Nguyễn Lộc
Trong lịch sử văn học, Cung oán ngâm khúc cùng với Chinh phụ ngâm là hai tác phẩm tiêu biểu nhất cho thể loại Ngâm khúc nổi tiếng của giai đoạn nửa cuối thế kỷ XVIII đến đầu thế kỷ XIX. Nhưng Chinh phụ ngâm là một tác phẩm viết bằng chữ Hán của Đặng Trần Côn, sau đó mới được Đoàn Thị Điểm, rồi được nhiều người khác dịch ra chữ Nôm. Còn Cung oán ngâm khúc của Nguyễn Gia Thiều đã kế thừa một cách xuất sắc truyền thống viết ngâm khúc bằng thể thơ song thất lục bát trong bản dịch Chinh phụ ngâm của Đoàn Thị Điểm[1], và đã góp phần khẳng định giá trị của thể loại này trong lịch sử văn học dân tộc.
Vì vậy, sau Đoàn Thị Điểm và Nguyễn Gia Thiều một loạt tác phẩm viết bằng thơ song thất lục bát có tính chất ngâm khúc chịu ảnh hưởng của hai tác phẩm trên đã ra đời như Ai tư vãn của Lê Ngọc Hân, Văn chiêu hồn của Nguyễn Du, Bần nữ thán Khuyết Danh, Tự tình khúc của Cao Bá Nhạ, Thu dạ lữ hoài ngâm của Đinh Nhật Thận, bản dịch Tỳ bà hành của Phan Huy Thực[2] và cả bản dịch Chinh phụ ngâm của Phan Huy Ích.
Nguyễn Gia Thiều sinh ngày 6 tháng 2 năm Tân Dậu, tính ra dương lịch là ngày 22 tháng 3 năm 1741, ở làng Liễu Ngạn, tổng Liễu Lâm, huyện Siêu Loại, phủ Thuận Thành xứ Kinh Bắc, nay là thôn Liễu Ngạn, xã Ngũ Thái, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh, trong một gia đình đại quý tộc.
Dòng họ của Nguyễn Gia Thiều gốc ở làng Tống Sơn, huyện Gia Miêu, tỉnh Thanh Hoá là một dòng họ lớn. Ông cụ tổ của họ này là Nguyễn Bặc, một công thần của triều đình (đầu thế kỷ X), làm đến Thái tể, được phong tước Định quốc công. Đến đời Lê, trong cuộc Lê Mạc phân tranh, họ này có một người tên là Nguyễn Viết Hựu đã cùng Nguyễn Kim đem quân ra đánh nhau với nhà Mạc, về sau lấy người vợ ở xã Liễu Chữ, tức xã Liễu Ngạn đã nói ở trên. Khi Nguyễn Viết Hựu mất, vợ con ông dời nhà từ Thanh Hoá về ngoại ở Liễu Chữ. Đến đời cháu Nguyễn Viết Hựu là Nguyễn Gia Hựu, ông này sợ các đời sau quên quê cha đất tổ nên đổi tên đệm của mình là Viết sang Gia (gốc ở chữ Gia Miêu) và từ đó họ Nguyễn của Nguyễn Gia Thiều có tên đệm là Gia.
Ông nội Nguyễn Gia Thiều là Nguyễn Gia Châu, một quan võ không những giỏi cung tên mà còn giỏi cả kinh sử, được phong tước Công, gọi là Siêu Quận công. Ông thân sinh Nguyễn Gia Thiều là Nguyễn Gia Ngô[3] con cả Nguyễn Gia Châu cũng làm quan võ. Nguyễn Gia Ngô sinh ngày 10 tháng 7 năm Giáp Ngọ, tức ngày 19 tháng 8 năm 1714, được phong tước Hầu, gọi là Đạt vũ hầu.
Theo gia phả, ông học rộng văn hay, sành thơ quốc âm, có tài cầm quân đánh giặc, nhưng tính phóng khoáng, thích chơi hoa nghiện chè, việc cai trị thường giao cho viên đốc đồng sứ, còn ông thì thường đi du lãm đây đó và làm thơ. Ông có làm một tập thơ quốc âm nhưng bị thất lạc. Nguyễn Gia Ngô mất ngày 12 tháng 5, năm Đinh Sửu, tức ngày 27 tháng 6 năm 1757. Mẹ Nguyễn Gia Thiều là quận chúa Quỳnh Liên, tức Trương Thị Ngọc Tuân, con gái thứ sáu của An đô vương Trịnh Cương. Bà sinh ngày 14 tháng 10 năm Đinh Dậu, tức ngày 16 tháng 11 năm 1717, trẻ hơn chồng 3 tuổi và mất ngày 26 tháng 5 năm Bính Ngọ, tức ngày 21 tháng 6 năm 1786, thọ 70 tuổi. Như vậy Nguyễn Gia Thiều gọi chúa Trịnh Doanh đang cầm quyền lúc bấy giờ là cậu ruột, và là con cô con cậu với chúa Trịnh Sâm.
Về đằng anh em, Nguyễn Gia Thiều có tất cả 32 người, trong đó có 12 người con trai. Nguyễn Gia Thiều là con cả, kế đến là Nguyễn Gia Cơ, rồi Nguyễn Gia Diễm, Nguyễn Gia Chu, Nguyễn Gia Ban, Nguyễn Gia Xuyến… Nguyễn Gia Cơ về sau lấy con gái của vua Lê Huyền Tông, chị ruột của công chúa Ngọc Hân vợ vua Quang Trung. Nguyễn Gia Thiều lấy con gái trưởng của quan Chưởng phủ sự, Đại tư đồ Bùi Thế Đạt. Bốn anh em trai đầu của Nguyễn Gia Thiều đều giỏi thơ văn, thường xướng hoạ với nhau. Tác phẩm chung của họ là Tứ trai thi tập, gồm sáng tác của Tâm Trai (tức Nguyễn Gia Thiều), Kỳ Trai (Nguyễn Gia Cơ), Hoà Trai (Nguyễn Gia Diễm), Thanh Trai (Nguyễn Gia Chu).
Qua một vài nét về gia thế của Nguyễn Gia Thiều được giới thiệu trên đây, chúng ta có thể thấy dòng máu quý tộc của Nguyễn Gia Thiều sâu đậm biết chừng nào[4]. Người ta sẽ chẳng có gì ngạc nhiên tại sao nhà thơ sáng tác bằng chữ Nôm này lại không hề có một chút gì là “nôm na” mà đài các, quý phái đến thế. Trong lịch sử văn học ta, không có nhà thơ nào đài các, quý phái như Nguyễn Gia Thiều. Cố nhiên, ở đây “gia thế” mới là một phần, phần quan trọng hơn chính là con người và cuộc đời của tác giả.
