Nguyễn Lộc
L.T.S.: Vừa qua, Hội đồng Ngữ văn Bộ Đại học và Trung học chuyên nghiệp đã tổ chức hội thảo về vấn đề phân kỳ văn học sử Việt Nam. Ý kiến tương đối tập trung về vấn đề chọn những mốc lớn để phân chia các thời kỳ lớn trong văn học Việt Nam, nhưng tiêu chuẩn chọn lựa thì lại có phần khác nhau. Đây chỉ là bước đầu mở ra việc thảo luận, còn chờ nhiều ý kiến khác nhau tham gia bàn bạc…
Phân kỳ văn học sử là một vấn đề có ý nghĩa phương pháp luận quan trọng trong việc nghiên cứu lịch sử văn học. Việc phân kỳ văn học sử đúng hay sai, hợp lý hay không hợp lý sẽ có tác động đến việc nhìn nhận, đánh giá, trình bày các hiện tượng văn học cụ thể. Trong các bộ phận văn học sử vấn đề phân kỳ văn học sử bao giờ cũng được nêu lên đầu tiên, nhưng thực chất nó lại là công việc sau cùng, là sự khát quát toàn bộ quá trình vận động của lịch sử văn học. Nhận thức về phân kỳ văn học sử thực chất là nhận thức về quy luật vận động của văn học trong lịch sử. Vì vậy, có nhận thức đúng quy luật vận động của văn học trong lịch sử thì việc phân kỳ văn học sử mới đúng.
Trước Cách mạng tháng Tám, các nhà nghiên cứu văn học sử ở ta thường phân biệt hai bộ phận văn học viết bằng chữ Hán với văn học viết bằng quốc ngữ (chữ Nôm và chữ quốc ngữ mẫu tự La-tinh) trong nền văn học dân tộc, và phân chia các thời kỳ văn học sử theo các triều đại. Hải Lượng trong Lược khảo về văn học sử nước ta (Tạp chí văn học từ số 5 đến số 12 – 1932) chia lịch sử văn học dân tộc ra làm ba thời kỳ: 1. Từ Triệu Đà đến Tiền Lê; 2. Lý Trần; 3. Hậu Lê và Nguyễn (gồm thời Hậu Lê và các chúa Nguyễn với thời các vua Nguyễn). Ngô Tất Tố trong bộ Việt Nam văn học dự kiến biên soạn thành 6 quyển cũng chia lịch sử văn học dân tộc theo các triều đại như văn học thời Lý, văn học thời Trần, văn học thời Lê, văn học thời Nguyễn. Nguyễn Đổng Chi trong Việt Nam cổ văn học sử viết về lịch sử văn học dân tộc từ cổ đến nhà Hồ cũng chia các giai đoạn: văn học thời Bắc thuộc, văn học thời Ngô Đinh Lê; văn học nhà Lý, văn học nhà Trần, văn học nhà Hồ. Và Dương Quảng Hàm trong Việt Nam văn học sử yếu, trình bày toàn bộ lịch sử văn học dân tộc từ cổ đến kim cũng chia các giai đoạn văn học sử theo các triều đại. Cụ thể ông chia lịch sử văn học dân tộc ra làm 4 giai đoạn: Văn học Lý Trần (TK XI – XIV); Văn học Lê Mạc (TK XV – XVI) văn học thời kỳ Nam Bắc phân tranh (TK XVII – XVIII), Văn học thời kỳ cận kim: Nguyễn triều (TK XIX).
