúng coi miếng ăn, sự no đủ là quan trọng nhất, là “trời” (thiên) của họ. Còn câu “Dân dĩ thực vi tiên” (民以食為先) là cách nói phổ biến hơn trong tiếng Việt, là biến thể từ câu gốc. “Tiên” (先) nghĩa là trước, đầu, cũng diễn tả ý “lấy việc ăn làm đầu”, là ưu tiên hàng đầu của người dân.
Như vậy, “Dân dĩ thực vi thiên” là câu gốc Hán, còn “Dân dĩ thực vi tiên” là cách trình bày, diễn đạt phổ biến trong tiếng Việt. Dù sao, cả hai đều truyền tải cùng một ý nghĩa cơ bản: sự no ấm là quan trọng nhất đối với đời sống con người. Câu có cụm “Quốc dĩ dân vi bản” (Nước lấy dân làm gốc), đi kèm với “dân dĩ thực vi tiên”, là để hoàn thiện ý nghĩa chính trị và xã hội của nó.
[2] Xem Triết lý Cái Đình của Kim Định (Nguồn Sáng xuất bản, 1971). Theo tác giả, đạo/triết lý “ve gái” này bắt nguồn từ quẻ Hàm (咸)trong Kinh Dịch, chỉ về sự giao cảm, cảm ứng (cảm thụ và phản ứng) giữa con người với con người, đặc biệt là trong quan hệ nam nữ và giao tiếp xã hội nói chung. Nó được diễn tả bởi quẻ Hàm ( ), ghép bởi hai quẻ đơn: dưới là quẻ Cấn (艮), một vạch liền ở trên hai vạch đứt ở dưới (☶), chỉ thiếu nam (núi và bền gan), và trên là quẻ Đoài (兑), một vạch đứt ở trên hai vạch liền ở dưới (☱), chỉ thiếu nữ (ao ước, đẹp lòng). Cùng Kim Định, qua nghiên cứu, ta có thể biết thêm rằng Quẻ Hàm, hay Trạch Sơn Hàm (trên núi có sông / núi sông giao cảm), tượng trưng cho việc hỏi cưới, hứa hôn, đám cưới, sự phối hợp, các hiệp định, sự liên minh, hiệp hội, cảm hứng dễ chịu, hỗ tương, biểu trưng cho sự tương tác hoàn hảo:
-
Quẻ Đoài (Hồ Nước) ở trên: Tượng trưng cho sự Vui Vẻ, cởi mở và Thiếu Nữ. Đoài là miệng hồ, sẵn sàng tiếp nhận và biểu lộ sự vui mừng.
-
Quẻ Cấn (Núi) ở dưới: Tượng trưng cho sự Dừng Lại, Tĩnh Lặng và Thiếu Nam. Cấn là núi, là sự trầm lắng, tĩnh tại, biết dừng lại ở mức độ phù hợp.
Sự Cảm Ứng Lý Tưởng: Khi Núi (Cấn) ở dưới, trầm tĩnh lắng nghe, và Hồ Nước (Đoài) ở trên, vui vẻ và cởi mở biểu đạt, sự giao cảm sẽ diễn ra tự nhiên, hài hòa và chân thành.
Triết gia Kim Định, rất cụ thể, đã bàn luận một cách triết lý và mang tính lịch sử về đạo “ve gái” trong việc hát trống quân của người Việt, mà chữ Nho gọi là lễ “sơn thuỷ” (sông núi). Ông cho rằng hát trống quân bao gồm một triết lý toàn diện qua việc múa hát, và trong những lời hát đối ứng giữa hai bên nam nữ ấy, những lời hát tự nhiên tự phát không có bài bản nhất định, nhiều khi, chuyên chở trong chúng rất nhiều yếu tố triết lý bình dân để mở rộng và đi sâu vào lòng quần chúng.