Nguyễn Gia Thiều nổi tiếng là người thông minh học rộng, văn võ kiêm toàn. Theo các tài liệu cũ để lại, ngoài sự hiểu biết sâu rộng về văn học, sử học và triết học như nhiều nhà văn nhà thơ nổi tiếng khác, đặc biệt, Nguyễn Gia Thiều còn là một người rất tinh thông nhiều bộ môn nghệ thuật. Chẳng hạn về âm nhạc, ông rất sở trường về các bài ca, bài tán. Ông là tác giả các bản Sơn trung âm và Sở từ điệu. Về hội họa, ông có bức tranh lớn Tống sơn đồ dâng vua xem được khen thưởng. Về trang trí, kiến trúc, ông là người được chúa Trịnh giao cho việc trang hoàng phủ chúa và điều khiển xây chiếc tháp ở chùa Tiên Tích… nhưng rất tiếc, những công trình nghệ thuật của Nguyễn Gia Thiều đến nay không còn một cái nào. Ngay sáng tác văn học là hoạt động nổi bật nhất của ông, các sử liệu cũ nói ông có đến hàng nghìn bài thơ chữ Hán trong hai tập Ôn Như thi tập (thượng và hạ) nay cũng không còn một bài nào. Về thơ Nôm, ngoài Cung oán ngâm khúc như mọi người đều biết, Nguyễn Gia Thiều cũng chỉ còn đôi ba bài thơ lẻ chép trong Tạp ký của Lý Văn Phức. Tuy nhiên có điều lạ là trong số ít ỏi, những sáng tác còn sót lại của nhà thơ, từ tác phẩm lớn mấy trăm câu như Cung oán ngâm khúc đến những bài thơ nhỏ chỉ có bốn câu (tứ tuyệt) như bài Cảnh trong vườn, Miếng tình, bài nào người ta cũng thấy rõ cái day dứt, dằn vặt của nhà thơ trước cuộc sống, bài nào cũng có dáng dấp như một thông điệp nhà thơ gửi cho cuộc đời, và cho những thế hệ mai sau. Tả thiên nhiên, trong vườn, mà ông viết:
Lép nhép vài hàng tỏi,
Lơ thơ mấy luống khương
Vẽ chi tèo teo cảnh
Thế mà cũng tang thương
Điều quan trọng ở đây không phải là vài hàng tỏi và mấy luống khương (gừng), mà là cái vẻ tang thương dâu bể của nó. Chính cải cảnh tượng “thương hải biến vi tang điền” của xã hội ông, của thời đại ông đã khắc sâu dấu ấn vào tâm hồn nhà thơ để rồi nó biểu hiện lại trên những hàng tỏi, những luống khương ấy. Và đây nữa, một bài “thơ tình” kỳ lạ của ông:
Khạc chẳng ra cho, nuốt chẳng vào
Miếng tình nghẹn lắm biết làm sao
Muốn kêu một tiếng cho to lắm
Rằng ối ai ôi, nó thế nào!
Trong Cung oán ngâm khúc, Nguyễn Gia Thiều đã từng: “muốn kêu một tiếng cho dài kéo căm” còn ở đây thì ông lại muốn kêu một tiếng cho to lắm. Kêu to để mọi người nghe thấy. Nhưng nghe thấy gì? – “Rằng ối ai ôi, nó thế nào!”. Cuối cùng Nguyễn Gia Thiều vẫn chẳng thể nào hiểu được, vẫn bế tắc. Đối với ông, giữa cái nhà thơ cảm thấy và cái nhà thơ nhận thấy có một khoảng cách không sao nối liền được, cho nên thường xuyên Nguyễn Gia Thiều sống trong tâm trạng day dứt, trớ trêu “khạc chẳng ra cho, nuốt chẳng vào” ấy.
Chúng ta biết Nguyễn Gia Thiều chào đời vào những năm phong trào nông dân khởi nghĩa rầm rộ nhất thế kỷ, khắp vùng đồng bằng bắc bộ, từ Thanh Hoá trở ra, không nơi nào không có khởi nghĩa. Cuộc này chưa tàn, cuộc khác đã bùng nổ: Lê Duy Mật, Hoàng Công Chất, Nguyên Tuyển, Nguyễn Cừ, Vũ Trác Oánh, Vũ Đình Dung, Đoàn Doanh Chấn, Tú Cao, v.v.và v.v. Các cuộc khởi nghĩa nhiều lúc vây hãm cả kinh thành của nhà nước phong kiến, cắt đứt liên hệ giữa các địa phương, nên triều đình ra lệnh nơi nào có “giặc” phải đốt lửa lên cho nơi khác biết để tiếp cứu. Chinh phụ ngâm ra đời trong những năm tháng này.
Lúc Nguyễn Gia Thiều lên năm lên sáu tuổi, cậu bé được đưa vào nuôi nấng và học tập trong phủ của chúa Trịnh, và về sau Nguyễn Gia Thiều cũng làm quan ngay trong phủ chúa. Năm 18 tuổi, Nguyễn Gia Thiều được cử giữ chức Hiệu Uý, Quản trung mã tả đội. Năm 22 tuổi thăng chỉ huy Thiêm sự, đến năm 26 tuổi thăng chỉ huy Đồng tri, rồi năm 30 tuổi thăng Tổng binh đồng tri. Thời gian này ông lập được một số công nên được phong tước Hầu, gọi là Ôn Như Hầu. Năm 1780, Nguyễn Gia Thiều 39 tuổi, ông lại được thăng chức Đô chỉ huy sứ. Đến năm 1782 thăng chức Tứ thủ hiệu điểm, Tư tả hiệu điểm, và có lệnh sai đi lưu thủ xứ Hưng Hóa. Như thế là suốt từ lúc ra đời cho đến lúc 40 tuổi, nhà thơ chủ yếu sống trong phủ chúa Trịnh. Đây là giai đoạn trong triều đình vua Lê chúa Trịnh có nhiều biến cố dữ dội, chứng tỏ sự sa đọa đến cùng cực của tập đoàn phong kiến thống trị đương thời. Nào Trịnh Cương lấn quyền vua Lê, rồi Trịnh Giang giết Lê Duy Phương, giết cả đại thần Nguyên Công Kháng, tham tụng Lê Anh Tuấn và quí thích Trương Nhương. Nào Trịnh Sâm giết em là Trịnh Đệ, rồi sau Hoàng Ngũ Phúc giết thái tử Lê Duy Vĩ. Cuối đời, Trịnh Sâm mê Đặng Thị Huệ, bỏ con trưởng lập con thứ, gây ra bè đảng trong phủ chúa, nạn kiêu binh hoành hành… Ngay việc Nguyễn Gia Thiều suốt mấy chục năm làm quan trong phủ chúa, hết sức được tin cậy, bây giờ tuy có được thăng chức, nhưng bị đẩy đi trấn ở một miền rừng núi xa xôi, nhiều người cho rằng điều đó chứng tỏ chúa Trịnh không còn tin ở Nguyễn Gia Thiều như trước. Và Nguyễn Gia Thiều biết như thế nên ông thường bỏ nhiệm sở về nhà riêng của mình ở Hồ Tây, vui chơi với bạn bè, làm thơ, uống rượu và bàn luận triết học. Phần lớn sáng tác của Nguyễn Gia Thiều ra đời trong giai đoạn này. Tiếp đến năm 1786, Nguyễn Huệ kéo quân ra Bắc diệt Trịnh, rồi năm 1789 lại kéo quân ra Bắc đại phá quân Thanh. Triều đình Lê Trịnh hoàn toàn sụp đổ. Nguyễn Gia Thiều hoang mang. Lúc đầu bỏ trốn lên Sơn Tây, nơi Nguyễn Điều anh ruột của Nguyễn Du và là con rể của Nguyễn Gia Thiều làm trấn thủ, sau ông lại chạy lên vùng rừng núi xứ Hưng Hóa. Vua Quang Trung lên ngôi, nhiều lần xuống chiếu kêu gọi đám quan lại cựu triều ra cộng tác với mình. Nhà Tây Sơn cho người đi tìm Nguyễn Gia Thiều. Bất đắc dĩ ông phải về lại Kinh, nhưng không chịu làm việc, suốt ngày chỉ uống rượu say tràn và giả cuồng. Có thể nói từ năm 1786 trở đi, Nguyễn Gia Thiều sống trong một tình trạng còn gay gắt, quyết liệt hơn trước. Ông buộc phải chứng kiến những cảnh tượng hết sức đau lòng đối với ông, như cảnh Lê Chiêu Thống dựa thế Nguyễn Hữu Chỉnh đốt sạch cơ nghiệp của chúa Trịnh xây dựng ngót hai trăm năm, cảnh Trịnh Tông chạy trốn Tây Sơn bị tên tuần huyện Trang phản bội phải cắn lưỡi tự tử, hay cảnh Lê Chiêu Thống cũng chạy trốn Tây Sơn bị Nguyễn Cảnh Thược lừa lấy sạch vàng bạc và sau đó lột luôn cả chiếc áo ngự bào vua đang mặc… Đối với bản thân Nguyễn Gia Thiều, mới ngày nào ông còn được sủng ái, nuông chiều là thế, mà bây giờ phải giả điên giả dại, uống rượu tiêu sầu để đợi ngày chết. Nguyễn Gia Thiều không tài nào hiểu được. Ông cảm thấy một sức mạnh gì huyền bí, ghê gớm đang chi phối tất cả:
Kìa thế cục như in giấc mộng,
Máy huyền vi mở đóng khôn lường
Nguyễn Gia Thiều mất ngày 9 tháng 5 năm Mậu Ngọ, tức ngày 22 tháng 6 năm 1798, thọ 58 tuổi.