Ở người này, người khác, cách phân chia cụ thể có những khác biệt (chẳng hạn Ngô Tất Tố, Nguyễn Đổng Chi thì bám sát từng triều đại còn Dương Quảng Hàm có khi gộp vài triều đại kế cận và có liên quan với nhau vào một giai đoạn), nhưng nói chung việc phân kỳ văn học sử của họ không ảnh hưởng gì lắm đến việc trình bày văn học sử của họ. Bởi vì trong giai đoạn trước cách mạng tháng Tám, xu hướng chung của các nhà văn học sử ở ta là thống kê và miêu tả. Viết văn học sử đối với họ có nghĩa là soát xét lại trong mỗi triều đại đã xuất hiện những tác giả tác phẩm nào, để thống kê và miêu tả cho đầy đủ những tác giả và tác phẩm ấy. Công việc nghiên cứu văn học sử nếu chỉ dừng lại ở một cấp độ như thế thì rõ ràng việc phân kỳ văn học sử trở thành đơn giản, nó không phải là một vấn đề của phương pháp luận nghiên cứu văn học, và việc qui định nó như thế nào hay như thế kia thuần túy có tính ước lệ chủ quan, không bao hàm một nội dung khoa học đích thực. Cố nhiên, như trường hợp Dương Quảng Hàm trong Việt Nam văn học sử yếu, ông cũng có nhận xét về đặc điểm của văn học dân tộc trong từng giai đoạn, nhưng đó không phải là nội dung chính, và cũng chỉ “thấy gì nói nấy”, chứ không phải trên tinh thần phát hiện quy luật vận động của văn học. Thực tế nếu đặt vấn đề phân kỳ văn học sử phải phản ánh quy luật vận động của văn học thì rõ ràng, lối phân kỳ theo triều đại là không thể chấp nhận được. Bởi vì sự thành lập hay tiêu vong của một triều đại nhiều khi chỉ có ảnh hưởng một cách hạn chế trong tầng lớp chóp bu của xã hội, chứ không có ảnh hưởng gì đến cơ cấu chung của toàn bộ xã hội, và như vậy đối với văn học, ảnh hưởng của nó lại càng mờ nhạt. Triều đại nói chung không thể là cái mốc của sự phát triển văn học trong lịch sử.
Những công trình nghiên cứu văn học sử từ sau Cách mạng tháng Tám, nói chính xác hơn, từ sau khi hòa bình được lập lại năm 1954 ở cả hai miền Nam Bắc rõ ràng có một nhận thức mới về vấn đề phân kỳ văn học sử. Nói chung các nhà văn học sử đều thấy việc phân kỳ văn học sử không phải chỉ để miêu tả cho dễ, mà bản thân nó phải phản ánh sự vận động của văn học. Nhưng có phần giống các nhà nghiên cứu trước Cách mạng tháng Tám, các nhà nghiên cứu văn học sử ở miền Nam trong vùng chiếm đóng của Mỹ ngụy trước đây luôn luôn tách rời bộ phận văn học viết bằng chữ Hán với bộ phận văn học viết bằng quốc ngữ. Đối với họ chỉ có bộ phận sau, bộ phận văn học viết bằng tiếng nói của dân tộc mới thực sự là văn học dân tộc, cho nên việc phân kỳ văn học sử của họ cũng chỉ căn cứ vào sự phát triển của bộ phận văn học này. Phạm Thế Ngũ trong bộ Việt Nam văn học sử giản ước tân biên, phần văn học chữ Hán được trình bày theo thể loại (như thi văn, truyện ký, công văn, sử ký, biên khảo). Riêng bộ phận văn học viết bằng chữ Nôm và chữ quốc ngữ được trình bày theo lịch sử. Phạm Thế Ngũ chia ra “Văn học lịch triều” và “Văn học hiện đại”. Văn học lịch triều gồm ba thời kỳ là thời kỳ sơ khởi (triều Trần Lê), thời kỳ phát triển (các triều phân tranh từ Mạc đến Tây Sơn) và thời kỳ thịnh đạt (triều Nguyễn đến năm 1862), từ 1862 trở đi tác giả gọi là “Văn học hiện đại” và chia làm ba thời kỳ khác: 1862 – 1907; 1907 – 1932; 1932 – 1945.