[3] Flirting được xem là hành động như thể bị thu hút hoặc cố gắng thu hút ai đó, thường là qua ánh mắt, lời nói, nhưng chỉ để giải trí chứ không phải với ý định nghiêm túc. Necking là hôn ở cổ để dần tiến xa hơn (making out). Petting là việc sờ mó, đụng chạm, vuốt ve. Còn Spooning, từ chữ “spoon” là thìa muỗng, cũng nói về quan hệ luyến ái giữa hai người nam và nữ. Ngoài việc chỉ những hành vi thân mật như hôn hít, ôm ấp, từ này còn chỉ hành động nằm nghiêng bên nhau, kẻ sau người trước, co chân lại, và gần sát như hai cái thìa (spoon) được úp vào nhau.
[4] “Nhất ẩm nhất trác giai do tiền định”, có nghĩa là “Mỗi lần uống một ngụm, mỗi lần mổ/gắp một miếng, đều đã do số mệnh định sẵn từ trước.” Câu này thể hiện triết lý sâu sắc (của Phật giáo/Đạo giáo) về số mệnh, rằng mọi thứ trên đời, dù là những hành động nhỏ nhất như ăn uống, đều đã được sắp đặt bởi duyên số hoặc nghiệp lực từ kiếp trước (tiền định).
[5] Nguyên văn và dịch nghĩa: “I took my troubles down to Madame Ruth / You know that gypsy with the gold-capped tooth / She’s got a pad down on Thirty-Fourth and Vine / Selling little bottles of love potion number nine // I told her that I was a flop with chicks / I’ve been this way since 1956 / She looked at my palm and she made a magic sign / She said, “What you need is love potion number nine” // She bent down and turned around and gave me a wink / She said, “I’m gonna make it up right here in the sink” / / It smelled like turpentine, it looked like Indian ink / I held my nose, I closed my eyes, I took a drink // I didn’t know if it was day or night / I started kissing everything in sight. But when I kissed a cop down on Thirty-Fourth and Vine / He broke my little bottle of Love Potion Number Nine… Love Potion Number Nine / Love Potion Number Nine / Love Potion Number Nine…” (Tôi đã kể hết mọi chuyện với Madame Ruth. Bạn biết đấy, cô nàng Digan với hàm răng bọc vàng đó. Cô ta có một gian hàng, một “bệ phóng”, kê ở góc phố Ba Mươi Tư và Vine. Bán những lọ thuốc tình yêu số chín nhỏ. Tôi nói với cô ta rằng tôi là một kẻ thất bại trong chuyện yêu đương. Tôi đã sống như thế này từ năm 1956. Cô ta nhìn vào lòng bàn tay tôi và làm một dấu hiệu ma thuật. Cô ta nói, “Cái anh cần là thuốc tình yêu số chín”. Cô ta cúi xuống, quay lại và nháy mắt với tôi. Cô ta nói, “Tôi sẽ pha chế ngay trong bồn rửa này”. Nó có mùi như dầu thông, trông giống như mực tàu. Tôi bịt mũi, nhắm mắt lại, nhấp một ngụm. Tôi không biết là ngày hay đêm. Tôi bắt đầu hôn mọi thứ trong tầm mắt. Nhưng khi tôi hôn một cảnh sát ở góc phố Ba Mươi Tư và Vine. Hắn ta đã làm vỡ lọ thuốc tình yêu số chín nhỏ của tôi… Thuốc tình yêu số chín. Thuốc tình yêu số chín. Thuốc tình yêu số chín.)
[6] Nghĩa là: “Thờ cúng Thần linh phải như thể Thần linh đang hiện diện (có mặt) ở đó.” Câu này không chỉ là lời khuyên về hình thức cúng bái, tránh sự biểu lộ hình thức hời hợt, mà còn là một triết lý về thái độ và lòng thành kính khi thực hiện lễ nghi. Xuất xứ là từ kinh điển của Nho giáo, cụ thể là Luận ngữ, bộ sách ghi lại lời nói và hành vi của Khổng Tử và các môn đệ của ông. Câu đầy đủ (trong Luận ngữ): “Tế như tại, tế thần như thần tại.” (祭如在,祭神如神在。). Có nghĩa là: “Cúng tế (tổ tiên) phải như thấy tổ tiên đang có mặt, thờ cúng thần linh phải như thấy thần linh đang hiện diện.” Câu này là một trong những nguyên tắc cốt lõi về Lễ (禮) trong triết học Khổng giáo, đề cao tinh thần và thái độ trong nghi lễ hơn là hình thức vật chất.