Nguyễn Gia Thiều là người đã ý thức được một cách sâu sắc sự sụp đổ không phương cứu chữa của nhà nước phong kiến lúc bấy giờ và một trong những giá trị của Cung oán ngâm khúc chính là nhà thơ đã phản ánh được cái hiện thực ấy.
Nói chung, những tác phẩm ra đời trong giai đoạn nửa cuối thế kỷ XVIII, bằng nhiều góc độ khác nhau, và bằng nhiều cách khác nhau đã phản ánh cái hiện thực ấy, nhưng dường như phải đến Cung oán ngâm khúc người ta mới cảm thấy hết cái bi đát, dữ dội của hiện thực. Hơn tất cả những người khác, Nguyễn Gia Thiều đem đến cho văn chương một tiếng nói gay gắt, quyết liệt, đầy phẫn nộ và cũng đầy lo âu trong Cung oán ngâm khúc. Nhà thơ viết về cuộc đời người cung nữ, nhưng ông không dừng lại ở đó, mà muốn nhân đây mở rộng ra viết về cuộc đời nói chung lúc bấy giờ. Nhà thơ không nhằm dựng lên những bức tranh cụ thể về đời sống, mà chỉ phát biểu quan niệm của mình về đời sống, nhưng qua cách phát biểu của ông, người ta lại cảm nhận một cách sâu sắc, thấm thía không phải về một sự kiện riêng lẻ, cá biệt nào, mà về chính những cái bản chất nhất của nó. Về phương diện này, tác phẩm có phần gần gũi với Cung oán ngâm khúc là bài Văn chiêu hồn của Nguyễn Du. Đọc Văn chiêu hồn, không khí dữ dội không kém! Đây là thế giới của những hồn ma bóng quỷ “Trong trường dạ tối tăm trời đất”, những cô hồn lần lượt hiện về trông thiểu não thê lương. Nhà thơ nhận ra trong đám cô hồn ấy có đủ mọi hạng người, từ những em bé mồ côi mới lọt lòng, cô gái làm nghề mại dâm, người ăn mày, người lính, người tù, đến những kẻ “màn loan trướng huệ”, những ông tướng “bày binh bố trận”, những ông quan “ngọn bút son sống thác ở tay”… Trong Văn chiêu hồn không có những người cụ thể, nhưng Nguyễn Du còn nêu lên những thân phận cụ thể. Cái khác của Cung oán ngâm khúc là cả những thân phận cụ thể cũng không có. Sự khái quát của Nguyễn Gia Thiều trong Cung oán ngâm khúc mang một ý vị triết học, mặc dù nói cho đúng thì về mặt triết học, tư tưởng của Nguyễn Gia Thiều không phải có cái gì thật đặc sắc, không phải có cái gì cao hơn tư tưởng của Nho, của Đạo, Phật phổ biến trong thời đại ông. Nguyễn Gia Thiều gọi tất cả những điều ông không cắt nghĩa được bằng một cái tên chung là Định Mệnh, và ông cho Định Mệnh đã chi phối tất cả: “Vẻ chi ăn uống sự thường. Cũng còn tiền định khá thương lọ là”. Một chỗ khác ông lại bảo cuộc đời là giấc mộng: “Kìa thế cục như in giấc mộng”, và một chỗ khác nữa thì ông kêu gọi người ta đi ở ẩn hoặc đi tu: “Lấy gió mát trăng thanh làm bạn. Mượn hoa đàm đuốc tuệ làm duyên”… Phải nói rằng, nếu như Nguyễn Gia Thiều nhận thức cuộc sống đúng như những triết lý trên đây của ông thì có lẽ Cung oán ngâm khúc sẽ chẳng còn gì mấy, sẽ chẳng có bao nhiêu ý nghĩa.
Trong Cung oán ngâm khúc có tư tưởng triết học, nhưng đó không phải là phần giá trị của tác phẩm này. Nguyễn Gia Thiều bế tắc trong cách lý giải cuộc sống thì ông viện đến tư tưởng của Nho, Đạo, Phật để lý giải, cũng như ông yêu đời nhưng bị cuộc đời ruồng rẫy thì ông bảo quay lưng lại nó, đi tìm hạnh phúc ở chỗ khác, chứ trong thâm tâm mình, nhà thơ không phải là kẻ chán đời, không phải là người hư vô. Nguyễn Gia Thiều thông minh không phải trong sự lý giải, mà trong sự cảm nhận. Văn chương của ông có mang một ý vị triết học nào đó, nhưng ông là nhà thơ chứ không phải nhà triết học, và chính cái phần cảm nhận thơ ca ấy trong Cung oán ngâm khúc đã đem lại tính chất độc đáo, sâu sắc cho tác phẩm này. Dưới ngòi bút luôn luôn quằn quại, phập phồng của ông, xã hội nhà thơ đang sống giống như một đường hầm, và không có ánh sáng ở cuối đường. Con người không chờ đợi bất cứ một điều gì ở cái xã hội ấy.
Sẽ chẳng có gì tốt đẹp đến với họ cả:
Cuộc thành bại hầu cằn mái tóc,
Lớp cùng thông như đúc buồng gan,
Bệnh trần đòi đoạn tân toan,
Lửa cơ đốt ruột, dao hàn cắt da.
Và triền miên trong một ý nghĩ như thế nhà thơ đưa ra biết bao hình ảnh thê thảm, đen tối. Con người nào có nghĩa lý gì? Nó chỉ là thứ bèo bọt trôi nổi giữa bể khổ bến mê, là chiếc thuyền bào ảnh, là cái quay búng sẵn trên trời, là cái bóng nhạt nhòa trong buổi chiều tà hay giữa đêm đen tối. Và cuộc đời hoàn toàn không phải bữa tiệc vui cho tất cả mọi người, mà có biết bao nhiêu nỗi lo, nỗi sợ. Con người lo đói, lo rét, lo những chuyện “tử, sinh, kinh, cụ”. Nguyễn Gia Thiều có điều kiện hơn những nhà văn, nhà thơ khác là ông sống trong phủ Chúa Trịnh, cho nên ông thấy rõ trong sự sụp đổ chung ấy thì chiếc ngai vàng chẳng phải là cái gì vĩnh cửu, cung điện, lâu đài chẳng phải lúc nào cũng yên ổn, an lành, và đám công hầu khanh tướng chẳng phải bao giờ cũng có thể dương dương tự đắc. Mà nhiều khi trái lại, càng trèo cao thì càng ngã đau. Cố cho lắm thì thiệt càng nhiều. Chạy theo danh lợi sẽ chết vì danh lợi. Phú quí vinh hoa không phải phần thưởng cho kẻ bon chen. Tất cả đều là thứ mồi chài, thứ thuốc độc. Nguyễn Gia Thiều thấm thía với những cảnh:
Đền vũ tạ nhện giăng cửa mốc,
Thú ca lâu dễ khóc canh dài;
Đất bằng bỗng rấp chông gai,
Ai đem nhân ảnh nhuốm màu tà dương.
Mồi phú quý dử làng xa mã
Bả vinh hoa lừa gã công khanh;
Giấc Nam Kha khéo bất bình,
Bừng con mắt dậy thấy mình tay không.
Trong Cung oán ngâm khúc, sức mạnh câu thơ của Nguyễn Gia Thiều là ở cảm xúc, ở hình ảnh. Nhà thơ có phân tích nhưng không cốt làm người đọc nhận thức theo lối phân tích, mà chủ yếu để họ ý thức theo lối trực cảm. Nhiều lúc ông chỉ cần một vài hình ảnh mang tính chất tượng trưng hay một vài từ ngữ mang tính chất gợi cảm là có thể đưa người đọc đến thẳng với những điều ông muốn nói một cách nhanh chóng và trọn vẹn. Đọc những câu thơ như:
Đòi những kẻ thiên ma bách chiết,
Hình thì còn, bụng chết đòi nau;
Thảo nào khi mới chôn rau (nhau),
Đã mang tiếng khóc ban đầu mà ra.