Thanh Lãng phê phán tất cả các hình thức phân kỳ lịch sử văn học đã có, và đề ra một phương pháp phân kỳ mới gọi là “phương pháp thế hệ”. Theo ông thế hệ là “một thời gian ngăn ngắn nào đó, tối đa là một trăm năm, tối thiểu là mười năm, còn thông thường là vài ba chục năm” và “thế hệ văn học” là “một thời kỳ văn học ngăn ngắn nào đó, được khai mạc từ một năm nào đó, do một biến cố nào đó, khiến cho từ năm ấy, và do biến cố ấy, văn học của thời này, một đằng khác văn học của thời kỳ đi trước, một đằng lại có cái gì là chung chung, là giông giống nhau cho phần đông các cuộc đời văn học cùng lứa tuổi, cùng thời kỳ này, rồi cái thời kỳ ngăn ngắn sẽ lại bị bế mạc từ một năm nào đó, do một biến cố nào đó khiến cho từ đấy về sau văn học lại đổi theo chiều hướng khác”, v.v. Thanh Lãng chia lịch sử văn học dân tộc làm hai thời kỳ lớn gọi là “Thời kỳ cổ điển” (TK XIII – 1862) và thời đại mới (1862 – 1945), và trong mỗi thời kỳ như vậy lại bao gồm một số thế hệ: như “thời kỳ cổ điển” có những “thế hệ văn học” “đối kháng Trung Hoa” (TK XII – XIV), “văn học phát huy văn hóa dân tộc” (1482 – 1505), “văn học chớm nở đối kháng thời thế” (1505 – 1592) “văn học gặp gỡ Tây phương” (1592 – 1729) “văn học thác loạn” (1729 – 1788); “văn học thế hệ Nguyễn Du” (1788 – 1820), “văn học thế hệ Nguyễn Công Trứ” (1820 – 1882), v.v. Trong cách phân kỳ của Thanh Lãng có thể hiện sự chú ý đối với đặc điểm chung làm thành nét đặc thù của giai đoạn ấy so với những giai đoạn khác, nhưng ông chưa chú ý đến vận động nội tại của văn học từ giai đoạn này sang giai đoạn khác, nghĩa là vẫn chưa chú ý đến quy luật vận động nói chung của văn học. Vả lại, cách xác định các niên đại làm mốc cho sự phát triển của văn học một cách quá chính xác, cũng như cách đặt tên cho các thế hệ văn học của Thanh Lãng có cái gì thiên về những yếu tố rất hình thức, và nhiều khi nằm bên ngoài văn học, hơn là xét ở chính bản thân đời sống văn học. Chẳng hạn, ông cho giai đoạn 1592 – 1729 là “thế hệ gặp gỡ Tây phương” chỉ vì ở giai đoạn này xuất hiện chữ quốc ngữ theo mẫu tự La-tinh, và ở các giai đoạn Thiên chúa giáo xuất hiện bộ phận văn học Ky-tô giáo! (thực ra ở giai đoạn này hoạt động Thiên chúa giáo ở ta còn hết sức hạn chế, và cái gọi là “văn học Ky-tô giáo” nội dung của nó hết sức mong manh, thực tế không có một ảnh hưởng nào đối với sự phát triển của văn học dân tộc). Cách nhìn nhận các thế hệ khác, như “thế hệ chớm nở đối kháng thời thế”, “thế hệ thác loạn” cũng có những nét tương tự như vậy.
Các nhà văn học sử Mác-xít có một quan niệm tương đối thống nhất về vấn đề phân kỳ văn học sử. Văn học là một hình thái ý thức thuộc kiến trúc thượng tầng, vì vậy nói đến sự phát triển của văn học họ chú ý đến hai mặt: 1) Mối quan hệ giữa văn học với sự phát triển chung của lịch sử xã hội, trong đó chủ yếu là lịch sử đấu tranh giai cấp trong xã hội. 2) Sự phát triển có tính chất độc lập tương đối của văn học. Tuy nhiên do chỗ nhận thức về mối tương quan cụ thể của hai mặt này trong nền văn học dân tộc có những chỗ khác nhau, nên kết quả việc phân kỳ văn học sử của họ có những chỗ khác nhau.
