Vụ án “Về Kinh Bắc” (1982-1985) – kỳ 1

Hoàng Hưng

VV: Câu chuyện Vụ án “Về Kinh Bắc” đã được nhà thơ Hoàng Hưng công bố nhiều lần trên nhiều trang mạng, mỗi lần một mẩu, nhưng đây là bản đầy đủ nhất, với dung lượng gần 700 trang. Văn Việt xin giới thiệu cùng bạn đọc.

***

ĐÔI LỜI THƯA BẠN ĐỌC

Vụ án “Về Kinh Bắc” (VKB) có lẽ là vụ án văn chương kỳ quái và bi hài nhất trong lịch sử Việt Nam hiện đại! Sai lầm, oan khiên của nó đã sáng tỏ chỉ sau ít năm, nhờ gặp dịp Đảng Cộng Sản và Nhà nước Việt Nam buộc phải “Đổi mới” khi đất nước mấp mé bên bờ vực! Các nạn nhân của nó được lẳng lặng phục hồi quyền làm việc và in ấn tác phẩm, chủ yếu nhờ những người tử tế trong ngành văn hoá báo chí; nhưng các cơ quan có trách nhiệm về vụ án, đến tận bây giờ, sau 40 năm, vẫn không công khai sửa sai, xoá án tích, xin lỗi và bồi thường danh dự cùng mọi tổn thất lớn lao về tinh thần và vật chất cho những người bị oan. Những sự kiện văn học công cộng liên quan đến họ đều bị kiểm duỵệt chặt chẽ để “vụ án” không bao giờ được nhắc đến!

Bài học của vụ án VKB vẫn còn đầy tính thời sự, khi ách kiểm duyệt vẫn đè nặng lên sự sáng tạo của văn nghệ sĩ! Và nhìn rộng ra toàn bộ thực trạng tư pháp, vẫn còn những vụ bắt bớ, giam giữ chưa minh bạch và thuyết phục, có những dấu hiệu oan sai rõ rệt, do sự võ đoán tuỳ tiện của một người hay một nhóm người nắm quyền lực trong khi pháp quyền, dân quyền và nhân quyền chưa được tôn trọng.

Đất nước đang chờ đợi những thay đổi lớn lao khi các nhà lãnh đạo bày tỏ ý chí đưa nó vào “kỷ nguyên vươn mình”. Có người trong giới văn nghệ gọi nó là “kỷ nguyên người”! Đúng thế! Các tiến bộ về kinh tế, khoa học kỹ thuật, các thành tựu vật chất không bao giờ có thể lấn át hay thay thế khát vọng “làm người” trong sâu thẳm mỗi con người! Khát vọng “làm người” trước nhất là khát vọng cất lên tiếng nói của chính mình! Văn học nghệ thuật là tiếng nói chân thật nhất của “con người” với đủ cung bậc, phương diện, sắc độ, dạng thức… không bao giờ có thể đơn giản hoá, một chiều hoá, đoàn ngũ hoá, đồng nhất hoá, chính trị hoá.

Cách nhìn nhận và đối xử với các tác phẩm và tác giả văn học nghệ thuật luôn luôn là chỉ dấu văn minh của một xã hội, một thể chế.

Xin một lần bạch hoá đầy đủ một vụ án văn chương trong quá khứ, qua những gì mà người trong cuộc còn nhớ được và kể lại một cách trung thực nhất, không thêm bớt, tô vẽ, hay biện bạch. Như một chứng tích “vi lịch sử”. Như một bài học để hy vọng từ nay trở đi sẽ không còn diễn ra những “vụ án” tương tự dưới bất kỳ hình thức nào trong đời sống văn hoá của đất nước! Và một lần cho mãi mãi khẳng định QUYỀN TỰ DO SÁNG TÁC VÀ CÔNG BỐ TÁC PHẨM LÀ QUYỀN THIÊNG LIÊNG TỐI THƯỢNG phải được bảo đảm và chỉ có thể bị chế tài bằng một hệ thống luật pháp công khai, minh bạch, công bằng!

                                                                                                 Sài Gòn-TPHCM 24/11/2025

                                                                                                Hoàng Hưng (Hoàng Thuỵ Hưng)

***

PHẦN I

HỒI ỨC SAU 40 NĂM KHÉP LẠI VỤ ÁN “VỀ KINH BẮC” (1985-2025)

HOÀNG HƯNG

Xẩm tối 31/10/1985, tôi lặng lẽ tự mở cửa căn phòng lớn của bố tôi trên gác 2 ngôi nhà tổ phụ (14-Đường Thành, Hà Nội). Thật bất ngờ: cả nhà đang ngồi quanh chiếc bàn ăn lớn gỗ lim gia truyền nạm đồng 100 chữ “Phúc”: bố và tất cả các anh chị em, các cháu trai cháu gái tụ họp ăn mừng sinh nhật lần thứ 83 của bố (31/10/1902-1985)! Vợ tôi từ Sài Gòn ra cũng có mặt, chắc em ra để chuẩn bị lên trại thăm tôi lần thứ hai!

(Thật tình cờ, tôi viết xong bản thảo hồi ức này cũng đúng vào lúc mình tròn 83 tuổi Tây (24/11/1942-2025).

Ngày hôm trước, 30/10/1985, là ngày kết thúc cuộc đời tù đày “lãng xẹt” của tôi sau hơn 39 tháng, qua 3 cơ sở giam giữ của Nhà nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam!

NHÀ THƠ HOÀNG CẦM VÀ TÔI – NHỮNG CHUYỆN TRƯỚC NGÀY BỊ BẮT

Trong các nhân vật của nhóm “Nhân Văn – Giai Phẩm”, quan hệ của tôi với nhà thơ Hoàng Cầm vốn không có gì mật thiết.

Không chỉ “có vấn đề” về tư tưởng, Hoàng Cầm còn tai tiếng là con nghiện (thuốc phiện) và chủ quán rượu chui (tại nhà riêng 43 Lý Quốc Sư). Tôi – một nhà thơ trẻ đang được ưu ái, lại là nhà giáo và nhà báo của ngành giáo dục, báo Người Giáo viên Nhân dân (NGVND), cũng thấy ngại dây dưa! Mãi sau khi đã chuyển vào Sài Gòn công tác, tư tưởng ngày càng “diễn biến hòa bình” do tác động của cuộc sống và sách vở “tàn dư” của Sài Gòn xưa, trong một lần ra Hà Nội vào cuối những năm 1970 hay đầu 1980, tôi mới tìm đến Hoàng Cầm, do dịch giả-nhà thơ Dương Tường đưa dắt. Chính lần ấy, tôi được nhà thơ khoe một bản thảo tập thơ VKinh Bắc (VKB) do ông chép tay chữ rất đẹp, bay bướm uyển chuyển, có mấy phụ bản tranh của Bùi Xuân Phái vẽ các cô gái quan họ. Đó là tập bản thảo mà ông đã bán cho ông Lâm chủ quán cà phê chuyên sưu tầm tranh của các hoạ sĩ nổi tiếng ở Hà Nội; nay ông mượn lại, có lẽ để khoe với những người bạn mới, có thể là Việt kiều chăng? Nhân dịp, tôi đã xin nhà thơ chép cho ba bài Cây tam cúc – Lá diêu bông Quả vườn ổi đem về Sài Gòn khoe vài người bạn văn nghệ “chui” vốn là dân Sài Gòn cũ.

Cũng nói thêm về chuyện thuốc phiện: Hoàng Cầm bị lệ thuộc nặng nề vào “nàng tiên nâu”. Anh có thể “đi mây về gió” trong bao nhiêu năm trời trong khi đời sống của mình cực kỳ khó khăn, là vì ở miền Bắc cho đến trước những năm 1990, thuốc phiện được buôn bán khá dễ dàng với nguồn từ Lào sang. Bản thân tôi một lần lên Điện Biên Phủ công tác, đã được anh hiệu phó trường cấp 3 thẳng thắn đề nghị đem gìum mấy kilo thuốc phiện về Hà Nội và nói sẽ được đặc cách vào sân bay bằng cửa riêng và lên khoang trên ngồi cạnh phi công! Anh còn đề nghị gửi thuốc phiện theo đường bưu điện vào Sài Gòn cho tôi bán! Thậm chí trong những ngày tôi ngồi bán đồ nghề chụp ảnh trên lề đường Sài Gòn, có kẻ từ Hà Nội vào còn thẳng thừng gạ gẫm bán thuốc phiện cho hết người này đến người khác! Các quán hút thuốc phiện ở Hà Nội gần như công khai hoạt động, đi đến gần là mùi thơm ngào ngạt, ở đó có lúc giá một “bi” thuốc phiện rẻ hơn một điếu thuốc lá đầu lọc! Có lần Hoàng Cầm đã rủ tôi vào “thử một điếu” trong ngõ Tạm Thương (cạnh rạp xi nê Hồng Hà, chợ Hàng Da, trung tâm thành phố). Không thể quên cái “tiệm” nhếch nhác chỉ là một cái sạp tre lợp mái tôn có tấm bạt che làm cửa, mấy con người thay nhau lên nằm “bắn” chung một cái điếu. May mà tôi dị ứng với “nàng tiên nâu”. Chỉ một “bi” là lên bờ xuống ruộng, nó vật cho 2 ngày liền như say sóng biển, không ăn không ngủ được! Cho nên không mắc nghiện! Nhưng không ít người yêu thơ Hoàng Cầm, đến chơi với ông đã mắc phải món này! Sau “Đổi mới”, Hoàng Cầm lại được thoải mái hút, và được không ít người hâm mộ “tài trợ”, trong đó có chính Tướng Phạm Chuyên, Giám đốc Sở Công an Hà Nội. Theo lời ông, thì mỗi ngày ông phải bắn 10 “bi” mới đủ đô! Năm 2003, khi nhà thơ Pháp nổi tiếng Henri Deluy, Đảng viên Đảng Cộng sản Pháp, Giám đốc Liên hoan Thơ quốc tế Val-de-Marne thăm Việt Nam, nhờ tôi giới thiệu người đi dự Liên hoan, tôi đã đưa ông đến chơi Hoàng Cầm. Ông lập tức bị nhà thơ hấp dẫn, và ông đã trực tiếp mời HC đi dự liên hoan kỳ sắp tới. Nhưng Hoàng Cầm thú thật là… đi xa mà không có “opium” thì chắc không chịu nổi. Vậy là tôi phải giới thiệu nhà thơ Thanh Thảo thế chân!

Trong chuyến ra Hà Nội tháng 8 năm 1982, định mệnh xui khiến tôi lại đến với Hoàng Cầm ngoài chủ ý. Một bữa tôi gặp Dương Tường trên phố, anh sốt sắng bảo tôi đến an ủi Hoàng Cầm vì nhà thơ vừa trải qua một bi kịch: con gái yêu của ông là nữ diễn viên kịch Hoàng Yến chết đột ngột – nghe đâu là tự tử. Tôi đến chơi, lại nghe ông than là vừa bị mất tập bản thảo VKB mượn lại của ông Lâm cà phê (chắc hẳn CA đã lấy đi làm hồ sơ cho vụ án VKB đang chuẩn bị). Ông tỏ ra rất tiếc xót, vì khó có cơ hội làm lại một tập đẹp như thế. Tôi hứng lên, nói sẽ làm lại cho ông một tập đẹp hơn thế. Ông bảo tôi đến gặp Trần Thiếu Bảo nhờ mua giấy và bút bi loại tốt để ông chép. Trần Thiếu Bảo nhận lời ngay. Ông cựu giám đốc NXB Minh Đức, người bỏ tiền in tập san Giai Phẩm đã bị kết án 10 năm tù, 5 năm quản chế trong vụ “Nhân Văn-Giai Phẩm”, sau khi ra tù thì bị chỉ định cư trú ở Nam Định. Ông đã được về lại Hà Nội từ lúc nào đấy, và vào năm 1982, ông đang chuẩn bị mở quán ăn để sinh sống tại số 5 Bát Đàn. Thế là việc chép tay VKB tiến hành. Tôi đồng thời đến xin Văn Cao một phác hoạ làm bìa tập thơ VKB, và xin Bùi Xuân Phái mấy phụ bản. Ít ngày sau, tôi vui sướng có trong tay một bức họa mấy cái lá bay (chắc là “lá diêu bông”) của Văn Cao và 4 phụ bản màu nước của Bùi Xuân Phái vẽ những cô gái quan họ nón quai thao áo tứ thân. Xin nói ngay là “nhuận bút”, thù lao của tôi cho các ông Hoàng Cầm, Văn Cao, Bùi Xuân Phái lúc ấy chỉ là… vài hộp sữa, cân đường, thời buổi nghèo đói ấy các ông cũng thấy vui!

Có một chi tiết mà những ngày đó tôi đã bỏ qua. Trong thời gian này, tôi hầu như ngày nào cũng đến quán rượu Hoàng Cầm để giục nhà thơ chép cho xong tập thơ. Một tối, tôi trông thấy trong quán có một người quen, anh Mão, nguyên là giáo viên thể dục cùng dạy học với tôi ở Hải Phòng vài năm, nhưng đã chuyển về Hà Nội, nghe đâu làm ở Bộ Nội vụ (tức bộ Công an), vì anh là cháu ruột ông tướng CA nổi tiếng Nguyễn Tài, thứ trưởng Bộ Nội vụ. Thấy tôi, anh cất giọng lè nhè như của người say rượu bảo: “Cái ông Hưng này đến là rách việc”. Tôi hồn nhiên không để ý, chỉ cười rồi đi ra. Sau khi bị bắt tôi mới đoán rằng anh bạn đồng nghiệp cũ có lòng tốt cảnh báo để tôi khỏi sa bẫy. Nhưng lúc đó tôi hoàn toàn ngây thơ và tự tin việc xin thơ Hoàng Cầm chẳng có vấn đề gì mà phải đề phòng!

Nhân tiện cũng nói thêm đôi chút vài việc lặt vặt: Ở quán rượu Hoàng Cầm này tôi đã nghe Toán Xồm hát (anh Phan Thắng Toán mới được về sau 15 năm tù vì tội “cầm đầu nhóm Nhạc vàng đồi truỵ”, vụ án nổi tiếng về văn nghệ ở miền Bắc thời chiến tranh). Và cô Dung Hòa, một cô gái xinh đẹp và hát hay nhà ở cùng phố Lý Quốc Sư, cô này chuyên uống rượu hút thuốc đàn đúm xả láng với các chàng văn nghệ. Tôi vẫn không thể quên giọng hát “Chuyện phim buồn” (lời Việt của bài “Quand le film est triste”) của cô trong khói thuốc xanh um của quán! Sau đó lại gặp cô ở nhà người bạn mới quen là nhà thơ Nguyễn Thuỵ Kha (60 – Hàng Bông), tôi đã chở cô bằng xe đạp của cô ra chợ Hàng Da mua vài món nhắm về nhà Kha uống rượu! Không thể ngờ là khi đó công an đã theo dõi từng bước đi của tôi, và khi vào Sài Gòn khám nhà, họ đã kể cho vợ tôi nghe chuyện ấy để “ly gián” hai vợ chồng tôi!

Sau này, từ một nguồn quen biết ở an ninh, tôi mới hay: tôi đã bị theo dõi, quay phim mỗi ngày từ lúc xin Hoàng Cầm chép tay bản thảo VKB! Vì đó sẽ là mắt xích cuối cùng trong “chuyên án VKB”mà họ đã mở từ vài tháng trước!

HC gặp HH tại Sài Gòn, 10 năm sau “vụ án VKB”

HH thăm lại HC trên gác xép nhà 43 Lý Quốc Sư những năm 1990 (ảnh Nguyễn Đình Toán)

HH về thăm quê HC những năm 1990 (ảnh Nguyễn Đình Toán)

VÌ SAO CÓ CHUYÊN ÁN “VKB”?

Về Kinh Bắc ra đời trong một hoàn cảnh rất đặc biệt. Vào cuối những năm 1950, bốn anh em chúng tôi (Hoàng Cầm, Trần Dần, Lê Đạt, Đặng Đình Hưng) sau khi đi lao động cải tạo về, vẫn nằm trong thời kỳ bị kiểm soát chặt chẽ…

Trong tình cảnh ấy, tôi đề xướng với các bạn: lúc này chính là lúc bọn mình phải để tâm vào việc phá ra về thi pháp, phải phá ra khỏi kiểu thơ Tố Hữu, hay nói rộng ra là kiểu thơ cũ mà mình đã chán ngấy. Thế là bốn anh em thống nhất về đường lối sáng tác. Từ đấy hai anh Trần Dần, Lê Đạt ở Hội Nhà văn sáng sáng chỉ tán chuyện một lúc rồi mỗi người yên lặng cắm cúi viết lách. Trần Dần viết Cổng tỉnh dựa vào những kỷ niệm thời thanh niên ở Nam Định. Lê Đạt thì những kỷ niệm ở Yên Bái (thân phụ của anh làm xếp ga ở đó) cho anh loạt thơ sau in trong Bóng chữ. Đặng Đình Hưng, với sự “đỡ đầu” (dùng đúng từ anh nói) của Trần Dần, cũng viết được những bài thơ mới hẳn, lâu lâu anh lại đến khoe, rất hào hứng. Tôi rất thích những bài thơ ấy của Hưng, và học tập được khá nhiều ở tinh thần mới mẻ của anh.

Riêng tôi, như đã nhiều lần tự bạch, tôi viết Về Kinh Bắc hoàn toàn nhờ chìm đắm vào những kỷ niệm thời thơ ấu. Tôi luôn nghĩ rằng: với bất cứ anh thi sĩ nào, cái thời kỳ từ 5 đến 15 tuổi là thời kỳ quyết định hơi thơ, cốt cách thơ của cả đời anh ta. Từ năm 4 tuổi đến 14 tuổi (lúc đỗ certificat), tôi sống ở một phố nhỏ trên đường quốc lộ 1, cách thị xã Bắc Giang 6 km. Mười năm ấy ăn vào mình nhiều nhất…

Có lẽ vì thế mà toàn bộ tập Về Kinh Bắc chìm trong cái buồn, cái buồn của sự hoài vọng quê hương, bài nào cũng buồn, câu nào cũng buồn. Hồi trong Hoả Lò bị buộc phải viết kiểm điểm về tập thơ này, tôi cũng dễ dàng thừa nhận là tập thơ buồn quá. Nguyên cái buồn ấy hình như đã là chống lại đường lối văn nghệ của Đảng rồi, vì Đảng yêu cầu văn nghệ phải khấn khởi tươi vui. Nhưng ngoài cái đó ra, tôi còn phải nhắm mắt tự nhận tội với những từ nặng nề nhất như phản động, chống Đảng…”

(Tâm sự của HC, do HH ghi, đăng trên báo mạng talawas.org của Phạm Thị Hoài ở Đức năm 2007).

Trong một hồi ức khác, HC có nhắc đến câu nói của Văn Cao: “Phục xuống mà sáng tác”. Chắc là ứng với thời kỳ sáng tác nói trên của các nhà thơ Trần Dần, Lê Đạt, Đặng Đình Hưng, Hoàng Cầm.

VKB đã được lưu truyền “bí mật” lai rai suốt từ những năm 1960, nhất là sau 1975 khi đất nước thống nhất. An ninh Hà Nội biết, có đôi lần gọi tác giả lên “cảnh cáo” nhưng chỉ coi đó là thứ thơ “ngoài luồng” không được lưu hành chính thống, chưa đến mức là “phản động, chống Đảng”.

Tôi đâu ngờ thời điểm 1982 ấy nó đã trở thành… “chuyên án”!!!

(Còn tiếp…)

This entry was posted in Tư liệu and tagged , . Bookmark the permalink.