Khóc vì nỗi thiết tha sự thế,
Ai bày trò bãi bể nương dâu.
Hay những câu như:
Trăm năm còn có gì đâu
Chẳng qua một nắm cổ khâu xanh rì.
thì không có một sự phân tích, lý giải, một sự miêu tả văn xuôi nào đạt được hiệu quả nghệ thuật cao như thế. Trong Cung oán ngâm khúc, nhất là đoạn nói về quan niệm nhân sinh của người cung nữ – mà ở đây ai cũng biết là của tác giả – những hình ảnh cứ liên tiếp, cái nọ chồng lên cái kia, tầng tầng lớp lớp, điệp điệp trùng trùng, rồi tất cả cùng qui về một điểm và chính từ cái tiêu điểm ấy, người ta nhận ra một cách sáng rõ tất cả những sự thật phũ phàng mà nhà thơ muốn nói. Trong quan niệm của Nguyễn Gia Thiều, mọi nhận thức có xu hướng muốn mở rộng, không còn biên giới của thời gian và không gian cụ thể, nhưng chính cái tình cảm tha thiết của nhà thơ đối với những điều ông nói lại tố cáo với mọi người rằng, những điều Nguyễn Gia Thiều đề cập đến trong Cung oán ngâm khúc không phải là muôn thuở, mà trước hết nó là thực trạng của những năm tháng nhà thơ đang sống và sáng tác. Ý nghĩa hiện thực trong quan niệm nhân sinh của Nguyễn Gia Thiều là ở đó.
<<>>
Nhưng Cung oán ngâm khúc không đơn thuần nói về quan niệm nhân sinh của Nguyễn Gia Thiều. Như đầu đề của tác phẩm – “Khúc ngâm về nỗi oán hờn trong cung cấm” – bình diện chính của tác phẩm là nói về thân phận đau khổ của người cung nữ.
Trong nền văn học cổ của Trung Quốc cũng như của ta trước đây, chủ đề “cung oán” là một chủ đề rất phổ biến. Bọn vua chúa phong kiến các nước phương Đông như Trung Quốc và Việt Nam trước đây vốn nổi tiếng là những kẻ ăn chơi, hưởng lạc. Trong cung cấm vàng son của chúng thường xuyên có hàng trăm, hàng nghìn, thậm chí hàng vạn cung nữ ngày đêm múa hát và làm trò mua vui cho chúng. Lịch sử Trung Quốc còn ghi lại những triều đại và những tên vua từng nổi tiếng ăn chơi như Tần Thủy Hoàng, Tùy Dương đế, Đường Huyền Tông, Nguyên Vũ Tông… Ở Việt Nam, vua chúa các triều đại cũng thường bắt chước cách ăn chơi của bọn vua chúa Trung Quốc, nuôi rất nhiều cung nữ. Từ đời Lý đến đời Trần, rồi đời Lê, đời nào trong cung cấm cũng có cung nữ. Nhưng đặc biệt từ khi nhà nước phong kiến bước vào giai đoạn suy vong, nghĩa là từ thời Lê Uy Mục, Lê Tương Dực trở đi thì việc ăn chơi của các vua chúa trong cung cấm mới trở nên gay gắt, và việc nuôi cung nữ mới trở thành một tai họa. Các tài liệu cũ ghi lại từ thời vua Lê chúa Trịnh số cung nữ được nuôi trong phủ chúa lên đến ba bốn trăm người, đấy là chưa kể số cung nữ của vua Lê. Ở Đàng trong, dưới thời chúa Võ Vương cũng có đến ba trăm cung nữ. Hoàng Lê nhất thống chí ghi lại hình ảnh vua Lê Hiển Tông, một người suốt ngày khoanh tay, rủ áo, chỉ nghĩ cách bày trò vui chơi với đám cung nữ của mình. Cả một đời làm vua bị chúa Trịnh chèn ép đủ đường, nhưng khi có người hỏi giá ai đó diệt được họ Trịnh trả quyền lại cho vua Lê thì nhà vua nghĩ thế nào? Lê Hiển Tông đã trả lời hết sức bất ngờ: “Trời sai nhà chúa phù ta, chúa gánh cái lo, ta hưởng cái vui, mất chúa tức là cái lo lại về ta, ta còn vui gì!”. Nhưng thực tế nhà chúa đâu phải “gánh vác cái lo” như Lê Hiển Tông nói, ở phủ chúa Trịnh việc ăn chơi cũng không kém gì ở cung vua Lê. Chính Trịnh Giang vì hoang dâm vô độ mà bị truất ngôi chúa. Trịnh Sâm cũng do ăn chơi quá nhiều mà mắc bệnh sợ nắng, gió, suốt ngày phải đóng cửa, thắp nến ở trong cung… Trong cuộc hành lạc triền miên của bọn vua chúa, số phận những người cung nữ thê thảm biết chừng nào! Họ như bông hoa, lúc còn hương sắc thì còn được yêu chiều, ngắm nghía, đến lúc hoa tàn, hương nhạt thì bị vất bên cạnh đường đi, không ai đoái hoài! Thậm chí có những ông vua đến lúc chết rồi vẫn còn bắt những cung nữ của hắn ôm mộ suốt đời. Cái thảm trạng ấy đối với những tâm hồn thi nhân dễ xúc động làm sao lại chẳng nảy lên những vần thơ thống thiết. Trong văn học Trung Quốc, nhất là vào thời Đường, nhiều bài thơ viết về cuộc đời những người cung nữ trong cung cấm của các nhà thơ đều là những bài thơ rất hay, rất xúc động. Chẳng hạn Lý Bạch có Bạch đầu ngâm, Đỗ Phủ có Lệ nhân hành, Bạch Cư Dị có Thượng Dương bạch phát nhân, Trường hận ca, Nguyên Vi Chi có Liên Xương cung từ. Ở Việt Nam, giai đoạn Cung oán ngâm khúc của Nguyễn Gia Thiều ra đời cũng có một số nhà thơ khác viết về đề tài này như Nguyễn Hữu Chỉnh có Cung oán thi, Nguyễn Huy Lượng có Cung oán thi, Vũ Trinh có Cung oán thi tập, Nguyễn Bạch Liên có Cung oán quốc âm thi… Tất cả có đến mấy trăm bài. Nhưng sâu sắc hơn cả, thành công hơn cả, thì phải nói đến Cung oán ngâm khúc của Nguyễn Gia Thiều. Điều đó có phần do tài năng của nhà thơ, cũng có phần do hoàn cảnh, do vốn sống của ông quyết định.
So với tất cả những nhà thơ khác viết về đề tài này, Nguyễn Gia Thiều là người có thuận lợi hơn cả. Chính ông đã sống trong phủ chúa Trịnh, đã chứng kiến những cảnh tượng ấy. Đối với nghệ thuật vốn sống trực tiếp bao giờ cũng đem lại cho người nghệ sĩ những cảm xúc mới mẻ, tinh khôi và đậm nét hơn cả. Thêm vào đó. Nguyễn Gia Thiều viết về người cung nữ đồng thời cũng là viết về tâm sự của cá nhân mình. Người cung nữ lúc đầu được vua yêu về sau bị ruồng bỏ, thì Nguyễn Gia Thiều lúc đầu cũng được nhà vua tin cậy, về sau mới bị đày đi xa… hai cảnh ngộ thực ra không hoàn toàn giống nhau, nhưng người trong cảnh lại cảm thấy như có chung một tâm sự: tâm sự của những người bị rẻ rúng. Ngòi bút của Nguyễn Gia Thiều tìm thấy nguồn cảm xúc dồi dào không phải chỉ từ khách thể bên ngoài, mà chính từ nội tâm của mình nữa. Cho nên Cung oán ngâm khúc mang một dáng vẻ riêng của nó. Có điều cách bắn một mũi tên nhắm vào hai đích như thế không phải chỉ có ưu điểm mà còn có những hạn chế nhất định. Trong Cung oán ngâm khúc nhiều lúc có cảm giác Nguyễn Gia Thiều nói về bản thân mình đúng hơn là nói về người cung nữ, nhiều lúc có cảm giác ông đứng ra mô tả tâm trạng người cung nữ theo quan niệm của ông đúng hơn là người cung nữ bộc bạch tâm trạng của mình. Rõ ràng Cung oán ngâm khúc không giữ được tính toàn vẹn, tính nhất quán trong kết cấu nghệ thuật, cho nên tác phẩm có giảm đi sức truyền cảm một phần nào. Người ta khó có thể hình dung được người cung nữ dù có kiêu căng về nhan sắc của mình như thế nào chăng nữa, lại có những ý nghĩ kỳ quặc như:
Bóng nga lấp ló trong mành,
Cỏ cây cũng muốn nổi tình mây mưa.
Hay tự hào về tài năng của mình, dù có ngoa ngoắt đến đâu cũng không thể vỗ ngực tự xưng “Câu cẩm tú đàn anh họ Lý, nét đan thanh bậc chị chàng Vương”. Rồi còn tài đàn, tài vẽ, tài rượu nữa – “Cờ tiên rượu thánh ai đang. Lưu Linh, Đế Thích là làng tri âm” – ở đây người ta chỉ có thể nghĩ đến cái kiêu căng của chính tác giả, một nhà thơ nhưng cũng rất sành về hội họa, về âm nhạc, và sành cả về uống rượu, chơi cờ… Mà không phải chỉ nói về tài sắc, ngay cách phản ứng lại những điều ngang trái trong cung cấm của người cung nữ, như một nhà nghiên cứu đã nói, vẫn có mang dáng dấp cách phản ứng của tác giả nhiều hơn. Những câu thơ như:
Dang tay muốn dứt tơ hồng,
Bực mình muốn đạp tiêu phòng mà ra.
Thì rõ là thể hiện một ý chí phản kháng, nhưng tính chất quyết liệt của nó có cái gì giống với một võ tướng, hơn là cử chỉ của một người cung nữ chân yếu tay mềm.
Chính do sự “gán ghép” trên đây mà một số người phân vân phải chăng Cung oán ngâm khúc chỉ là cách biểu hiện tâm sự của Nguyễn Gia Thiều chứ không phản ánh một hiện thực khách quan nào cả. Thực ra kết luận như thế có phần quá đáng. Đúng là trong Cung oán ngâm khúc, Nguyễn Gia Thiều có tự thể hiện mình trong khi thể hiện người cung nữ, nhưng phần chủ yếu vẫn là thể hiện người cung nữ. Trong Cung oán ngâm khúc số phận người cung nữ vẫn là một bằng chứng không thể chối cãi được về cuộc sống hưởng lạc, đồi bại, về sự phũ phàng không tình nghĩa của bọn vua chúa lúc bấy giờ. Người cung nữ trong tác phẩm của Nguyễn Gia Thiều lúc mới vào cung trẻ đẹp “đoá lê ngon mắt cửu trùng”, được chăm chút nâng niu đến nỗi nàng cảm thấy nhan sắc của mình có quyền lực làm nghiêng đổ cả thiên hạ:
Má hồng không thuốc mà say.
Nước kia muốn đổ, thành này muốn long.
Nhưng với bản chất là người lương thiện, nàng không hề muốn lợi dụng sức mạnh ấy. Giống như bao nhiêu cô gái trong trắng khác, nàng chỉ nghĩ về một tình yêu sắt son, chung thuỷ:
Chữ đồng lấy đấy làm ghi,
Mượn điều thất tịch mà thề bách niên
Những ngày đầu sống trong cung đối với nàng như hứa hẹn một tương lai tốt đẹp. Nàng không lo lắng gì cả, mà mừng thầm cho mình “cá nước duyên may”, và hy vọng “càng lâu càng lắm điều hay”. Nhưng rồi dần dà, những ảo mộng tan vỡ, cuộc sống phơi trần tính chất giả dối, xấu xa của nó. Trong cung cấm làm gì có sự công bằng và tình nhân ái. “Đấng quân vương” làm gì có kẻ chung tình, chung thủy. Trong con mắt người cung nữ, bấy giờ họ là những kẻ bất nhân, hưởng lạc, những kẻ “chơi hoa cho rữa nhụy dần lại thôi”. Nguyễn Gia Thiều đã khai thác sâu sắc tâm trạng bi kịch của người cung nữ, vừa chua chát lại vừa căm phẫn, vừa luyến tiếc, lại vừa đay nghiến, vừa hối hận, bi quan lại vừa thấp thỏm chờ đợi. Cái nọ đan chéo với cái kia, và để cho tâm trạng bi kịch ấy nổi bật, nhà thơ có dụng ý đối chiếu giữa quá khứ với hiện tại, giữa thực trạng với ước mơ, giữa tình với cảnh… “tình trong cảnh ấy, cảnh trong tình này”. Nguyễn Gia Thiều dựng lên trong tác phẩm của mình một cuộc sống han rỉ của con người sống trong cô đơn, lẻ loi. Ngày trước vua hay đến với người cung nữ bằng xe dê, bằng phượng liễn. Bây giờ lâu ngày vua không đến nữa, nên những nơi “ngấn phượng liễn” và “dấu dương xa” cỏ đã mọc lên “quanh co” “lỗ chỗ”. Phòng cung nữ ở được dát hồ tiêu cho ấm thì bây giờ vắng bóng vua, có cảm giác “lạnh ngắt như đồng”. Trong phòng, đôi “gối du tiên” của vợ chồng trong đêm tân hôn còn đó, mà nàng thì sống thui thủi một mình nên nó cũng lạnh lẽo “tuyết đóng” “giá đông”. Xa xa tiếng chuông chùa vẳng lên không trung nghe rầu rĩ, buồn thảm, và ở gần nàng thì mùi hương, ngọn đèn cũng mang một mùi vị, một ánh sáng khác thường:
Mùi hương tịch mịch, bóng đèn thâm u.
Tất cả những cảnh ấy rất hợp với tình người cung nữ:
Một mình đứng tủi ngồi sầu
Đã than với nguyệt, lại rầu với hoa.