Ông Nguyễn Khánh Toàn trong Đề cương văn học sử Việt Nam (t.I) chủ trương “phải căn cứ vào các giai đoạn trong lịch sử dân tộc mà chia những giai đoạn trong văn học sử, bởi vì như đã nói, văn học sử không thể tách khỏi lịch sử dân tộc được”. Và ông đề nghị chia lịch sử văn học dân tộc ra làm 4 thời kỳ: 1. Trước thời Bắc thuộc và thời Bắc thuộc; 2. Thời Độc lập; 3. Thời thuộc Pháp; 4. Từ Cách mạng tháng Tám đến nay.
Quan điểm trên đây của ông Nguyễn Khánh Toàn một lần nữa được tái hiện lại trong bộ Lịch sử văn học Việt Nam của Ủy ban khoa học xã hội do ông trực tiếp chỉ đạo biên soạn. Ở đây có phần bổ sung là trong Đề cương… ông chỉ dừng lại ở những thời kỳ lớn, còn trong Lịch sử văn học Việt Nam thì trong những thời kỳ lớn đó còn được chia ra làm những giai đoạn nhỏ. Thời kỳ trước và trong thời Bắc thuộc trong Lịch sử văn học Việt Nam dùng để trình bày về thần thoại, truyền thuyết và cổ tích. Thời kỳ Độc lập (trong Lịch sử văn học Việt Nam gọi là “thời kỳ xây dựng quốc gia Đại Việt” (được chia làm 3 giai đoạn: 1. Từ thế kỷ X đến thế kỷ XV. 2. Thế kỷ XVI đến giữa thế kỷ XVIII. 3. Từ giữa thế kỷ XVIII đến giữa thế kỷ XIX. Thời thuộc Pháp (trong Đề cương Lịch sử văn học Việt Nam tập II gọi là thời kỳ 1858 – 1945 được chia làm 2 giai đoạn: 1. Từ Pháp xâm lược đến chiến tranh thế giới I (1858 – 1918); 2. Từ chiến tranh thế giới I đến Cách mạng tháng Tám (1918 – 1945). Thời kỳ từ 1945 đến nay, không chia giai đoạn mà trình bày theo thể loại.
Các tác giả trong Nhóm văn học Lê Quý Đôn, về quan niệm phân kỳ trong văn học sử, cơ bản không có gì khác so với ông Nguyễn Khánh Toàn. Trong phần mở đầu bộ Lược thảo lịch sử văn học Việt Nam họ viết “Đã nhận rằng văn học là phản ánh đời sống xã hội thì phải nhận rằng những sự kiện lớn trong đời sống xã hội, trong lịch sử dân tộc có một tác dụng quyết định trong lịch sử văn học”, và họ nêu dẫn chứng “chiến thắng chống quân Nguyên làm cho ý thức dân tộc càng phát triển ở thế kỷ XIII: sự suy đồi của chế độ phong kiến làm cho xã hội trở thành mục nát ở thế kỷ XVI, sự xâm lược của đế quốc Pháp ở thế kỷ XIX, cũng như sự trưởng thành của giai cấp vô sản và sự xuất hiện của Đảng cộng sản Đông Dương năm 1930 theo ý chúng tôi là những cái mốc lớn trong quá trình phát triển của văn học Việt Nam”. Căn cứ vào nhận thức trên, các tác giả bộ Lược thảo… chia lịch sử văn học dân tộc ra làm 4 thời kỳ: 1. Từ thế kỷ XIII đến thế kỷ XV, 2. Từ thế kỷ XVI đến giữa thế kỷ XIX, 3. Từ giữa thế kỷ XIX đến 1930, 4. Từ 1930 đến nay.
Các tác giả bộ Lược thảo… đều là các thầy giáo, trong kháng chiến chống Pháp họ dạy ở các trường phổ thông, sau khi hòa bình lập lại, một số đông được điều về giảng dạy ở Trường đại học Sư phạm Hà Nội nên cách phân kỳ văn học sử của họ đã ảnh hưởng đến cách phân kỳ văn học sử trong sách giáo khoa phổ thông về văn học Việt Nam, và cả trong giáo trình lịch sử văn học Việt Nam ở trường Đại học Sư phạm. Bộ Hợp tuyển thơ văn Việt Nam của nhà xuất bản Văn học trước đây cũng chịu ảnh hưởng cách phân kỳ này, mặc dù các tác giả bộ Hợp tuyển thì coi văn học chữ Hán là một bộ phận của nền văn học dân tộc, trong khi các tác giả bộ Lược thảo lại coi chỉ có văn học viết bằng ngôn ngữ dân tộc mới thuộc nền văn học dân tộc.
Các tác giả bộ Sơ thảo lịch sử văn học Việt Nam của Ban Văn – Sử – Địa trước kia (tiền thân của Ủy ban Khoa học Xã hội sau này) quan niệm phân kỳ văn học sử có phần khác ông Nguyễn Khánh Toàn và các tác giả bộ Lược thảo. Một mặt, tuy cũng thừa nhận ảnh hưởng của những sự kiện kinh tế, sự kiện chính trị đối với sự kiện văn học, nhưng họ cho rằng không thể lấy sự kiện kinh tế hay chính trị làm tiêu chuẩn để phân định thời kỳ văn học sử, bởi vì “rất ít khi sự kiện văn học diễn ra đồng thời với sự kiện kinh tế hay sự kiện chính trị”. Trong Lời nói đầu, các tác giả bộ Sơ thảo viết “Văn học có đặc tính riêng của nó, quy luật riêng của nó cho nên phải coi sự kiện văn học – đương nhiên là sự kiện văn học trọng yếu, để làm những cái mốc trên các chặng đường phát triển văn học thì mới tránh được những gò ép trái quy luật phát triển tự nhiên của văn học”. Và họ chia lịch sử văn học dân tộc từ cổ đến Pháp xâm lược làm 4 thời kỳ: 1. Từ Hồ Quý Ly về trước (Đinh, Lê, Lý, Trần); 2. Từ Hồ Quý Ly đến hết thế kỷ XVII; 3. Thế kỷ XVIII; 4. Thế kỷ XIX đến Pháp xâm lược. Thời kỳ tiếp theo, từ Pháp xâm lược đến năm 1945, về sau được Viện Văn học tổ chức biên soạn tiếp, đã chia làm 2 đoạn: 1. Từ Pháp xâm lược đến năm 1930; 2. Từ năm 1930 – 1945.
Ông Văn Tân và Nguyễn Hồng Phong, hai trong số năm tác giả của bộ Sơ khảo… về sau viết chung một tập khác gọi là Sơ giản lịch sử văn học Việt Nam. Cách chia các giai đoạn văn học của hai ông hoàn toàn giống cách chia của bộ Sơ thảo. Nhưng trong Sơ thảo thì các ông nhấn mạnh về tính đặc thù của sự phát triển văn học, và coi việc lấy các sự kiện kinh tế hay chính trị làm tiêu chuẩn để phân kỳ văn học sử là không chính xác, còn trong Sơ giản… thì, các ông lại quan niệm ngược lại. “Thực tế của bản thân văn học đã chứng minh rõ ràng rằng các giai đoạn lịch sử của văn học hoàn toàn phù hợp với các giai đoạn chính trị cho nên trong thực tế việc phân chia thời kỳ lịch sử văn học của bộ Sơ giản là dựa theo tiêu chuẩn chính trị”.
Chúng tôi đã điểm lại tất cả những quan niệm về phân kỳ văn học sử ở nước ta từ trước đến nay và cách phân kỳ cụ thể của từng tác giả. Có thể nói một nhược điểm chung của tất cả những nhà văn học sử từ trước tới nay về phân kỳ văn học sử là ở chỗ họ chỉ mới chú ý đến những yếu tố thuộc về hình thức của văn học, những tác động của xã hội đối với văn học, chứ chưa thực sự chú ý đến sự vận động và quy luật vận động của bản thân trong đời sống văn học.
Văn học phản ánh xã hội và chịu sự tác động của xã hội nói chung, đặc biệt là tác động của cuộc đấu tranh giai cấp trong xã hội, nhưng muốn tìm quy luật vận động của văn học thì không thể chỉ dừng lại ở những yếu tố bên ngoài văn học, tác động đến văn học – mặc dù phải khảo sát nó một cách nghiêm túc mà cuối cùng và chủ yếu là phải đi sâu, phải khái quát từ chính thực tiễn của đời sống văn học qua các thời đại. Phải bằng sự phân tích cụ thể đặc điểm của chủ thể sáng tác, quan niệm sáng tác, đặc điểm của hệ thống đề tài, chủ đề, ngôn ngữ, thể loại, và các nguồn ảnh hưởng của văn học… để khái quát lên. Lịch sử là liên tục, nhưng trong mỗi thời kỳ hay mỗi giai đoạn chúng ta sẽ thấy nổi lên một số đặc điểm chủ yếu khác với thời kỳ giai đoạn trước. Chúng tôi quan niệm khi nào văn học thay đổi về phương thức tư duy, được thể hiện qua hệ thống những phương thức sáng tác cụ thể thì có nghĩa là văn học đã chuyển sang một thời kỳ mới. Còn giai đoạn là trong phạm vi một phương thức tư duy, nhưng do tác động cụ thể của điều kiện lịch sử xã hội mà nội dung cụ thể của văn học có thay đổi. Giữa các giai đoạn, sự thay đổi về phương thức sáng tác cũng có diễn ra, nhưng có tính cách cục bộ, riêng lẻ. Ở đây thiết tưởng có một mốc hết sức quan trọng cần được làm sáng tỏ như văn học truyền thống kết thúc vào thời điểm nào? Văn học cận đại bắt đầu từ đâu, kết thúc ở đâu? Và văn học hiện đại nên coi cái mốc khởi đầu của nó vào thời điểm nào?…
Dù theo quan điểm Mác-xít hay phi Mác-xít, có thể nói tất cả những công trình văn học sử ở nước ta từ trước tới nay đều cho cái mốc Pháp xâm lược nước ta vào giữa thế kỷ XIX (có người cho bắt đầu từ 1858, có người cho từ 1862) là thời điểm kết thúc của văn học truyền thống và mở ra một thời kỳ mới có tính chất cận đại trong văn học dân tộc. Điều này theo chúng tôi là chưa hợp lý và cần được trao đổi lại.
Sự kiện Pháp xâm lược nước ta vào giữa thế kỷ XIX đúng là một biến cố hết sức trọng đại trong đời sống dân tộc. Nó chấm dứt thời kỳ mấy trăm năm độc lập của đất nước ta, và mở ra một thời kỳ mới, thời kỳ thống trị của chủ nghĩa thực dân Pháp cho đến Cách mạng tháng Tám. Nhưng nên nhớ rằng không phải ngay từ đầu thực dân Pháp đã đặt được ách thống trị trên đất nước ta. Về phương diện triều đình nhà Nguyễn thì đúng là ngay từ những ngày đầu tiên, thấy cuộc chiến đấu quá chênh lệch giữa ta và địch, họ đã có ý định đầu hàng thực dân Pháp, và với những hàng ước năm 1862, 1874, 1883 và 1884 họ lần lượt thừa nhận sự thống trị của thực dân Pháp trên đất nước ta. Nhưng triều đình thừa nhận là một việc, còn thực dân Pháp có thực sự đặt được ách thống trị trên đất nước ta hay không lại là một việc khác. Có thể nói cho đến khi phong trào Cần vương thất bại hoàn toàn vào cuối thế kỷ XIX thì hình thái cuộc đấu tranh xã hội diễn ra trên đất nước ta vẫn là đấu tranh chống ngoại xâm chứ không phải như từ đầu thế kỷ XX trở đi có tính cách một cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc.
Về phương diện văn học, giai đoạn nửa cuối thế kỷ XIX, do tác động của cuộc đấu tranh chống Pháp, nội dung của nó thay đổi khác trước. Ở Nam Bộ, thực dân Pháp chiếm đóng sớm đã đẩy mạnh việc truyền bá chữ quốc ngữ, chữ Pháp, ra báo chí, nhưng do phản ứng của tinh thần dân tộc của nhân dân Nam Bộ nên những hoạt động này không có một ảnh hưởng sâu rộng nào trong xã hội. Nền văn học dân tộc trong giai đoạn nửa cuối thế kỷ XIX vẫn hoạt động trong quỹ đạo của nền văn học khu vực, nền văn học phương Đông, chịu ảnh hưởng của văn hóa láng giềng và chịu sự chi phối sâu sắc của văn học truyền thống chứ chưa đi vào quỹ đạo chung của văn học thế giới. Vì vậy theo chúng tôi, thời kỳ thứ nhất trong văn học dân tộc – có thể gọi là thời kỳ văn học truyền thống – không phải chấm dứt ở giữa thế kỷ XIX, với sự kiện Pháp xâm lược, mà chấm dứt vào cuối thế kỷ XIX, với sự thất bại hoàn toàn của cuộc kháng chiến chống Pháp và với cái chết của hai nhà thơ lớn Tú Xương, Nguyễn Khuyến. Giai đoạn nửa cuối thế kỷ XIX không phải giai đoạn mở đầu của thời kỳ cận đại trong văn học dân tộc như trước nay nhiều nhà văn học sử quan niệm, mà là giai đoạn kết thúc của thời kỳ văn học truyền thống.
Như vậy thời kỳ cận đại trong văn học ta, theo chúng tôi, bắt đầu từ thế kỷ XX với phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc mà Đông Kinh Nghĩa Thục có thể coi là cái mốc đầu tiên và kết thúc với Cuộc cách mạng tháng Tám năm 1945.
Rõ ràng từ đầu thế kỷ XX trở đi, hình thế xã hội ta khác trước một cách cơ bản. Với sự thất bại của phong trào Cần vương, ý thức hệ phong kiến hoàn toàn bị sụp đổ. Xã hội đứng trước một yêu cầu đổi mới toàn diện, về kinh tế, văn hóa và ý thức hệ. Dường như có một nghịch lý là yêu cầu đổi mới ấy, một mặt là yêu cầu của những người yêu nước chống thực dân, chống đế quốc, nhưng mặt khác cũng là yêu cầu của chính bọn thực dân, bọn đế quốc. Cố nhiên mỗi bên xuất phát từ những lợi ích khác nhau, nhưng kết quả là làm cho xã hội nhanh chóng từ giã cái cũ để chuyển sang cái mới. Ý thức hệ tiểu tư sản và tư sản dần dần được xác lập. Những tư tưởng của các nhà khai sáng châu Âu bước đầu được giới thiệu. Một phong trào cải cách văn hóa được nhen nhóm. Trong văn học, do tiếp thu ảnh hưởng của văn học phương Tây, nền văn học dân tộc bắt đầu đi vào quỹ đạo chung của văn học thế giới. Từ đầu thế kỷ XX trở đi chữ quốc ngữ (vốn có từ thế kỷ XVII nhưng không phát triển được) nhanh chóng thay thế cho chữ Hán và chữ Nôm. Các thể loại của nền văn học cận hiện đại trên thế giới như tiểu thuyết, truyện ngắn, kịch nói, thơ trữ tình, văn, báo chí… từng bước thay thế cho những thể loại truyền thống. Dần dần hình thành những nhà văn kiểu mới, không phải coi sáng tác như một biểu hiện của tài hoa, mà là một nghề nghiệp, vừa thỏa mãn nhu cầu tinh thần, vừa là một cách để sinh sống, để đóng góp cho xã hội…
Trong thời kỳ này, giai đoạn từ đầu thế kỷ XX đến đầu những năm 30 là giai đoạn giằng co. Ở đây, cái cũ từng bước rút dần ra khỏi vũ đài, cái mới từng bước thắng thế, nhưng cái mới chủ yếu chưa phải do lực lượng mới đại diện, mà do những lực lượng cũ có tính chất cấp tiến đại diện, hay những lực lượng mới nhưng tài năng và kinh nghiệm còn hạn chế, chưa tạo ra được những giá trị đích thực để tự khẳng định. Từ đầu những năm 30 trở đi, cho đến Cách mạng tháng Tám là giai đoạn nở rộ của văn học mới. Những nhà văn tiêu biểu của giai đoạn này đều xuất thân Tây học, chịu ảnh hưởng chủ yếu của văn học phương Tây, nhất là văn học Pháp, đã thành công trong tất cả các thể loại mới. Nhìn chung sự phát triển của văn học từ đầu thế kỷ XX đến cách mạng tháng Tám, về tính chất là nhất quán.
Trước đây có người cho văn học cận đại Việt Nam kết thúc vào năm 1930, năm thành lập Đảng Cộng sản Đông Dương. Từ 1930 trở đi là văn học hiện đại. Thông thường khái niệm “cận đại” gắn liền với khái niệm “tư sản”, và khái niệm “hiện đại” gắn liền với khái niệm “vô sản”. Chủ nghĩa Mác du nhập vào ta từ những năm 20. Năm 1930 Đảng ta thành lập đã mở ra một giai đoạn mới cho cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc. Nhưng do chính sách khủng bố ác liệt của thực dân Pháp, năm 1930 Xô-viết Nghệ Tĩnh bị dìm trong bể máu, sau đó nhiều đồng chí bị bắt bị tù đày. Hoạt động của Đảng nằm trong phạm vi bí mật (trừ vài năm ngắn ngủi thời Mặt trận Dân chủ, việc hoạt động ít nhiều được rộng rãi hơn), tập trung vào nhiệm vụ chủ yếu là xây dựng cơ sở, tập hợp lực lượng để giành chính quyền. Văn học, văn hóa tuy được Đảng coi trọng, nhưng điều kiện hoạt động hết sức eo hẹp. Dòng văn học vô sản 1930-45 chủ yếu là văn học trong tù, là thứ “quốc cấm”. Do đó, bản thân nó bị hạn chế và ảnh hưởng của nó đối với xã hội cũng bị hạn chế. Chỉ có sau Cách mạng tháng Tám dòng văn học này mới trở thành chủ đạo. Cho nên văn học hiện đại của ta thực sự bắt đầu với Cách mạng tháng Tám.
Coi văn học trước Cách mạng tháng Tám thuộc phạm trù cận đại, điều đó không phải hạ thấp vị trí của văn học cách mạng, mà trái lại, đặt nó trong phạm vi này, mới có thể đề cao nó một cách khoa học. Bởi vì trong điều kiện hết sức ngặt nghèo của chế độ thực dân bán phong kiến như ở nước ta trước Cách mạng tháng Tám mà văn học vô sản vẫn nẩy nở, vẫn có được những tác gia như Bác Hồ, Tố Hữu, đó là một thành tựu lớn.
Cần chú ý đúng mức sự phát triển đặc thù của văn học cận đại ở nước ta. Thông thường văn học cận đại ở các nước trên thế giới phát triển trong điều kiện xã hội tư sản. Ở ta, văn học cận đại phát triển dưới ách thống trị của bọn thực dân xâm lược. