Câu chuyện về “Ngôi làng của những-người-không-có-mặt- người”

Truyện ngắn Nguyễn Thanh Văn

Đoạn đầu là phần dẫn chuyện trong cuốn tiểu thuyết “CỎ LAU VÀ GIÓ” chưa xuất bản của tác giả. Bạn đọc vui lòng xem như một truyện ngắn bình thường bởi ngay từ đầu cuốn tiểu thuyết theo ý đồ có tính thử nghiệm của người viết, cũng đồng thời được kết cấu như một chuỗi truyện ngắn nhằm để nhắc nhở tác giả tránh buông lỏng câu chữ, và để độc giả bớt ngán ngẩm độ dài của tiểu thuyết. Đối thoại ngắn mở đầu chuyện này là giữa một nhân vật nữ mang tên Già Liễu và Thiện, đứa cháu nhỏ mồ côi thông minh, hồn nhiên của bà.

 ***

– Ngoại ơi, từ đây đến vực trời bao xa?

– Xa, xa lắm cháu ơi… nhưng ít ai đến được đó rồi về trở lại. Chỉ có bà ngoại đây là làm được chuyện này.

– Cháu không hiểu…

– Lớn lên cháu sẽ hiểu. Ông tổ của cháu là quan ngự y chuyên chữa bệnh cho Đức Vua, hoàng hậu và các phi tần… Ông đã chữa bệnh cho các hoàng tử và công chúa.

– Công chúa trong cổ tích thì cháu biết. Công chúa đẹp như mẹ Phụng, mặc áo đầm xoè.

– Đúng. Dòng bên ông ngoại cháu, chồng ta đây, dòng dõi nghĩa sĩ Cần vương, từ giặc Tây, giặc cướp cho tới hùm beo ác thú phải chường mặt. Sống làm tráng sĩ, thác làm thần…

– Tráng sĩ diệt mãng xà trong cổ tích cháu cũng biết luôn.

– Ừa… mà không đúng hẳn. Tráng sĩ trong cổ tích chỉ giết đám rắn nhỏ xíu rồi đồn thổi lên thành mãng xà, và chuyên cứu bọn đàn bà, con gái đẹp mà thôi. Có chuyện tráng sĩ cứu con gái mặt mày xấu xí, hôi nách và bị rỗ hoa không? Còn tráng sĩ dòng họ bên chồng ta thì khác, toàn làm chuyện đại nghĩa, vì nước vì non, không dính dấp vụ trai gái phấn son chi cả, hiểu chưa?

– Không hiểu… mà ngoại cứ kể rồi cháu hiểu ngay mà…

– Thôi được. Tổ cha mi, ở với mi hết chuyện thực lại phải bịa chuyện giả, mà có bịa cũng không kịp với mi. Thằng quỷ!

– Ơ… ngoại nói chuyện gì ngoại kể cũng có thực mà!

– Thì là chuyện thực trăm phần trăm cả đây. Đời ta thiếu chi chuyện mà phải bịa. Hễ buồn ngủ thì nói cho biết, đừng để ta phí sức. Nào, ta sắp kể đây, nghe và nhớ cho kỹ!

 *

Để hiểu được chuyện phải ngược về cả thế kỷ trước. Dạo đó xứ này còn là nơi hiểm trở, sương lam chướng khí. Tất cả quân ta quân địch hễ bước chân qua đều bỏ lại nửa số nhân mạng. Xương cốt lổm ngổm khắp nơi. Hồi đó cọp beo to gấp rưỡi loài trâu bò vì thường xuyên ăn thịt người, ngay đến loài thú gặm cỏ cũng chuyển sang nhấm nháp thịt người ta, chỉ vì không có một ngọn cỏ nào chưa từng dính máu người. Quân chiến bại giết hại lẫn nhau giành đường thoát. Quân chiến thắng đang thu nhặt chiến lợi phẩm bỗng trúng gió độc, rồi lăn đùng ra chết hàng loạt. Mỗi lúc thu quân, ngựa chiến lảo đảo nhào cả xuống đèo vì đoàn lũ hồn ma lẽo đẽo bám theo đòi cùng về quê cũ. Đó là thuộc dải đất còn sát biển, đủ khí trời, ánh sáng. Còn có một loại chướng khí chỉ xuất hiện vào lúc trời cực lạnh trên chót đèo. Mỗi khi bị vây bọc trong thứ khí lạ này, thay vì mù mịt không nhận ra đường đi lại thấy rõ mồn một cả thế giới cõi âm, lố nhố hồn oan binh lính thiếu chân, cụt tay, mất đầu đang níu chặt đuôi ngựa, chân ngựa rồi khuỵu xuống vì tên bay đạn lạc hoặc cùng với ngựa lao thẳng xuống vực. Sâu hút trong tim rừng, đi ngót cả trăm dặm hơn, là thế giới của quân trộm gỗ buôn lậu hoặc bọn giết người lẩn trốn vua quan. Đấy là loại người thích ánh sáng hơn bóng tối, gần với tai ương, bất hạnh hơn cuộc sống lành mạnh, bình thường. Đấy là nơi mà đến bọn thợ săn can đảm nhất, sẵn lòng liều mạng vì miếng ăn của vợ con cũng không dám bén mảng tới, lúc truy đuổi mới phải đi thành nhóm, thành phường che chắn cho nhau. Khi một cánh nghĩa sĩ Cần vương tụ về quanh vực trời vì địch truy lùng, số bị địch giết ít hơn cả số chết vì dịch bệnh, hoặc do ăn nhầm nấm hiểm, rau độc, số bị rắn cắn, hổ vồ, có khi đêm hôm trượt chân rơi tuốt xuống vực sâu…

Trong một lần không may bị địch quân phục kích, hai người anh em sinh đôi của ông tổ nội của cháu, là người chồng ta gọi bằng ông chú, một người trúng đạn chết tại chỗ, một người bị một tên thổ dân phản bội chém sạt mất cả mặt mũi. Cánh quân tan rã, chủ tướng dùng đao tự sát, phó tướng cạo đầu tóc, trà trộn vào am tự của đám sư sãi tu ở lưng đồi, sống tạm qua ngày, trốn lệnh nghiêm phạt của Đức Vua, chờ thời vận. Rồi xảy ra câu chuyện khó tin và lạ thường mà ta sắp kể đây.

Ông chú của bà ngoại đây bị gươm sạt mất mặt, bị địch quân bỏ mặc lại vì ngỡ ông đã toi mạng. Nửa đêm mưa rừng đổ, ông tỉnh lại rồi thiếp đi mấy lần. Một lần mơ màng thức giấc ông ngửi thấy mùi hôi hám cực kì, cảm thấy có gì ẩm, nóng hổi liếm mạnh trên mặt mấy phút liền, đau nhói mũi tai, rồi lúc sau tự dưng lại dễ chịu hẳn. Qua chút ánh sáng lù mù rọi xuyên qua không rõ cơ man nào là cành lá, ông chú gượng nhìn quanh, giật mình thấy cảnh tượng thê lương, bất nhẫn chung quanh. Ngoài một số xác đồng bọn địch không đưa đi được, chủ yếu còn lại là xác quân ta nằm la liệt lẫn giữa đống gươm giáo, không còn ra tư thế, bộ dạng và mùi hôi bốc rợn cả một góc rừng. Bọn thú rừng hẳn đã thay con người làm nốt những việc còn lại: không một xác nào còn nguyên vẹn. Dấu chân của bọn cọp beo tham gia buổi đại tiệc giẫm khắp nơi. Có lẽ do lúc ngã xuống, ông kẹt ngay giữa một bọng cây, đằng sau đống xác của đồng đội, phần nào do bọn ác thú đã no nê, muốn dành thịt lại cho ngày kế tiếp, ông đã may mắn thoát chết trong gang tấc.

Chính bản năng sinh tồn và ý thức bọn thú rừng có thể sớm quay lại mà nạn nhân đã cắn răng đứng dậy lần mò tìm đường sống. Chỉ có hai con đường: đường về cõi người để có thể sa lại vào tay địch, có khi tạo thêm dịp cho đồng bào ta chứng kiến cảnh đau lòng, và thêm liên luỵ trách nhiệm, hoặc chọn đi sâu về phía vực trời may ra còn sống sót. Đối với một kẻ trong cảnh dở sống dở chết, nhưng bản năng sinh tồn chưa chết hẳn thì sự chọn lựa không phức tạp lắm. Mùi rừng đầy hăm doạ, chết chóc giờ đây là cơ hội cho ông bảo vệ mạng sống của mình. Hoa trái, trứng chim, xác thú là nguồn cung cấp thực phẩm. Rồi một lần ông tình cờ chứng kiến một con dã nhân bứt lá rừng rịt vào vết thương lở loét, giúp ông may mắn nhận ra một loại thảo dược công hiệu như thần, giúp cầm máu và lành lặn vết thương gần như ngay tại chỗ.

Lòng dạ đã chán ngán chuyện đời, thân đã nằm bên mép bờ sinh tử, ông không còn quá bi lụy. Bộ mặt dị hợm, quái gở hình như lại có hiệu quả tốt hơn giữa chốn núi rừng hoang dã, giữa thế giới của mông muội, bản năng. Sức chịu đựng của một nghĩa binh bao năm khổ luyện võ thuật giúp ông nhanh chóng lấy lại sức lực, ông lần mò đi ngược về phía của loài người, dù không khí càng lúc càng loãng, ngộp thở, về phía chưa hứa hẹn gì rõ ràng, nhưng ít ra giúp ông xa dần thế giới người ta nơi ông đã là một kẻ hoàn toàn chiến bại. Bài học của thời chiến đấu trong rừng sâu và kinh nghiệm của những đồng đội người thiểu số đã phát huy tác dụng, giúp ông tạm bảo toàn mạng sống. Ông học được cách tránh loài thú dữ vào thời điểm không thích hợp, khi chúng đang tìm mồi hay đang lúc sung sức, tập di chuyển ngược gió, xa tầm mắt tầm nghe của bọn cọp beo. Ông cũng học cách giải mã tiếng chim, tiếng thú để nắm được luật sống sót giữa chốn núi rừng thâm hiểm.

Đó là một đêm của định mệnh vô lường. Ông đang cuộn mình nằm trong một hang đá mới phát hiện, ở cửa hang ông đã cẩn trọng vần hai tảng đá chồng nhau chặn cửa, khối đá mà một người đàn ông khoẻ mạnh bình thường không đủ sức di chuyển. Để an tâm, ông đốt một đống củi nhỏ gần cửa hang phòng rắn rít. Thân giữa rừng sâu, nhưng ai ngăn linh hồn xuôi về chốn cũ. Ông nghe tiếng ới con, tiếng cười nói trong gia đình, rồi tiếng ru hời buồn não ruột. Chốc chốc giật mình tỉnh giấc, nước mắt giàn giụa, nóng hổi trên bộ mặt phẳng lì. Trong giấc mơ khi nghe mồn một tiếng vợ hứa với con là cha sẽ về, Đức Vua sẽ ban thưởng cho cha nhiều đồ quý giá, sẽ ở nhà mãi mãi với vợ con, ông giật nẩy mình, rên lên thành tiếng, lập tức vùng dậy, rồi lại phục xuống, úp mặt vào sàn hang, nước mắt tuyệt vọng đổ ra thành vũng.

Và chỉ ngay sau đó một khắc, may mắn do không thể chợp mắt, ông vụt nghe một chuỗi tiếng động quen thuộc mà ông không thể ngờ tới: tiếng người. Mất thêm mấy phút, ông nhận ra cả tiếng của hàng chục người đang vây quanh hang đá. Tiếng nói lơ lớ đủ giọng, khó lắm ông mới nhận ra có xen một số tiếng cổ của chính đồng bào ông, từ lâu gần như không ai sử dụng. Chút ngôn ngữ thân thuộc không đem lại sự bình an, ngược lại ông mơ hồ đoán giờ phút cuối cùng của mình thực sự đã điểm.

Sau tiếng vần đá lịch kịch, là một cơn mưa đất đá bay thẳng vào hang. Chỉ nhờ mười phần cảnh giác, một cú phi người cật lực của dân võ thuật chuyên nghiệp, bay phóc lên tận vòm của động đá, rị người thít chặt vào trần hang mới giúp ông tránh một cái chết ngay lập tức. Tiếng reo rộ lên, rồi một cơn mưa tên cắm phập vào vách đá, những cung thủ tài ba, khoẻ cực kì đã không cho phép sự sống được tiếp tục dù ở khe hở giữa hai mũi tên chắc chắn đều tẩm thuốc độc. Có tiếng ồm ồm, ngọng nghịu:

– Hắn ngủm, ngủm rồi. Quân ni phải ngủm thôi!

– Đồ mẹt người, ngủm đáng đời!

Không phải nội dung hai câu nói, mà sắc giọng lạnh lẽo, bất nhẫn và quyết đoán đã làm tay chân ông bủn rủn, rồi đánh phịch xuống sàn hang. Mặt đất nhắc tới một cái chết đã trăm phần trăm hơn, làm con người nay đã không còn quá vướng bận chuyện sống chết, mau chóng bật hẳn dậy, hét to một tiếng thấu trời, rồi cuồng phẫn lao thẳng ra cửa hang với tốc độ của một kẻ hoàn toàn mất trí. Hai chân kẻ cùng đường hất tung cả đống củi than còn đỏ rực bay lên không, như muốn có đầy đủ ánh sáng để núi rừng cùng chứng kiến xen đại bất hạnh của một kiếp người. Saạt… saạt… keeng… keeng, tiếng dao chém ngang trong gió, chạm khẽ vào nhau, như khát khao được giành quyền tắm máu đầu tiên. Trong cảnh lố nhố ở ngay cửa hang, chợt có tiếng la thảng thốt:

– Dừng… dừng… người mềnh… người mềnh cả thôi!

Phải hai ngày hai đêm sau ông chú mới cựa mình thức giấc. Nếu xung quanh là cảnh tượng ngưu đầu mã diện, phán quan đen sì nơi Diêm Vương đích thân tra hỏi, có lẽ ông không lấy làm điều ngạc nhiên. Bởi với tiếng hét thất thanh cuối cùng, sự sống còn sót lại trong viên võ tướng bất hạnh đã hoàn toàn cạn kiệt. Sợi dây vương vấn với loài người đã đứt tung. Nhưng những gì ông trông thấy đủ kinh dị để thần hồn phải nán lại.

Ông thấy mình đang nằm trên sàn của một ngôi nhà rộng cả ngót trăm thước vuông. Không khí ấm áp nhờ một bếp lửa đâu đó. Ông nhìn khá rõ xung quanh và nghe được tiếng lửa cháy lách tách. Mất mấy giây ông mới nhận ra mình đang bị vây quanh bởi mấy lớp người, tất cả đều yên lặng, kể cả sau khi có tiếng của một bóng lù lù sát cạnh chỗ ông. Mắt ông còn yếu, chung quanh nhân ảnh mờ mờ.

– Tỉnh rồi… ăn mờng được rồi!

Một bóng người khác, tóc tai bù xù nằm cổ tay ông, giọng rề rà:

– Được! Mấy mụ mi có người hỏi thăm cố hương được rồi!

Đến phút đó mới nghe bùng lên tiếng reo lớn, rồi từ những khung cửa mở sẵn, hàng loạt người lố nhố ùa cả vào, tất cả líu lo mừng rỡ một cách thân tình.

Bếp lửa được khơi lại, sáng bừng lên và vị khách, vốn đã quen xông pha trận mạc, trái tim đã lì lợm với mọi hiểm nguy, bỗng rủn cả người, mắt mờ đi. Ôi chao toàn bộ những con người – có thể nhận ra đàn ông, đàn bà, trẻ con nhờ màu tóc, bộ ngực, âm sắc – đều đeo cùng một mặt nạ: không mũi, không môi, cằm sạt hẳn.

Hai người, có vẻ là hai vị thầy thuốc, dựng ông chú gần như hôn mê dậy, vỗ về, rồi cho kê vào miệng một bát nước sẫm có mùi rễ cây đắng nghét, nặng mùi. Người khách bất đắc dĩ nhắm tịt mắt, cố uống luôn một hơi cho trọn bát, mồ hôi lập tức túa ra, uống tới đâu thân thể nhanh chóng nhẹ hẫng ra đến đấy. Đám đông không chút kiêng dè, chen nhau tiến sát bên ông, tì cả lên vai hai vị thầy thuốc, thi nhau trầm trồ:

– Đẹp hí!

– Mẹt đẹp mà đường hoàng tệ! Là người mềnh thiệt rồi! Nọ nhầm ai mô!

Một cái gì ngớ ra trong đầu óc vẫn còn mộng mị của người khách. Ông nhớ ra thân phận tật nguyền mặt mũi hoàn toàn bị biến dạng của mình, lờ mờ hiểu lý do đã thoát chết trong đường tơ kẽ tóc. Nước mắt đầy tủi cực, mỉa mai thi nhau ứa ra, lã chã không ngớt. Có tiếng sụt sịt hoà theo, rồi tiếng khóc ồ ra, trước hết trong đám đàn bà, cũng mặt phẳng lì, nhưng phần vú cứ thỗn thện, to y cặp dừa quá khổ.

Nghe tiếng khóc rân lên, ông ngồi bật dậy, dáo dác nhìn quanh rồi khi chợt hiểu, ông “ớ” lên một tiếng vừa xúc động vừa kinh ngạc. Và ông chỉ làm một điều mà một con người lương thiện nào cũng sẽ làm trong hoàn cảnh dị thường tương tự. Phục người sát mặt sàn, kẻ được tha mạng sống nghẹn ngào rấm rứt lời tạ ơn:

– Hoá ra không phải chốn ma quỷ. Hoá ra cũng đồng bào bất hạnh với nhau cả. Nguồn cơn chi tới độ… đồng bào ơi! Xin cảm tạ bà con đã tha mạng cho. Xin nhận cho kẻ đã chết rồi sống lại ni mấy lạy!

Tiếng sụt sịt vẫn còn, nhưng chung quanh rộn rã tiếng cười. Tiếng các cụ già ha hả không dứt.

Ông chú mau chóng được lòng bộ tộc người-không-có-mặt-mũi, tất cả đều mang bộ mặt phẳng lì. Xứ núi rừng con người như muông thú, khoẻ tồn tại, yếu đuối bị đào thải. Ông chú thuộc dòng võ thuật, là võ quan của triều đình, sử dụng côn quyền thành thạo, lại là người giản dị, thật thà hiện lên mặt, thậm chí cả tính cách nóng nảy, ăn to nói nậy vốn bị coi là thô tháp võ biền ở chốn kinh thành, hóa ra lại được yêu thích ở chốn sơn lâm cô tịch nơi tiếng gió rừng, ác thú, sấm sét tự trời cao bắt con người phải khuất phục, cúi gầm mặt xuống. Ơn đùm bọc, tin cậy của nhóm người rõ ràng cũng cùng gốc gác đồng bào sao đó, cung cách tiếp cận thân thiện làm ông dần dần yên lòng hơn.

Chỉ một thời gian không lâu, các nhân vật quan trọng của bộ tộc người-không-có-mặt-mũi bàn bạc nâng ông lên hàng chức sắc, uỷ thác cho nhiều trách nhiệm lớn, một thành viên bình đẳng với các hạng cao lão nhất. Thì ra trong chốn cùng không có mặt, thì quyền lực giai tầng sỉ diện vẫn tồn tại khe khắt đúng trật tự truyền thống An Nam ta. Và dần dà ông hiểu dù bị ảnh hưởng nhiều lối sinh hoạt của dân thiểu số, bộ tộc người-không-có-mặt-mũi lại có lối làm ăn, tổ chức kinh tế phức tạp và cao hơn hẳn. Bề ngoài là sinh hoạt rẫy nương, săn bắn, bên trong có đủ hệ thống buôn gỗ quý, ngà voi, thú hiếm ở núi rừng tận biên giới các nước. Khi đã thực sự được tin cậy, ông còn biết cả đường buôn, chuyển khí giới lậu cho các phe phái, bộ tộc trong miền. Ý nghĩ quân ta xưa ắt từng dính dáng tới việc chuyển súng đạn, gươm giáo bí mật của bộ tộc người-không-có-mặt-mũi này làm bụng dạ ông xao xuyến. Khung cảnh đầm ấm và no đủ giữa nơi hoang dã đã làm ông ngạc nhiên lúc đầu, hẳn phải dính líu tới những nguồn lợi lương thiện lẫn bất lương này.

Cũng đã từng phục vụ việc chuyển lương, tìm người cung ứng vũ khí cho nghĩa sĩ hôm nào, ông tỏ ra mẫn cán, hiệu quả cả trong công việc phức tạp mới. Việc nào có bàn tay đôn đốc của ông ắt đại thành công. Những chuyến buôn đồ quý hiếm, có lúc đưa chân ông đến tận kinh đô, phố thị từ xa xa lưng núi lưng đồi, lặng lẽ chiêm ngưỡng đền thiêng, hoàng thành và cả chùa vàng ở xứ người.

Gốc gác và lý do của thảm kịch cá nhân của ông lại làm các bậc bô lão của bộ tộc thêm trọng vọng. Bản chất vốn hiệp nghĩa, khí khái, lại tự xem đời mình đã mãn, lìa xa thế giới thân thuộc cũ, ông không hề tơ hào đến quyền lợi cho bản thân, dù không thiếu dịp tự quyết trong công việc. Người cưu mang ông tỏ ra tế nhị, thu xếp cho ông ở chung với hai chị em, nhan sắc cũng “phẳng lì” như các thành viên khác trong họ tộc, nhưng phong độ cư xử ý nhị, thân thể đường nét không thiếu hấp dẫn, mà ở chốn núi rừng âm u, lúc đêm hôm ông quay về lại bản, thật ra cũng hiếm khi có dịp nhìn rõ bộ mặt dị dạng của nhau. Nhưng ông đã khéo léo từ chối, xin có thời gian cân nhắc. Rồi đến kì hạn, ông lại tiếp tục tìm cách từ chối, xin lùi thêm hạn mới. Vụ việc đang gây bối rối, thậm chí nghi ngại, thì một sự kiện mới xẩy ra: vị bô lão, có chức sắc cao nhất trong bộ tộc đã cho mời ông đến, tiết lộ cho ông rõ nguồn gốc bí mật của bộ tộc, lịch sử của những người-không-có-mặt-mũi mà họ thừa biết ông giày vò, thắc mắc.

LỊCH SỬ BỘ TỘC NGƯỜI-KHÔNG-CÓ-MẶT-MUI HAY HAI CÂU CHUYỆN KÌ DỊ LỒNG LÊN NHAU

Vào đời vua trước, xa lắc xa lơ, khi vùng đất này còn là nơi nhiều vương quốc lân bang dòm ngó, đức khai canh thành hoàng làng này là một tay gươm hảo hạng, là tuỳ tướng bảo vệ cho một vị đại thần, lĩnh mệnh đại tướng cầm đầu đoàn quân mở mang bờ cõi. Vị đại thần quyền cao chức trọng, vốn được Đức Vua xem trọng như anh em, cho cải quốc tính, lúc cùng ra trận hay phò vua du hành được ăn cùng mâm, ngủ cùng chiếu.

Trong một lần rút quân sau khi đã hạ thành địch quân, mười người giết tới bảy tám, máu ngập sông hồ, của quý cướp đi không đếm xuể, trên dưới đang say men chiến thắng, thì do nghiệp nặng đức khai canh ta đã phạm một lỗi trọng. Trong đại doanh, có một viên tướng trẻ, em của đương kim hoàng hậu, được đích thân hoàng thượng gửi gắm cho viên đại thần. Do có hành vi giấu giếm của quý trái phép, viên tướng trẻ vốn là loại ỷ lại, bất tài đã bị đức khai canh ta lăng mạ và gây thương tích nhẹ cho hắn. Viên đại thần nghe báo, quá sợ hãi vì sợ hoạ triều đình luận tội, đã nhẫn tâm, không kịp tra xét phân minh, không cần luận công tội, rút gươm phạt ngay mặt đức khai canh ta, rồi lệnh vứt bỏ thây dọc vệ đường, cấm chôn cất.

Từ cõi chết, ngài tỉnh lại nhờ sương đêm đánh thức, ngay lập tức lê vào rừng trong cảnh thân tàn ma dại. Ngất đi tỉnh lại mấy lần, chán ngán tình đời, danh lợi, ngài suýt chọn cái chết mấy lần. Một đêm đang ngủ vùi, giật mình nghe tiếng kêu khóc. Ngài vụt dậy, vội theo thói quen con nhà võ, tay sờ đốc gươm, nhìn ra ngậm ngùi ngỡ hồn đã phiêu du về tận cõi âm. Dưới ánh đuốc chập chờn, một nhóm người lếch thếch, mặt mày bộ dạng ma chê quỷ hờn vừa đi vừa gọi tên chính ông. Biết rõ số phận đã an bài, ông quẳng gươm, nhưng quát ra oai “Ta đây, khỏi phải cất công tìm. Công tội của ta nhân gian, trời đất đã rõ. Để ta tự đến đối chất với Diêm Vương, không cần bọn quỉ sứ chúng bây phí sức trói tay, trói cẳng! Ta nguyện thà làm phận lính canh nơi cõi âm, thề không chịu quay lại nhân gian!”. Nói chưa dứt lời bỗng thấy cả bọn tám chín mạng lật đật quỳ mọp xuống, đèn đuốc chợt tắt ngúm. Trong bóng tối một người bỗng khóc to rồi nói lớn “Tướng quân ôi, chúng tôi đây, những người tâm phúc của tướng quân cả đây, nào phải là ngưu đầu mã diện chốn Diêm cung. Tướng quân vẫn còn ở chốn dương gian, vía hồn đều nặng, chưa tới lúc đi…” – giọng nói quá quen làm con người bất hạnh đứng đờ ra, chân chôn xuống đất – “Tướng quân ôi, cũng vì than khóc, phận trần cho vụ xử oan tướng quân, mà chúng tôi chọc giận quân bất nhân vô lương tâm, hắn đã đem cả bọn chúng tôi ra ướm lưỡi gươm Đức Vua ban nhầm cho quỉ sứ. Sợ phải đối chất ở triều đình, hắn cho ném xác chúng tôi xuống hố, rồi đốc quân về Thăng Long lĩnh thưởng, không kịp lấp xác. Chúng tôi ngay khi tỉnh dậy, cái chết cận kề, đã quyết lần về đường cũ tìm thấy chủ cũ để chôn cất, rồi chết cạnh nhau giữa núi rừng cô quạnh cho trọn nghĩa. Nhìn thấy thây không còn chỗ cũ, chúng tôi đã lần theo vết máu để tìm. Lạy trời lạy phật, ơn trên đã nghe tiếng kêu oan ức của bọn chúng sinh khốn nạn này…”

Ánh mặt trời xuyên qua đám cây cối rậm rịt, lờ mờ soi một cảnh tượng có một không hai trên chốn dương gian, một đám quân tướng còn mặc võ phục rách rưới, mặt mày còn ri rỉ máu, mất hẳn nhân dạng, có người còn loạng choạng níu nhau như còn trong giấc ngủ nhọc nhằn, tất cả kiệt sức vì vết thương chí mạng và cảm xúc quá độ. Đôi mắt vị tướng quân mờ đi khi đảo qua bọn người tâm phúc trong hoàn cảnh thê lương bậc nhất trong suốt cuộc đời vào sinh ra tử như cơm bữa của mình. Cả đám người cùng y phục, mặt mày cùng tan nát, chợt rùn xuống như bị rút xương, nằm vạ trên mặt đất rừng, đăm đăm từng cử chỉ của chủ cũ, trừ một người mà ông đoán ra ngay là một viên quan ngự y là một thầy thuốc giỏi, vốn được cử đi theo quân để lo sức khoẻ cho bậc vương công, em hoàng hậu và viên đại thần. Người này cũng là một tri âm của ông ở chốn trung quân và ông lờ mờ đoán ra lý do kết thúc bi đát của người tri kỷ. Cổ tướng quân nghẹn lại khi nhìn trong cảnh riêng đầy bất hạnh, viên cựu ngự y vẫn loay hoay với một mớ rau cỏ gì không rõ, run run rịt thuốc cho đồng đội.

Tướng quân loạng choạng đứng dậy, rồi cũng khuỵu ngay xuống, sụp lạy đám thuộc hạ của mình:

– Ta cừ ngỡ rời thế gian này với hình tượng phản bội, hèn hạ của quân háo danh, vụ lợi ám ảnh trong đầu, ai ngờ tổ tiên ta còn phúc để lại, để được chiêm ngưỡng tấm lòng khí khái, vô uý của các ngươi. Nhưng lòng ta thoả mãn bao nhiêu về tình tri âm cao thượng của các ngươi, ta không thể tha thứ cho mình về tội đã di hoạ cho những người vô tội như các ngươi đây. Ôi chao, ngỡ từ cõi thừa sống thiếu chết trở về đem về chút vinh hoa danh tiếng cho tổ tông, vợ con, mà vì ta mà các ngươi đến nông nỗi thế này, lại còn vấy tội cho người thân… Tội ta lớn lắm, không dám ham thêm một ngày sống sót. Vĩnh biệt tri kỷ, ta đi đây!

Viên tướng quân lại vụt dậy, trước khi bàn tay thuộc hạ chạm vào mình, rút soạt gươm ra.

“Tướng quân!”, tiếng kêu thảng thốt, đớn đau cùng cực vang lên đồng loạt, cả đám người nằm kẻ ngồi còn bê bết máu nhất loạt mọp người xuống.

– Tướng quân ơi, chúng tôi đâu phải là bọn tham sinh uý tử. Chúng tôi tìm về tướng quân là để được chết cùng chủ cũ. Nếu tướng quân vĩnh quyết, chúng tôi quyết cùng tự xử. Chỉ xin tướng quân bình tâm lại đôi phút, thử xem liệu còn cách xử lý nào khác. Còn phương sách gì mong trị tội kẻ hung tàn, giải oan với thân thích làng thôn cũ.

Một người lê bằng đầu gối, níu chặt tay viên tướng quân:

– Còn nước còn tát. Khí trời, hơi thở là của trời ban, trời chưa gọi chúng ta không thể cãi mệnh. Không sống được với quân phản bội thì ta sống với ta. Không về được với loài người dưới núi, thì ta ở với núi rừng, chim thú. Nếu không ở được với chim thú ta vượt vực trời, đánh bạn với dã nhân, ngoại nhân, ma quỷ, cốt sao giữ thân cha mẹ sinh, tránh tội đại bất hiếu mà chờ ngày đối chất ở cõi âm, ba mặt một lời.

Những lời quá thê thiết vừa nghe làm cánh tay cầm gươm của viên tướng quân run lẩy bẩy. Rồi thật bất ngờ, một giọng cười khan, rổn rảng ngay trong đám người mặt mũi y hệt nhau:

– Cần chi tìm ma quỷ, chính bọn ta đây đã là ma quỷ, còn chi…

Cả đám rộ lên cười, mặt mũi rúm ró, càng dị hợm khôn lường. Nhưng tiếng cười của anh em đồng lân đồng bệnh có tác dụng của nó. Không khí tự dưng mà ấm áp lại. Viên tướng loạng choạng, rơi kiếm, giọng đầy cảm khái:

– Ta đây xem như đã chết nay nhờ bọn người mà sống lại, từ nay… ta sống một giờ, một ngày là vì tri kỉ.

 *

Rồi từ đâu mà có tục mọi thành viên bộ tộc đều cùng mang một bộ mặt hệt nhau không xác định được, chỉ biết bộ mặt phẳng lì trở thành dấu hiệu, biểu tượng của bộ tộc, quyết lánh đồng bào mình, kinh sợ bọn vua quan, và có lẽ hoàn toàn tuyệt vọng với sự bất nhân của cả loài người. Cũng có thể sự thân thiện, gắn bó kì lạ giữa nhóm đồng đội táo tợn, thượng võ cùng không có mặt người tạo ra một thứ huyền thoại hay dạng quyền lợi hấp dẫn gì đó, tợ như sự hình thành một tầng lớp quí tộc với một thứ chuẩn thẩm mỹ kì dị, độc đáo hầu như không nghe ai lý giải hay công khai lý giải. Những người đàn bà đầu tiên của bộ tộc chính là lớp nạn nhân sống sót, què quặt trong các đợt thảm sát dành đất đai, bản làng sau khi chồng cha bị giết chết. Nghe nói họ, giống loại đàn bà vốn xem nhan sắc là tối thượng, kinh sợ lẫn hài lòng khi thấy các vị thần của bộ lạc mới quyết định tha mạng cho tất cả phụ nữ, tận tình chăm sóc những vết chém chí mạng đầy mặt và không hề tỏ ra kinh tởm dung nhan dị hợm của các nạn nhân mà hiển nhiên họ đã muốn bách hại… Bọn đàn bà có trực giác, hẳn lờ mờ hiểu lý do, nhưng đủ khôn ngoan để câm như hến. Nhân tiện ta nói với ông, không ai yêu cuộc sống, níu kéo sinh mạng bằng đàn bà. Đàn bà đông tây kim cổ không có thói quen chết vì nước, hy sinh vì bộ lạc. Họ xem trọng sự sống hơn tất cả những gì mà cánh đàn ông như ông và tôi xem là hệ trọng và cao thượng nhất. Coi chừng họ đứng ngang với trời với đất, bởi họ tham dự sự sinh thành, chứ không sính vụ giết chóc…ông nghĩ coi phải hay không phải!

Bậc kỳ lão thường ứng xử như người cõi trên với dân trong bản chợt ngưng lại, khúc khích cười đầy khó hiểu, rồi trầm giọng:

– Thật ra câu chuyện ta đang tuỳ hứng bộc bạch với ông chỉ một lần này, vốn không có chứng cớ khẳng định, ta không rõ và nếu không cảm kích công lao ông đã góp cho bộ tộc ta đã không hé môi. Thế nào mặc lòng, ông chớ tò mò, chớ tìm hiểu mà hại thân… Hay đó chính là sự bắt đầu lời nguyền mà ai cố vượt qua không thể sống sót. Và thanh gươm của chính đức khai canh thành hoàng ta được lưu giữ để tiếp tục truyền thống này. Khi từ bé thơ được các thần tượng có bộ mặt phẳng lì huấn luyện kỉ luật sinh tồn khắc nghiệt, thế hệ ta đã mang chính khuôn mặt truyền thống này. Tất cả tin rằng nhờ may mắn chọn tập tục khác người này mà bộ tộc ta đã sống sót, lớn mạnh, gây khiếp sợ cho các bộ tộc thù địch, hiếu chiến khác. Ta là một trong những người tin chắc truyền thống đó!

Vị bô lão ngừng câu chuyện, bí ẩn của bộ tộc vọng lại mơ hồ trong tiếng cây chuyển mình răng rắc, tiếng cọp gầm xen tiếng thác nước xa xa. Người nghe, mái tóc hôm bị đại nạn hai màu, muối trộn tiêu nay bạc trắng một màu vôi, lật đật quỳ sụp xuống:

– Bây giờ thì đã đệ đã biết chắc lý do mình được sống sót!

ĐOẠN KẾT CHUYỆN HỌ NHÀ CHỒNG GIÀ LIỆU

Trời đã khuya lắm rồi lúc anh em nhà họ Trần đóng cửa, gài then, ngủ bù sau mùa săn. Tiếng chó rậm rực làm người anh thức giấc trước – đây là vị đã sinh ra chồng ta mà cháu phải gọi là ông cố, nhớ chưa? – tay hờ súng, dán mắt vào khe cửa một phút. Từ chỗ đứng, ông kinh ngạc chứng kiến cảnh chưa từng thấy: bọn chó săn trung thành đã được huấn luyện công phu nhiều năm nối nhau chui qua rào, tất cả đều rị sát đầu, đuôi xoay như chong chóng. Không phải ác thú, tất nhiên. Phường săn đã giải tán, mà có chuyện bàn bạc cũng không gặp giờ này. Vậy là ai? Đám thân nhân thợ săn trong gia đình đều say ngủ li bì, trừ ông và người em ruột cũng run run tiến sát sau lưng ông. Đám đàn bà trẻ nít đều ở dưới chân núi. Trong bóng đêm hai anh em tròn mắt, dò ý nhau. Họ quyết định để yên cho bọn anh em con cháu trong nhà yên giấc, thụp người nối nhau bò qua một lỗ chó ở góc bếp, cằn người vòng từ rào sau ra phía nghi có người lạ.

Nhờ ngọn gió mạnh bất ngờ hất mạnh đám cây rừng qua một bên phía, lờ mờ ánh trăng hạ tuần, cả hai giật mình nhận ra một bóng một người đàn ông già đang lum khum giữa đám chó – có vẻ như chúng đã quen hơi ông ta trước đó rồi. Hai anh em thận trọng ngồi thẳng dậy, người hươi cung, người gỡ súng, dõi theo hành tung kẻ đeo mặt nạ. Họ đoán vậy, do bộ mặt kì dị của hắn. Từ trong đám đầu chó gừ gừ thân thiện, vòng ra tiếng người khều khào:

– Bọn thằng Xoài, thằng Mít biết chọn giống chó không tồi! Khá đó!

Hai người vừa bị gọi đúng tên hồi còn trẻ dại – Xoài và Mít – vốn chỉ có bậc phụ huynh dưới chân đồi của họ còn nhớ, sửng sốt nhìn nhau, tim gõ thình thịch, không lẽ… trời ơi!

Một con chó quay lại ăng ẳng, ý mừng chủ. Nhanh như chớp, bóng đen vụt biến đằng sau gốc cây, rồi vẳng lại tiếng lào xào trong một loạt bụi cây gần đó.

Không nén được, người anh lớn run giọng:

– Ai đó! Chúng cháu là Xoài và Mít đây!

Một khoảng im ắng, rồi có tiếng đâu đó nói khẽ:

– Cảm ơn trời phật phù hộ! Các cháu ơi, chú, chú Hộ của cháu đây!

Cả hai người thợ săn lực lưỡng, da thịt đen mun như hai tượng đồng, bỗng khuỵu xuống như vừa trúng đạn, rồi vừa cằn gối về phía trước, vừa mếu máo:

– Lạy chú… Chúng cháu lạy chú. Sống khôn thác thiêng, xin phù hộ cho họ tộc. Sau khi nghe tin dữ, chúng cháu đã lập am thờ đúng nghi lễ. Có chi sai sót, xin linh hồn chú chỉ dạy cho!

Có tiếng bước nhẹ, rồi dưới ánh trăng mờ, một bóng đen lần này đã bịt kín mặt, từ sau gốc cây mạnh dạn bước ra, cười khà:

– Sống thác chi… chú Hộ đây. Chú vẫn còn sống nhăn răng đây.

Rồi bất ngờ chính ông ta cũng khuỵu người xuống, tức tưởi:

– Các cháu ơi, chú còn sống nhưng cha các cháu đã hy sinh. Cha cháu chết vì bị phản bội. Nhưng đến phút cuối, anh trai ta vẫn trọn phận làm tôi, làm người, không tủi hổ cho họ tộc.

Chợt nhớ ra điều gì, ông bỗng đưa hai tay lên ôm mặt:

– Hai cháu ơi, từ từ rồi chú sẽ kể hết cho nghe vì can cớ chi mà gặp gỡ hai cháu đây chú vẫn phải giấu mặt mũi. Bọn chúng đã chém đứt cả mặt mũi chú của các cháu rồi. Chú không còn là người ngày xưa, có dỡ khăn ra các cháu cũng không còn nhìn ra chú được nữa. Vì vậy mà chú đã nghĩ ra cách gặp gỡ, lân la ném thức ăn, làm quen với lũ chó, chọn đêm hôm để tránh cho chúng cháu hoảng loạn.

Hai người cháu sau phút hoảng loạn thực sự, cố bình tỉnh, kính cẩn trình bày:

– Kính chú, chú vẫn mãi mãi là chú Hộ của chúng cháu. Chú ơi, hết cha còn chú, từ nay đã trở về đất cũ, xin chú đừng dời chân đi đâu nữa. Sau khi được tin không lành, thím đã đưa cả hai em con chú về quê ngoại, hàng năm chỉ ngày giỗ chạp mới gặp gỡ. Nếu việc xuất đầu lộ diện có điều bất tiện, chú cứ mai danh ẩn tích ở vườn trong này. Chúng cháu nguyện một lòng xem chú như cha đẻ. Họ tộc ta đang lúc lúng túng, năm điều ba ý, có tay chú cầm chịch là một điều hay. Rồi chúng cháu bàn bạc tính cho chú thím và các em sớm đoàn tụ.

Cả hai lại rạp xuống mặt đất đá, đập đầu côm cốp. Nhìn cháu thi lễ và nghe qua những lời phân trần cảm động, chất phác, ông chú vội nâng cháu dậy, kéo lùi ra xa khu chỗ ở cả mười thước hơn, thì thào:

– Thì giờ không còn nhiều. Mỗi phút nán lại có khi gây hoạ cho chúng cháu. Đây là số vàng ta để riêng dành cho ngày hôm nay. Phần nào của ai, ta đã ghi rành mạch. Chớ hé miệng ra mà gặp nguy hiểm. Dặn dò con cái ta nên tránh xa chốn quan quân, tìm về quê vợ, bớt đụng chạm, gặp gỡ với người quen biết cũ, coi như dòng họ xưa đã lưu lạc mà bảo toàn thân mạng. Bảo hai con ta chớ dại mà nghĩ chuyện đi tìm cha, và các cháu đây cũng vậy, chớ nghĩ việc tìm hài cốt người thân, phòng tránh sự bất trắc…xương cốt người xưa nay đã hoá bùn, hoá đất, hoà vào cây rừng, cỏ dại, tìm tòi, nhặt nhạnh chỉ làm tủi cực vong linh cô độc bao năm của người đã khuất. Gặp mặt lần này cứ tạm xem là lần cuối. Người tính không qua được trời tính!

Thấy cháu phục xuống, rấm rức khóc, ông chú nhỏ nhẹ khuyên:

– Thời thế không thuận lòng người, đến đức kim thượng cũng lận đận, chôn thân chốn lưu đày, chớ nên bi lụy, cố thu vén, tiết kiệm trong số của cải ta giao, gặp những người tử tế, khốn khó tìm cách kín đáo giúp đỡ, san sẻ để phúc đức về sau, chờ ngày vận nước đổi thay.

– Chú đi mô, đi mô? – hai anh em cố giữ rịt tay người chú – xác cha không qui tụ được, chúng cháu nỡ lòng nào để chú ra đi. Chú chọn chỗ núi rừng làm chốn bình an, an toàn hơn gần bọn quan quân thời cuộc mới. Nhưng chú không thương con cháu, không xót cho thím bao nhiêu năm mơ màng đợi tin tức chú. Xin chú ở lại, để còn để xác, để mồ cho con cháu chăm sóc, phụng thờ.

Ông chú xoay người lọt ra khỏi vòng tay cháu, làm hai người đàn ông lực lưỡng ngớ ra, lảo đảo, rồi lại lập cập với tay kéo hai cháu lại gần, ân cần:

– Thôi, giờ giấc không còn là bao. Để ta kể cho nghe thêm về vận rủi của quân ta, vụ việc ta bị phản bội và những ngày lưu lạc, khốn đốn li kì của ta. Trước khi vĩnh quyết, ta muốn con cháu biết chuyện để hiểu rõ ông cha và đời đời truyền lại cho con cháu về phận số ông cha… Chú của các cháu sẽ kể hết, không muốn giấu giếm chi tiết nào… Thế rồi công việc nặng nhọc, vật lộn với núi rừng, với những chuyến săn bắn mạo hiểm xa vốn thích hợp với sức vóc và tính thích phiêu lưu của ta làm ta khuây khoả dần. Ta xông xáo đảm đương mọi việc kể cả phần việc của thành viên khác, chỉ để mong khi đêm về có thể vật người xuống, quày quả ngủ, quên quá khứ, quên tương lai, quên mọi thứ cảm xúc của con người… Lúc dồn hổ beo vào được đường cùng, chúng trở nên dữ tợn gấp trăm lần bình thường, thì chính ta là người tình nguyện xông vào thách đố với sinh mạng mình, lúc áp tải hàng gặp lũ cướp, dù người trúng cả nắm tên, ta cũng lừng lững áp sát, uy hiếp tinh thần kẻ địch, giữ quyền lợi cho bộ tộc. Vì vậy mà các bậc cao niên, bô lão càng có lòng yêu mến, muốn cất nhắc cho ta.

Khu nhà ở của ta được cất bằng những thứ gỗ quý nhất nghìn năm vẫn bất hoại, chỉ dành cho nhà vị tộc trưởng. Cũng chỉ có nhà ông ta, nhà họp chung của cả bản và nhà ta là có nguồn ánh sáng. Đó là ánh sáng của một loại đá lân tinh toả ánh sáng vào ban đêm, nghe đồn là cốt người ẩn tu chốn thâm sơn đã đạt đạo, người thì cho xương dã thú thành tinh hoá trầm tích, ấp ủ trong lòng đất cả triệu năm hoá thành. Những điều kì bí đó chưa tận mặt chứng kiến, chưa tin. Đó là căn nhà mà ta ít có dịp về, vì trước quen ở chốn ba quân, nay ăn ngủ giữa chốn rừng sâu, tạm bợ. Có một đêm sau một bữa say sưa luý tuý, ta ngủ vùi và được người trong bản khiêng về nhà. Nửa đêm mơ màng tỉnh giấc, ta mở mắt và dưới nguồn ánh sáng lung linh của chùm đá quý, nhìn thấy một thứ ta đã cố quên hàng ngàn ngày. Một cặp vú phụ nữ hôi hổi áp sát mặt. Ôi, các cháu không tin được… chỉ có bộ ngực của những tượng nữ thần bằng đá quí ở các đền thờ xứ lạ nơi thuở còn trẻ ta từng thấy và chiêm ngưỡng là so sánh nổi. Ta đã úp mặt, cào cấu, cắn xé tới bầm dập trong tiếng rên rỉ quằn quại không dứt của con đàn bà, hai đùi vàng rộm dạng sẵn như bò heo quay hiến tế. Thị phơi bày toàn bộ mặt đất nguyên thuỷ mà ta bỏ quên từ lâu trong đáy sâu kí ức. Trong cơn thỏa mãn cùng cực, ta vùi mặt vào mặt thị, chợt nghe tiếng cười rúc rích sảng khoái đồng loã, liền mở mắt ra. Thị vội vàng quày mặt qua một bên, rúm ró cả người, lạc mất cả giọng, mấy giây ngắn ngủi sau mới la lên thành tiếng. Trên mặt đá phẳng lì hiện rõ mồn một một bộ mặt yêu tinh, răng cỏ nhe ra nhơn nhởn, hai hốc mũi đầy lông, bên dưới là hai vết sẹo xếp ngay như chữ nhị, lấp ló chiếc lưỡi dài đỏ lòm. Hốt hoảng phóng ra khỏi nhà, lao xuống đất bằng, ta cắm cúi chạy, giật thột mình nghe tiếng chân và tiếng thị lật đật gọi đàng sau. Chân trượt dài, ta té dụi xuống, vừa nghe tiếng ai rú dài não nùng ngay sát cạnh, hoà theo tiếng gió rừng cuồng loạn, điên dại chung quanh.

Vụ việc có lẽ đã phật lòng dân bản, các vị trưởng lão thay đổi thái độ, có ý dè chừng với ta. Dù sao thị đã không chường mặt tới, và không ai nhắc chuyện vợ con với ta nữa. Rồi những bộ mặt nữ quái thường ngẫu nhiên đụng đầu ta khi trước cửa nhà, đầu suối, ngoài rừng bớt hẳn. Ta cũng mừng thầm, bèn xin thêm việc vào rừng, đi xa, tận tụy hoàn thành công việc bản làng giao cho xưa nay, chủ yếu để tránh chung đụng với đàn bà trong bộ tộc yêu quái đó. Phúc lợi ta đem thêm cho bộ tộc người-không-có-mặt-người lại đem lại uy tín cho ta như cũ. Nhưng có vài lần, ngẫu nhiên ta lại thấy bóng đàn bà hễ thoáng thấy ta là lật đật choàng khăn che mặt, nhưng thị không che được ánh mắt thống thiết, đen láy chòng chọc vào mắt ta. Lạ thay ánh mắt ấy bắt đầu ám ảnh, hiện về trong những đêm trằn trọc không ngủ của ta. Ngay trong những đêm lễ hội, cái bóng thui thủi ngồi gục đầu lên đầu gối làm ta không khỏi thương cảm. Ánh mắt âm thầm theo dõi chân ta, thỉnh thoảng chạm mắt, ta nhận ra biết bao buồn tủi, tha thiết, hờn dỗi và nét sợ hãi, xấu hổ của nàng, mỉa mai thay, nhắc tới chính bộ mặt dị hợm chính ta đang mang.

Có một hôm bất ngờ nghe tiếng chân ta qua chỗ thị đang rửa nấm ngoài bờ suối, thị rúm người quay lưng lại. Đôi vai, bộ ngực và hông nở nang như hoa đang rộ giữa mùa. Nhìn những vết lạ trên vai và lưng trần, ta dọ hỏi:

– Cớ sự chi mà có những vết sẹo này. Nói cho biết, ta có thể can thiệp cho!

Thị thút thít khóc, không trả lời. Về bản hỏi chuyện, ta mới nghe bọn đàn bà cho biết đó là đòn phạt tội làm mất lòng ta đêm hôm đó. Các cháu ơi, đêm đó ta đã bật khóc, dán mắt nhìn chính bộ mặt quỷ của ta in trên mặt đá quý, lạ lùng vì sao nàng lại không kinh hãi nó. Lòng cồn cào, xót xa cho phận người, cho nàng, cho chính ta. Trong giấc mơ hỗn loạn, ta chợt đau đáu nhớ ánh mắt ai đăm đăm nhìn ta, khi bên bờ suối, khi giữa đêm lễ hội, khi ngay trên tượng đá nữ thần năm xửa năm xưa. Ta chợt hiểu ta không thể sống thiếu nàng, tâm quay quắt sám hối!

Ta đã có… vâng, đúng là ta đã có những ngày hạnh phúc, đã có những đêm hoan lạc cùng nàng, mà dư vị khuây khoả lòng ta cả tuần dài lúc một mình giữa rừng hiểm thâm u. Lần đầu tiên khi rời bản làng, ta mong được về với bếp lửa ấm. Nhân đây, ta cũng cho các cháu biết, con người ta khi ở khung cảnh, địa vị khác thì không còn hành động, ứng xử như trong môi trường cũ nữa. Có khi đối với người chưa quen thói tục, phong thổ mới, thấy lắm điều kì dị. Người ở chốn núi rừng hoang dã, vừa thiệt thà, thô phác, vừa quyết liệt, hung dữ tới không ngờ. Khi nhảy nhót, điên dại, khi sân giận có thể làm bao chuyện bất thường. Vì giận ta đứng gần, giúp đỡ việc nặng cho một người đàn bà khác, thị đã từng dùng rựa tự chặt cả ngón chân mình, chai sạn như ta cũng phải sợ. Chuyện riêng tư không ai xâm phạm của ai. Những việc chung đụng vợ chồng bên bờ suối, trong hang đá, bụi cây hay về nhà riêng diễn ra khi hứng tình tự do như ngoài thiên nhiên, sướng khoái là gào rú, người trong bộ tộc nghe hoặc bàng quang hoặc xem như chuyện đùa vui, gật gù chúc mừng. Phần lớn nguồn lợi, những thứ săn bắt, trồng trọt được để dùng chung, vui chung. Cũng có người hơn nhau chút ít của cải, nhưng không ai chết đói khi trong bản còn một nhà còn gạo bắp. Không ai mặc cảm với ai về chuyện giàu nghèo. Tóm lại có khi ta cho xã hội của bộ tộc người-không-có-mặt-người lại có nhân tính hơn thế giới của người có đủ mặt mũi dưới núi. Nghe nói nhiều phong tục có từ thời hang động, nguyên thuỷ cùng sống bầy đàn, trăm nhà như một, khi tiếp xúc với môi trường thiên nhiên hoang sơ, nhóm người đầu tiên lập ra bộ tộc vốn có qui củ, nề nếp bất giác nhiễm tập mà thành.

Ngày vợ ta sắp sinh con lần đầu, theo tục lệ, ta vào rừng chọn những thân trúc mềm, dẻo dai nhất, rồi đi sâu nữa, đẵn những dây mây bền, đẹp về đan nôi cho con. Trong lúc ngồi mần mò kết lạt, chuốt mây để bện nôi, ta đã nhỏ những giọt nước mắt hoang mang, cùng cực nhất. Các cháu ơi, các cháu có theo kịp câu chuyện lạ lùng chú đây đang kể đây hay không? Chao ôi, nói lại chuyện năm đầu tiên ta mới đến với bộ tộc người-không-có-mặt-người, một trong những điều ta làm là luyện võ thuật đao kiếm cho đám trai tráng trong bản. Ban đầu ta cố gạt ra nỗi nghi ngại đã rành mạch trong tâm tư. Nhưng cái mà ta lúc đầu còn lờ mờ hóa ra sự thực. Bộ mặt như xác chết của dân làng phải đâu là bẩm sinh hay dị tật. Thì ra do lòng căm hận con người phản bội, đê tiện, do trong một phút cuồng phẫn si mê, ai đó đã nêu ra một đề nghị rồ dại và được chấp thuận thành truyền thống của bộ tộc. Thì ra hễ ai mong được thành một thành viên của bộ tộc, và bất cứ trẻ con nào ra đời là con cái các thành viên bộ tộc đều phải chịu nhận biểu tượng tàn nhẫn, có một không hai, tiêu biểu cho thế người-không-có-mặt-người. Giữa cái chết và sự sống đan kẽ, giữa sự bao vây – có thực và tưởng tượng – của các bộ lạc thù địch, giữa không khí quay về chốn hồng hoang này, bộ mặt quỷ sứ giúp những đứa con sinh ra từ lòng căm ghét loài người dễ nhận ra nhau, bấu víu nhau để sống sót. Và hai điều nghịch lý diễn ra bổ sung, tác động qua nhau, những bộ lạc khắp miền biết tiếng bộ tộc mới, kiêng sợ và dễ dàng bị khuất phục trước lúc dám đương đầu với người-không-có-mặt-người; mặt khác, điều này và truyền thống dị kì vô hình chung trở thành không thể thay đổi, thậm chí không rõ sao – mô Phật, lại dần dà là niềm tự hào bộ tộc.

Đó đúng là một trong những ngày kinh khủng nhất trong đời ta, khi vị tộc trưởng lại cho gọi riêng ta đến và chính thức giao cho một nhiệm vụ “thiêng liêng” của bộ tộc là việc thực hiện thủ tục ban tư cách thành viên của họ tộc trong các hội lễ hàng năm. Các cháu ơi, chớ nghe những từ ngữ trang trọng, huê mỹ mà vội mừng cho chú đây. Thiệt tình ta đã suýt ngất xỉu khi nghe lời thuyết phục rằng ta được chọn giao nhiệm vụ lớn này từ lâu, họ kì vọng ở võ nghệ cao cường của ta, và tài dùng gươm của ta sẽ giúp nghi lễ được nhanh chóng, giảm thiểu nỗi đau cho người nhận được vinh dự đắng cay này, và các bậc cha mẹ có con vừa chính thức là thành viên của bộ tộc người-không-có-mặt-người phần nào bớt đau khổ.

Dĩ nhiên là ta từ chối, các cháu làm chứng cho lời ta, ta đã quyết từ chối. Ta đã khóc, nước mắt của một võ tướng đã làm họ kinh ngạc và có lẽ phần nào động tâm, nên tạm gác lời yêu cầu lại. Các cháu ơi, một lần nữa nhớ kỹ giúp chú của các cháu đã từng từ chối công việc kì dị, bất nhẫn đó, trước khi… – giọng ông chú run lên, nghe như tiếng nấc – ta đành phải nhận lời, hoàn toàn bất đắc dĩ. Có kẻ do già lão tay run mà phạm thêm da thịt vô tội của trẻ con, bọn trai trẻ thì do háo thắng mà mất cẩn trọng có khi gây tổn thương cho cả bậc phụ huynh, và người bảo trợ xung quanh. Có em bé chết tại chỗ vì thương tổn và khiếp hãi. Ta đã buộc phải nhận lời, phần nào vì lòng thương người và vị nể lòng tin của dân bản, các cháu có hiểu cho chú đây hay không!.

Không… hãy để cho chú dốc hết những gì bao lâu ức chế trong lòng, kể cạn câu chuyện đau lòng mấy chục năm qua… ta vẫn còn minh mẫn, nhưng biết trước chẳng còn sống bao lâu nữa. Gặp lại các cháu, nhờ một việc hệ trọng, xong rồi chắc ta cũng không còn thiết sống làm chi nữa. Thế rồi…

Thình lình chiếc khăn trùm mặt trượt ra, một bộ mặt – nếu còn gọi được như thế – lồi lõm đầy ghê sợ lộ ngay sát mặt hai người cháu còn giữ được nếp lễ nghĩa. Bộ mặt hai người thợ săn trẻ vốn dày dạn phong trần ngớ ra, rồi đông cứng lại như mặt tượng đá. Hình như không hiểu chuyện gì đang xẩy ra, chính người kể chuyện lại khều khào kể tiếp:

– Bây giờ thì các cháu đã hiểu rõ rồi, phải không… Dần dà không biết bao nhiêu dân bộ tộc quên cả bộ mặt thiên nhiên từng ban cho người thân và chính mình. Thậm chí trẻ con tình cờ thấy một bộ mặt bình thường của người ngoài bộ tộc mình lại khiếp sợ, khóc thét lên như gặp quỉ sứ. Lâu dần khi đến thăm đàn bà vừa sinh con, mọi người nhìn bộ mặt trẻ nít như một phần dị dạng tạm gửi, trong khi chờ ngày có bộ mặt xứng đáng với một thành viên bộ tộc người-không-có-mặt-người. Nhưng với ta thì khác, do nghiệp chướng mà gặp nạn, đành rứt ruột rời bỏ quê hương, thân tộc, cũng là tham sinh uý tử mà cố níu kéo cái thân tàn ma dại này ở chốn rừng sâu núi hiểm, chứ làm sao ta quên được bộ mặt tự nhiên của cha sinh mẹ đẻ ngày nào. Ôi, duyên nợ chất chồng đẩy ta đến việc làm bất thường, u mê nhiều năm. Rồi chuyện gì đến sẽ đến, ta sắp phải ra tay làm điều mà ta đã từng làm với bao trẻ em… lần này với chính con đẻ của ta.

Trăng rừng lồng lộng soi đầu tóc bù xù và bờ vai run bần bật của con người đại bất hạnh, trong khi hai người đàn ông trẻ vẫn bất động, như không tin vào tai mình.

– Các cháu ơi, câu chuyện sắp kết thúc, hãy chú ý lắng nghe và nhớ giúp chú một điều hệ trọng. Các cháu hãy tin ở bụng dạ ta, ta đã chấp nhận làm một công việc mà không có ta vẫn có người làm. Sự thực nếu ta tiếp tục từ chối, được xem là có ý báng bổ bộ tộc, thì đến cái mạng hèn mọn của ta đây cũng không giữ nổi, làm sao còn cơ duyên gặp gỡ các cháu đêm nay.

May mắn cho ta, đứa con gái đầu tiên chết ngay khi rời bụng mẹ. Có trời cao đất dày chứng kiến, ta nói thật lòng… đúng là may mắn. Ta chôn cất con ta, lén nói lời vĩnh biệt: “Cảm ơn con gái của cha. Thương cha con hãy sớm theo chân bậc cha mẹ khác, ở một xứ sở khác. Cha đội ơn linh hồn con. Con đã cứu cha thoát khỏi đại tội này với trời, với đất. Rồi cha cũng sớm liệu đường theo con để quên đi kiếp phận cay cực dường này, con ơi là con ơi!”.

Từ hôm đó, để tránh sự dóm ngó của các bậc bô lão chức sắc và tránh hậu quả khó xử, ta đã cố xa lánh các bà vợ. Ta quên nói sau này để thưởng công ta, bộ tộc còn gả thêm cho ta một lượt hai chị em sinh đôi, con gái của một vị cao niên có thanh vọng trong bộ tộc. Khi chung đụng ta đã tránh để khỏi có hậu quả. May mắn, đám đàn bà chốn hoang dã tỏ ra hồn nhiên si dại trong chuyện ăn nằm, lại thiệt thà, vô tâm, không tỏ ra nghi ngại gì. Việc làm có dụng ý của ta thật ra có thể gây nghi kị, nguy hiểm vô cùng.

Nhưng sự đời không lường trước được. Một trong hai bà trẻ của ta đã vô tình phá mất kế hoạch của ta. Thị đã ôm rịt lấy ta đúng lúc ta định làm việc cần phải làm. Kết quả là đứa con trai ta ra đời đã được sáu tháng nay.

Ôi, con trai của ta, qua khuôn mặt của nó, ta đã thấy lại bộ mặt cha anh, thân nhân dưới núi, ta đã nhớ lại bộ mặt chính mình đã mất. Mấy trăm ngày con trai ta có mặt trên đời là chừng đó ngày ta đứt từng khúc ruột, loay hoay, bất quyết. Và cái nghi lễ lúc tròn năm xuất hiện ngay trước mắt ta, gần hơn sau mỗi ngày, ta nghe hệt từng nhát dao đâm. Nhân có nhiệm vụ bộ tộc giao, ta liều mình về tận đây tìm các cháu, cũng nhờ quân buôn trầm và buôn gỗ lậu mà dò la tin tức đám phường săn các cháu. Xoài và Mít cháu ơi, chú đã bộc bạch hết tâm can với hai cháu. Đường về quê vợ của chú thập phần nguy hiểm, chú đành tạ lỗi với vợ con, lấy sự gặp các cháu đây làm thoả mãn. Dù chỉ biết gia đình riêng của ta được vô sự là mừng. Tránh xa chỗ súng gươm, vũ khí là điều hay, nhưng ví như các cháu không theo đường săn bắn, thì chú đâu còn duyên mà gặp đêm nay. Hỡi ôi, tất cả không qua trời định! Tất cả không qua chữ nghiệp!

– Đứng… đứng dậy… Các cháu ơi, giờ thì chú rõ các cháu đã hiểu bụng dạ chú. Trời cũng sắp rạng rồi, chú nán lại sẽ dây dưa cho thân phận các cháu. Nào, thôi… Xoài và Mít, đừng khóc như trẻ nít nữa. Nếu chú đây phải khóc, thì tất cả sông suối ở chốn núi rừng này sẽ ngập hết.

Hai người đàn ông trẻ lồm cồm dậy, tay chắp trước ngực.

– Nghe kỹ đây… ngày rằm tới, chừng canh ba, đến mép vực trời,… đúng, ngay chỗ gần ngọn đồi trọc, đúng dịp bọn trầm, ngà voi, mỗi quý lại có “phiên chợ” bí mật giao hàng, chia mối, chú sẽ đến giao hàng cho các cháu… nhớ giữ tuyệt đối bí mật. Khi đi nhớ dẫn theo một người đàn bà có sữa mẹ. Nhớ thuê người thật thà, ở xa làng ta, càng xa càng tốt. Bao nhiêu cũng chi trả, và nhớ thưởng hậu cho người ta. Các cháu ơi, thương tưởng tới chú đây thì nhớ chăm nom, nuôi dạy em cho nên người. Đời nó xem như là mồ côi từ lúc lọt lòng! Nếu giao về bên vợ ta, con ta thì phải thăm dò thật kỹ bằng mặt, bằng lòng. Số vàng ta riêng cho chuyện này, sẽ có người đưa khi gặp ở vực trời. Các cháu ơi, chú e sẽ không bao giờ còn dịp thấy mặt các cháu nữa. Chú quyết không để các cháu liên lụy gì…

Cái bóng gù gù như gánh lấy một số phận vượt quá sức mình lùi lại, ngay lập tức khuất dạng sau màn đêm. Dưới bóng trăng nhợt nhạt hai người cháu còn sửng sốt nhìn vói theo, bất động cả khắc đồng hồ, tay chắp như cũ. Lời cuối cùng của người đi còn vương vấn quanh đây, ướm trên từng cành cây kẽ lá, loay hoay cùng trăng ngàn, rồi lại sà xuống xuyên ngang tim não hai con người chơn chất nhất chốn núi rừng.

– Tránh xa chốn vua quan, tránh xa gươm giáo, càng xa càng tốt các cháu ơi…, trời cao không cho ai quyền định đoạt mạng sống của ai như miệng lưỡi của quân huyền hoặc, thất đức tuyên truyền. Oan oan tương báo không dứt. Không một quân vương, vĩ nhân nào trên cõi thế ni được phép lấy đi thứ mà hắn không có khả năng tạo ra được: mạng sống con người! Cũng đừng vì thù hận cho bản thân mà nỡ gây đớn đau cho đồng bào đồng loại nhỏ nhoi vô tội, nhân quả đó sẽ sớm gieo trên chính số mạng mình, tránh răng cho thoát…Ngày có tin giọt máu oan khiên chú bất đắc dĩ để lại đã được về trong vòng tay che chở của các cháu, hãy xem như chú đã chết. Nhớ là chú đây đã trải đủ tai hoạ cuộc đời để tự xem như mình từ lâu không còn dính líu chi tới thế gian quá đau thương, chua xót ni nữa! Cũng đừng khói hương cho chú mần chi, gây thêm nghi ngại cho đám đa sự, hiếu kì mà nguy hiểm cho các cháu. Khói hương nhân thế sẽ làm linh hồn chú thêm nặng nề, khó bề siêu thoát…

Trong cõi yên ắng tột cùng của rừng khuya hiểm hóc, bọn chó săn cụp tai, cụp đầu nãy giờ, chợt đồng loạt rướn cao đầu tru lên mấy lượt. Không rõ vì phát hiện ra điều gì bất ổn cho chủ nhân, ngửi được có sự lạ vừa xảy ra, hay chỉ muốn tiễn chân một con người lỡ mang một số phận còn bạc bẽo và kinh khủng hơn cả chính kiếp súc sinh của chúng!

This entry was posted in Văn and tagged . Bookmark the permalink.