Nguyễn Gia Thiều đã học tập khai thác nội tâm nhân vật trong Chinh phụ ngâm của Đặng Trần Côn và Đoàn Thị Điểm để miêu tả nội tâm của người cung nữ. Trong cuộc sống lẻ loi chiếc bóng của mình, người cung nữ sợ nhất là năm tháng sẽ trôi qua, tuổi xuân sẽ một đi không trở lại, thì làm sao còn hy vọng có được hạnh phúc. Người chinh phụ trong Chinh phụ ngâm lo nhất là lo cho tuổi già:
Kia Văn Quân mỹ miều thuở trước,
E đến khi đầu bạc mà thương
Mặt hoa nọ gã Phan Lang
Sợ khi mái tóc điểm sương cũng ngừng
Nghĩ nhan sắc đương chừng hoa nở
Tiếc quang âm lần lữa gieo qua
Nghĩ mệnh bạc, tiếc niên hoa
Gái tơ mấy chốc xảy ra nạ dòng
Nỗi lo ở đây có cái chua xót, đau đớn, nhưng không bẽ bàng, bởi vì dù sao trong nỗi lo của mình, người chinh phụ không cảm thấy cô đơn, nàng vẫn nghĩ đến sự đồng điệu đầy ân tình của chồng nàng. Còn người cung nữ thì không hề như vậy. “Chồng nàng” ở đây lại là nguồn gốc của mọi tai họa xảy ra đối với nàng, cho nên trong nỗi lo của người cung nữ, bên cái chua xót lại có cả cái mỉa mai, đắng cay, tủi nhục:
Hoàng hôn thôi lại hôn hoàng
Nguyệt hoa thôi lại thêm buồn nguyệt hoa
Buồn vì nỗi nguyệt tà ai trọng
Buồn vì điều hoa rụng ai nhìn…
Và Nguyễn Gia Thiều đẩy cái tâm trạng ấy lên một tình thế mới với một kịch tính cao hơn: Vì lo sợ tuổi già nên người cung nữ luôn luôn khắc khoải trông đợi vào tình thương và sự đoái hoài của bọn vua chúa. Ở đây người cung nữ rơi vào tình trạng thấp thỏm, phập phồng và cuối cùng là thất vọng, bế tắc! Nguyễn Gia Thiều đã khai thác tính chất bi kịch không phải trên một cục diện lớn, mà ngay trong từng cử chỉ, từng chi tiết. Hy vọng và thất vọng ở đây không có khoảng cách mà nó theo liền nhau như hình với bóng:
Khi trận gió lung lay cành bích
Nghe rì rào tiếng mách ngoài xa
Mơ hồ nghĩ tiếng xe ra
Đốt phong hương hả mà hơ áo tàn
Ai ngờ tiếng dế than ri rỉ
Giọng bi thu gọi kẻ cô phòng
Vắng tanh nào thấy vân mòng
Hơi thê lương lạnh ngắt song phi huỳnh
Khi bóng nguyệt chênh vênh trước ốc
Nghe vang lừng tiếng giục bên tai
Dè chừng nghe tiếng tiểu đòi
Nghiêng bình phấn mốc mà nhồi má nheo
Ai ngờ tiếng quyên kêu ra rả
Điệu thương xuân khóc ả sương khuê
Lạnh lùng nào thấy ỏ ê
Khí bi thu sực nức hè lạc hoa
Có thể nói chính trải qua những bi kịch gay gắt như thế mà dần dần người cung nữ mới ý thức hết bản chất tàn bạo của cuộc sống trong cung cấm:
Miếng cao lương phong lưu nhưng lợm
Và bây giờ nàng mới thực sự nhận ra vẻ đẹp của cuộc sống dân dã, tuy có nghèo khổ, nhưng rất giàu tình người. Nàng ao ước một gia đình chồng vợ đề huề, con cái đông vui ấm cúng:
Cùng nhau một giấc hoành môn
Lau nhau ríu rít cò con cũng tình
Ước mơ hết sức đơn sơ, giản dị nhưng làm sao thực hiện được trong hoàn cảnh của nàng? Xưa nay có bao giờ người cung nữ được trở về để xây dựng gia đình. Nguyễn Gia Thiều để cho nàng ao ước cũng là cách để cho nàng ý thức một cách thấm thía hơn cảnh ngộ của mình. Nhà thơ dồn tâm trạng của người cung nữ đến tận cùng của sự bế tắc, nhằm qua đó làm nổi rõ tính chất phi lý của thực tại, đồng thời tạo điều kiện cho sự bộc lộ một thái độ phản kháng quyết liệt.
Có thể nói trong nền văn học cổ của ta, ít có tác phẩm nào sự phản ứng đối với thực tại – mà ở đây thực tại là cuộc sống cung cấm, là chuyện của vua chúa – lại gay gắt quyết liệt như Cung oán ngâm khúc. Ngòi bút phê phán của Nguyễn Gia Thiều hầu như không có sự né tránh, kiêng nể. Điều đó có thể được giải thích một phần bằng địa vị của nhà thơ trong xã hội. Cái thế cháu của chúa Trịnh quả có làm cho Nguyễn Gia Thiều mạnh dạn hơn những nhà thơ khác trong thái độ phê phán. Nhưng trong Cung oán ngâm khúc sự phê phán gay gắt còn do chính tình thế của tác phẩm đòi hỏi. Những xung đột không có khả năng được hoá giải tất yếu phải bùng nổ. Người cung nữ trong Cung oán ngâm khúc không chỉ muốn kêu một tiếng cho dài kẻo căm, mà còn vạch trần bản chất trụy lạc, vô nhân đạo của bọn vua chúa. Những câu thơ đả kích của Nguyễn Gia Thiều chứa chất sự hờn căm, uất hận đến cao độ:
Đuốc vương giả chí công là thế
Chẳng soi cho đến khoé âm nhai
Muôn hồng nghìn tiá đua tươi
Chúa xuân nhìn hái một hai bông gần
Hay:
Trên chín bệ có hay chăng nhẽ
Khách quần thoa mà để lạnh lùng
Thù nhau ru hỡi đông phong
Góc vườn dãi nắng cầm bông hoa đào
Nhưng đến kết thúc khúc ngâm, người ta có cảm giác những mâu thuẫn gay gắt ở trên như dịu lại. Người cung nữ của Nguyễn Gia Thiều không tiếp tục lên án thái độ bất công của bọn vua chúa nữa. Nhà thơ vẽ ra khung cảnh một đêm mưa gió lạnh lùng, những giọt nước rơi thánh thót trên tàu lá chuối. Bóng đom đóm bay thấp thoáng ngoài tường. Trong phòng, bên ngọn đèn xanh lờ mờ, người cung nữ nghĩ đến thời gian trôi nhanh như bóng câu qua cửa sổ, đã tự mình an ủi:
Bóng câu thoáng bên cành mấy nỗi
Những hương sầu phấn tủi bao xong
Phòng khi động đến cửu trùng
Giữ sao cho được má hồng như xưa…
Đã nhiều lần thất vọng, bế tắc, thế mà cuối cùng người cung nữ vẫn trở lại với tâm trạng chờ đợi! nhưng cái hy vọng ở đây mới mong manh làm sao: Phòng khi động đến… thì thực tế sẽ chẳng bao giờ động đến cả. Như thế có nghĩa là người cung nữ chờ đợi trong mỏi mòn, tuyệt vọng. Khúc ngâm kết thúc, xung đột không nổi lên gay gắt trên bề mặt, mà nó chìm xuống dưới bề sâu, âm hưởng tố cáo của khúc ngâm không vì sự thay đổi cách biểu hiện mà bị giảm sút.
<<>>
Cung oán ngâm khúc ra đời đã góp thêm một tiếng nói tố cáo xã hội phong kiến bất công, tàn bạo, đồng thời cũng góp thêm một tiếng nói mạnh mẽ đòi quyền sống, quyền được yêu, quyền có hạnh phúc cho con người trong cuộc đời này.
Cung oán ngâm khúc và bản dịch Chinh phụ ngâm giống như hai chị em, nhưng cá tính của hai người khác nhau một trời một vực. Đọc bản dịch Chinh phụ ngâm người ta thấy mọi cái đều trong sáng, giản dị, dễ hiểu. Người đọc có cảm giác tác giả đã chọn được con đường ngắn nhất để đến với mình, vì vậy mà bản dịch Chinh phụ ngâm được phổ biến hết sức rộng rãi. Trong khi đó đọc Cung oán ngâm khúc người ta có cảm giác ngược lại. Tác phẩm không dễ hiểu một chút nào, Nguyễn Gia Thiều không có dụng ý viết cho dễ hiểu, mà ông cố viết một cách uyên bác. Dường như không có nhiều lắm những câu thơ có thể hiểu ngay, lãnh hội được ngay trong Cung oán ngâm khúc. Nói chung đọc Cung oán ngâm khúc là phải hiểu từ Hán Việt, hiểu điển cố. Trong Cung oán ngâm khúc có những câu thơ được tác giả cấu tạo hầu hết bằng điển cố và từ Hán Việt. Tính chất quý tộc là một đặc điểm của tác phẩm này. Nguyễn Gia Thiều là một nhà thơ xuất thân quí tộc, ông viết về một đề tài có tính chất quí tộc và nghệ thuật của ông cũng tiêu biểu cho một nghệ thuật có tính chất quí tộc. Trong tác phẩm của ông, chỗ nào cũng trang nhã đĩnh đạc, chỗ nào cũng ngào ngạt mùi hương, cũng lóng lánh màu sắc, cũng đẽo gọt chạm trỗ. Nào những vách quế, những vũ y, những xiêm nghê, những gối loan, chăn cù, rồi những sân đào lý, nền đỉnh chung, đệm hồng thúy, bóng bội hoàn, đỉnh trầm hương, ngấn phượng liễn, dấu dương xa… tất cả đều hết sức xa lạ với cuộc đời thường. Chất liệu mà nhà thơ sử dụng để cấu tạo nên tác phẩm là thứ chất liệu “cao cấp”, và đồ án xây dựng của ông cũng cùng một mô hình với đề án xây dựng các cung điện, đền đài, chùa tháp… Tuy nhiên, trong cái phạm trù quí tộc này phải nói Cung oán ngâm khúc là sản phẩm của một tài năng lớn.
Một điều hết sức đáng quý, và có thể là bài học chung cho tất cả những người sáng tác là viết Cung oán ngâm khúc, Nguyễn Gia Thiều đã lao động một cách hết sức công phu và nghiêm túc. Trong Cung oán ngâm khúc từ câu đầu đến câu cuối, không có một câu nào nhà thơ tỏ ra non tay, gượng ép hay cẩu thả. Người ta có cảm giác trước khi viết một câu, một chữ nào, nhà thơ đều đắn đo, suy nghĩ một cách hết sức cẩn thận. Những chữ nhà thơ dùng trong Cung oán ngâm khúc giống như những họa tiết của một bức tranh và trước khi đặt bút trên giấy, nhà họa sĩ đã ngắm nghía, nghĩ ngợi đặt nó vào chỗ nào cho bố cục của bức tranh chặt chẽ, gây được ấn tượng, phát huy được tác dụng cao nhất. Nói chung nghệ thuật phong kiến phương Đông hết sức tinh vi trong chi tiết và Nguyễn Gia Thiều trong Cung oán ngâm khúc có thể coi là một biểu hiện của sự tinh vi ấy trong nghệ thuật ngôn ngữ. Đối với nhà thơ, đã hình dung Đấng tạo hóa là một đứa trẻ, và ông gọi là “Trẻ tạo hóa”, thì hành động của nó phải là “đành hanh” – Trẻ tạo hóa đành hanh quá ngán. Cũng như vậy, hình dung sự say mê sắc đẹp còn ngây ngất hơn cả người ta say thuốc thì nhà thơ viết: má hồng không thuốc mà say, và câu tiếp theo: Nước kia muốn đổ, thành này muốn long. Câu này lấy ý từ một câu văn cổ của Trung Quốc: “Nhất tiếu khuynh nhân thành, tái tiếu khuynh nhân quốc”. Quốc là quốc gia, là nước, thành là thành trì, là bức thành. Nhà thơ đã dùng nước thay cho quốc, nên câu trên ông viết: Nước kia muốn đổ, thành này muốn long: nước đổ, thành long, đó là những cặp từ đi sóng đôi với nhau. Có biết bao nhiêu dẫn chứng như thế trong Cung oán ngâm khúc! Chữ nghĩa của Nguyễn Gia Thiều trong Cung oán ngâm khúc không trôi chảy tuồn tuột, mà móc xích vào nhau bằng những chốt, những mộng hết sức tinh vi, vững chắc. Trong Cung oán ngâm khúc chữ này hô thì chữ kia ứng, chữ này đối thì chữ kia đáp, chữ này vay thì chữ kia trả… Phú quí là thứ “mồi” thì phải dùng để “nhử”. Vinh hoa là thứ “bả” thì nó phải dùng để “lừa”:
Mồi phú quí nhử làng xa mã
Bả vinh hoa lừa gã công khanh
Giấc Nam kha khéo bất bình
Bừng con mắt dậy thấy mình tay không
Cũng giống như vậy, để đạt được danh lợi, người ta phải chạy vạy nhục nhã, phải dầu dãi phong trần, nên tác giả viết:
Gót danh lợi bùn pha sắc xám
Mặt phong trần nắng rám mùi dâu
Nhưng rồi được cái gì? – Sẽ chẳng được gì cả:
Nghĩ thân phù thế mà đau
Bọt trong bể khổ bèo đầu bến mê
Sử dụng từ ngữ một cách tinh vi chặt chẽ đến thế, người ta dễ nghĩ nhà thơ là một nghệ sĩ thiên về hình thức, là một người hình thức chủ nghĩa. Nhưng không phải. Cái tài của nhà thơ chính là ở chỗ về mặt hình thức, ông hết sức tinh vi, hết sức trau chuốt, nhưng tất cả những điều ấy không hề làm hạn chế sự biểu hiện nội dung mà chính nó lại là những phương tiện biểu hiện nội dung một cách tốt nhất. Miêu tả người con gái đẹp: văn học cổ thường so sánh với hoa. Nguyễn Gia Thiều cũng so sánh như thế, nhưng ở ông khi còn là một cô gái trẻ thì nhà thơ không gọi là hoa nói chung, mà là “nụ hoa”: Nụ hoa chưa mỉm miệng cười. Và khi nói về một người đẹp nhưng sống tẻ nhạt, cô đơn như người cung nữ trong cung cấm thì ông cũng so sánh với hoa nhưng lại viết Vườn Thượng Uyển hoa cười với nắng. Câu thơ có hoa có nắng, có tiếng cười mà đọc lên nghe buồn ảo não. Thông thường, hoa phải đi với ong, với bướm. Có ong bướm hoa mới thụ phấn, kết quả. Nhưng vắng ong bướm hoa trong vườn Thượng Uyển phải cười với nắng. Cảnh ngộ thật là trớ trêu, nghiệt ngã. Ngôn ngữ của Nguyễn Gia Thiều ước lệ mà cô đúc, chắt lọc chứ không sáo mòn. Trong chữ của ông, bao giờ cũng có nghĩa, và chữ nghĩa của ông hết sức độc đáo, táo bạo. Đâu có dễ dàng khi viết những câu thơ:
Tiếng giục giã cười già ra gắt
Mùi quyền môn thắm rất nên phai
Đây là một nhận xét, đồng thời cũng là một khái quát, một triết lý. Trong Cung oán ngâm khúc nhà thơ rất thích dùng từ “cái”. Có đến trên một chục trường hợp nhà thơ dùng từ “cái” đi liền với một danh từ. Trong tiếng Việt, thông thường danh từ đi liền với từ cái là thứ danh từ chỉ một vật cụ thể. Một số trường hợp Nguyễn Gia Thiều đã dùng như vậy. Chẳng hạn:
Cái quay búng sẵn trên trời
Mờ mờ nhân ảnh như người đi đêm
Hay:
Cái gương nhân sự chiền chiền
Liệu thân này có cơ thiền phải nao.
Nhưng không ít trường hợp từ “cái” ông dùng mang một ý nghĩa rất sáng tạo, không chỉ đối với ngôn ngữ ở thời đại ông, mà đối với ngôn ngữ hiện nay nữa. Đấy là khi ông dùng nó với những danh từ trừu tượng trong những trường hợp rất bất ngờ. Chẳng hạn ông gọi “phong ba”, “nỗi buồn”, “sự u sầu” đều bằng “cái” tất cả:
Cái phong ba khéo cợt phường lợi danh
Hay:
Cái buồn này ai dễ giết nhau
Giết nhau chẳng cái lưu cầu
Giết nhau bằng cái ưu sầu độc chưa!
Và trong trường hợp sau đây thì mặc dầu từ “cái” vẫn đi liền với một danh từ cụ thể như thường thấy, nó vẫn rất độc đáo bởi vì nó làm cho danh từ cụ thể ấy biến đổi, biến chất, nhà thơ nói:
Nghĩ mình lại ngán cho mình
Cái hoa đã trót gieo cành biết sao!
Vẫn so sánh mình với hoa, nhưng không phải “đoá hoa”, “bông hoa”, mà là cái hoa, thì có nghĩa là nó chẳng còn quí hóa gì nữa, vì vậy nhà thơ mới viết: cái hoa đã trót gieo cành biết sao!. Phải là “cái hoa” thì mới “trót” được, chứ nếu là “đoá hoa” thì không thể viết như thế. Cũng giống như Hồ Xuân Hương, bà không gọi mình là “phận hồng nhan” hay “khách hồng nhan”, mà gọi là “cái” hồng nhan, nên nhà thơ mới viết là “trơ cái hồng nhan với nước non”. Phải “cái” hồng nhan thì mới trơ ra được.
Nguyễn Gia Thiều chú ý đến từ ngữ, đến chi tiết, đồng thời ông cũng rất chú ý đến tiết tấu, đến nhạc điệu, đến cấu trúc chung của bài thơ. Dường như sự thông thạo về âm nhạc, kiến trúc của tác giả quả có góp phần đắc lực vào sự thành công của tác phẩm này. Đọc Cung oán ngâm khúc có thể người ta chưa hiểu hết ý tứ của nhà thơ, nhưng dễ dàng bị lôi cuốn bởi nhạc điệu và những tiết tấu của câu thơ. Cung oán ngâm khúc không được phổ biến rộng rãi nhưng trong dân gian vẫn có những người thuộc lòng nhiều đoạn dài của tác phẩm này, mặc dù không phải họ đã hiểu hết ý nghĩa của nó. Câu thơ của Nguyễn Gia Thiều đọc lên có cảm giác như có nhịp mạnh, nhịp yếu, có bổng, có trầm, khi khoan khi nhặt. Cái cảm giác được nhiều nhà nghiên cứu gọi là “nhục cảm” hay “nghệ thuật biểu hiện bằng cảm giác”, trong Cung oán ngâm khúc không phải chỉ biểu hiện qua những từ ngữ gợi lên những cảm xúc vật chất (điều này thể hiện khá rõ) mà còn do chính cái tiết tấu nhiều khi dồn dập, hối hả, hổn hển của nó nữa. Cả một đoạn dài người cung nữ hồi tưởng lại những giây phút hoan lạc trong cung cấm là biểu hiện tập trung nhất cho nghệ thuật này. Nguyễn Gia Thiều nhiều khi vì âm hưởng, vì tiết tấu của câu thơ mà ông đảo lộn trật từ của từ, của ngữ pháp thông thường, do đó ngữ pháp trong câu thơ Nguyễn Gia Thiều cũng có những cái thú vị, độc đáo riêng của nó. Ông có thể viết:
Ngày sáu khắc mong tin nhạn vắng
Đêm năm canh tiếng lóng chuông rền
Hay:
Hoàng hôn thôi lại hôn hoàng
Nguyệt hoa thôi lại thêm buồn nguyệt hoa
Cung oán ngâm khúc viết bằng thể song thất lục bát, Nguyễn Gia Thiều cũng giống Đoàn Thị Điểm, hay đúng hơn, kế thừa Đoàn Thị Điểm trong việc khai thác triệt để sở trường của thể thơ này. Song thất lục bát và lục bát đều là những thể thơ thuần tuý dân tộc, bắt nguồn từ văn học dân gian. Nhưng lục bát nhịp điệu linh hoạt hơn, vì vậy nó thích hợp với thể loại truyện thơ, còn song thất lục bát âm điệu thường đều đều, bằng lặng, có những chu kỳ nên nó thích hợp để diễn tả những tâm trạng buồn, đứng yên, tĩnh lặng của ngâm khúc. Một khổ thơ song thất lục bát gồm có hai câu bảy chữ, một câu sáu chữ và một câu tám chữ. Hai câu bảy bao giờ cũng ngắt nhịp ba – bốn, tiếp theo câu sáu và câu tám nhịp không cố định, nhưng đến khổ sau, hai câu bảy, nhịp lại cố định, và cứ thế trở đi trở lại mãi, nên bài thơ song thất lục bát càng dài càng dễ có cảm giác đơn điệu và buồn. Mặt khác, Nguyễn Gia Thiều sử dụng thể song thất lục bát còn vì cấu trúc của thể thơ này rất phù hợp với cấu trúc của nghệ thuật quí tộc, nghệ thuật phong kiến ở tính chất cân đối, đối xứng của nó. Có thể nói đặc điểm bao trùm của nghệ thuật phong kiến phương Đông là tính chất cân đối và đối xứng. Cái đẹp trong nghệ thuật cổ phương Đông không phải chỉ là sự hài hòa mà còn là sự đối xứng, hay là sự hài hoà của những cái đối xứng. Bất cứ một công trình kiến trúc cổ nào dường như đều bao gồm hai phần ứng chiếu đối xứng với nhau một cách chặt chẽ. Đối với Nguyễn Gia Thiều, một người đã từng phụ trách việc trang hoàng phủ chúa và xây tháp ở chùa Tiên Tích thì một tác phẩm văn học phải là một công trình kiến trúc bằng từ ngữ. Nhà thơ đã đem nguyên lý của kiến trúc phong kiến để xây dựng nên tác phẩm của mình. Ông đã sử dụng triệt để khả năng đối xứng của thể thơ song thất lục bát và còn nhân nó lên trong cấu trúc chung của toàn tác phẩm. Những câu song thất trong Cung oán ngâm khúc phổ biến là đối nhau từng cặp một, còn câu lục và câu bát thì nhiều trường hợp cũng chia thành yếu tố đối nhau, và không phải chỉ đối trong một khổ, mà khổ trên đối với khổ dưới, rồi mấy khổ liên tiếp đối nhau. Phải nhận rằng, làm được như thế, nhà thơ – kiến trúc sư ở đây tỏ ra rất công phu, nhưng công trình xây dựng lên cố nhiên sẽ có cảm giác nặng nề chứ không tranh thoát. Đọc Cung oán ngâm khúc người ta có ý nghĩ như đi vào một ngôi đền cổ là vì vậy.
—-
* Bài viết giới thiệu Nguyễn Gia Thiều và Cung oán ngâm khúc do Nhà xuất bản Văn học xuất bản năm 1986, trong tủ sách “Văn học cổ cận đại Việt Nam”.
[1] Đến nay với những cứ liệu đã phát hiện được nhiều người có xu hướng khẳng định bản dịch Chinh phụ ngâm hiện hành là của Phan Huy Ích chứ không phải của Đoàn Thị Điểm. Nhưng bản dịch đầu tiên của Đoàn Thị Điểm theo sự phán đoán khá có cơ sở của ông Hoàng Xuân Hãn trong cuốn Chinh phụ ngâm bị khảo, cũng là một bản dịch trong thể thơ song thất lục bát. Bản dịch này mặc dù không được hay như bản dịch hiện hành, nhưng nó thực sự có một ảnh hưởng quan trọng trong đời sống văn học lúc bấy giờ. Chính vì có bản dịch Chinh phụ ngâm của Đoàn Thị Điểm bằng song thất lục bát, nên sau đó mới có Cung oán ngâm khúc của Nguyễn Gia Thiều bằng song thất lục bát. Và sau khi có Chinh phụ ngâm và Cung oán ngâm khúc viết bằng thể song thất lục bát, có một loạt những tác phẩm khác mới có tính chất ngâm khúc viết bằng song thất lục bát.
[2] Bản dịch Tỳ bà hành trước đây thường nói là Phan Huy Vịnh dịch. Nhưng gia phả họ Phan Huy thì ghi rõ Phan Huy Thực dịch. Ông là con Phan Huy Ích và là thân sinh của Phan Huy Vịnh.
[3] Trước đây trong nhiều sách, trong đó có cuốn Văn học Việt Nam nửa cuối thế kỷ XVIII, nửa đầu thế kỷ XIX (2 tập), Nhà xuất bản Đại học và Trung học chuyên nghiệp của chúng tôi đã nói ông thân sinh của Nguyễn Gia Thiều ở Thuận Thành, chúng tôi mới được biết gần đây cũng như theo Ôn Như Hầu tiểu sử, đăng trên tạp chí Nam Phong năm thứ 13 (1927) thì ông thân sinh của Nguyễn Gia Thiều là Nguyễn Gia Ngô chứ không phải là Nguyễn Gia Cư. Xin đính chính lại.
[4] Ở nhà thờ của học Nguyễn Gia Thiều ở Liễu Ngạn trước đây có tấm biển lớn đề bốn chữ “Đống trụ tướng môn” (cột nhà vua, cửa nhà tướng) và đôi câu đối nói về họ này nối đời làm quan to, được phong tước lớn như sau:
Miêu sơn ngọc khoán duy do, Đinh Lý Trần Lê giai hiển hoạn;
Liêu Ngạn kim chi phát mậu Công hầu bá tử tập vinh phong
(Miêu sơn khoan ngọc sáng tươi, Đinh Lý Trần Lê đều hiển đạt; Liễu Ngạn cành vàng nảy nở, Công hầu bá tử tiếp vinh phong) – Miêu Sơn tức Gia Miêu, tỉnh Thanh Hóa, quê cũ của họ này. Liễu Ngạn là làng Liễu Ngạn ở Thuận Thành.