[7] “Đèo bòng” hay “đèo bồng” (có khi viết là “bèo bồng”) có nghĩa là “vướng vít, quấn quýt, dan díu”. Ca dao nói “Trót đa mang nên phải đèo bòng”, hay “Đèo bòng chi lắm tội trời”. Trong Truyện Kiều có câu: “ Đôi ta chút nghĩa đèo bồng / Đến nhà trước liệu nói sòng cho minh”. Đào Duy Anh, trong Từ điển Truyện Kiều, giải thích: “Đèo” là mang theo, “bồng” là bồng bế. Nghĩa bóng là dan díu, vướng vít. Còn đối với “bèo bồng” thì Đào Duy Anh cho đó là một danh từ kép của “bèo” và cỏ “bồng”.
Từ “đèo bồng” (hay “bèo bồng”) là một cách nói ghép, chỉ những mối quan hệ tình duyên quấn quýt, dan díu, không rõ ràng, dễ tan vỡ, như “nghĩa bèo bồng” trong Truyện Kiều, xuất phát từ hình ảnh cành bèo, lá bồng trôi nổi, dễ dạt đi.
Có thể phân tích thêm: 1/ Đèo (bèo): Theo nghĩa thuần Việt từ chữ “đèo” là mang thêm, chở thêm, mang theo, vướng vào (có thể gần gụi với chữ “đeo” về mặt từ nguyên); hay từ chữ “bèo”, với hàm nghĩa là trôi nổi, lênh đênh. 2/ Bồng (bồng): Có gốc từ chữ Hán là “bồng” (蓬), chỉ loại cỏ dại, dễ bay theo gió, mọc ở nơi hoang vu. Ý nghĩa gốc của “đèo bồng”/”đèo bòng” (hay “bèo bồng”) là kết hợp này tạo ra hình ảnh một thứ gì đó mong manh, không có gốc rễ, lênh đênh, không bền vững. Nghĩa bóng của nó thường được dùng để chỉ những mối quan hệ yêu đương mập mờ, vướng víu, không chính thức, dễ bị chia lìa, thường mang sắc thái tiêu cực. Nhưng, trong lời ăn tiếng nói của người Việt, từ “đèo bồng”/”đèo bòng” còn mang một ý nghĩa khác nữa.
Trong quyển Truyện Kiều của Trần Nho Thìn (chủ biên) và Nguyễn Tuấn Cường (khảo, chú, bình), do nxb Giáo Dục in năm 2007, bìa cứng khổ lớn, gần như vuông, các tác giả cho biết rằng từ “đèo bòng” trong câu”Đôi ta chút nghĩa đèo bòng / Đến nhà trước liệu nói sòng cho minh” còn được viết là “bèo bồng”, và rằng, ngoài ra, có nhiều bản Kiều khác nhau ghi là “đèo bồng”. Dĩ nhiên là để chỉ một thứ quan hệ yêu đương vướng víu, không chính thức. Dù sao, trong Việt Nam quấc âm tự vị, Huình Tịnh Paulus Của giải thích “đèo bòng” là “Tham muốn quá. Đòi, với trặc trẹo”. Tôi ngờ rằng, “bòng” (trong “đèo bòng”) là từ chữ “bồng” (蓬), đã giải thích ở trên. Đây cũng có thể là cách phát âm và ghi âm theo lối gốc miền, địa phương, giống như các chữ thầy/thày, mầy/mày, nhẩy/nhảy, tụi bây/tụi bay, hết thẩy/ hết thảy, mầu/màu, v.v.. Mỗi cặp gồm một lối có dấu mũ ở trên, một lối không. Việt-Nam tự-điển của Lê Văn Đức và Lê Ngọc Trụ hiệu đính, trong phần giải thích về câu “Ăn mày đòi xôi gấc” cũng dùng từ “đèo bòng” để chỉ việc tham lam, “nghèo mà đèo bòng, hay đòi hỏi những sự quá đáng.”
Riêng về từ “đèo”, như Đào Duy Anh giải thích ở trên, ta thấy trong một số ngữ cảnh, nó có nghĩa là “mang theo”. Ta nhớ bài ca dao (Hôm qua) tát nước đầu đình: “Hôm qua tát nước đầu đình / Bỏ quên chiếc áo trên cành hoa sen / Em được thì cho anh xin / Hay là em để làm tin trong nhà? / Áo anh sứt chỉ đường tà / Vợ anh chưa có, mẹ già chưa khâu / Áo anh sứt chỉ đã lâu / Mai mượn cô ấy về khâu cho cùng…” Anh chàng trong ca dao “tán” rất khéo. Nhờ cô gái khâu hộ áo, rồi hứa hẹn “Khâu rồi anh sẽ trả công / Đến khi lấy chồng anh sẽ giúp cho”. Mà những điều anh hứa giúp thì toàn là những chuyện chàng rể, nhà trai phải làm để chuẩn bị đám cưới: “Giúp cho một thúng xôi vò / Một con lợn béo, một vò rượu tăm / Giúp em đôi chiếu em nằm / Đôi chăn em đắp, đôi trằm em đeo / Giúp em quan tám tiền cheo / Quan năm tiền cưới, lại đèo buồng cau.”. Phần cuối, ngoài “quan năm tiền cưới” thì lại có thêm cả một “buồng cau”. “Đèo” là như thế! Là thêm vào. Người Bắc, chở nhau đi bằng xe đạp, hay xe gắn máy, cũng gọi là “đèo nhau”, với nghĩa là “mang nhau theo”. Trong Nam gọi là “chở nhau”.
Về chữ “bòng” trong “đèo bòng”, tôi nghĩ là nó nhiều phần có thể phát xuất từ chữ “bồng” gốc Hán, như đã nói ở trên. Hoặc là từ hình ảnh “cây bồng (bồng)”. Như trong cụm từ “rối như mớ bòng bong”. Ở đây, chữ “bòng” trong “mớ bòng bong” có nguồn gốc từ tên một loại cây leo thân rễ có lá nhỏ, mọc lan rộng và thường quấn quýt vào nhau, tạo thành mớ lộn xộn, khó gỡ, từ đó diễn tả trạng thái rối bời, nhiều thứ dính vào nhau, không rõ ràng, phức tạp. “Bòng bong” chỉ cây hải kim sa (hoặc cây “bồng bồng”), một loại cây dây leo có tua tủa ra, mọc nhiều, rậm rạp, xum xuê, thường được dùng để trị các chứng bệnh về đường tiết niệu. Danh pháp khoa học của nó là Lygodium japonicum. Thành ngữ “mớ bòng bong” mô tả tình trạng rất rối rắm, lộn xộn, phức tạp, chồng chéo như một mớ dây leo quấn chặt vào nhau, khó phân biệt, khó giải quyết.
[8] “Xì trum” là một từ ngữ được đưa vào ngôn ngữ Việt Nam khoảng năm 1972, 1973. Nó bắt đầu từ loạt truyện “Xì trum” bằng tranh của Pháp, được “can ke” và được dịch lại qua tiếng Việt. “Xì trum” là tên giống dân rất dễ thương, người chỉ nhỏ bằng ngón tay và nói cái gì cũng chỉ dùng độc có hai chữ “xì trum”. Tuy nhiên, khi đặt trong câu nói, trong dòng văn, trong ngữ cảnh (context), thì ai cũng hiểu “xì trum” trong câu này là gì, “xì trum” trong câu kia là gì… Chẳng hạn một dân “xì trum” ham ăn, nói: “‘Xì trum’ quá! Từ sáng đến giờ chẳng có cái ‘xì trum’ gì để mà ‘xì trum’ cả!”, thì chữ “xì trum” thứ nhất chỉ một từ biểu cảm gì đó như “Chán”, hoặc “Buồn”/ “Rầu”, v.v.; chữ “xì trum” thứ hai chỉ cái gì ăn được; còn chữ thứ ba thay cho chữ “ăn”.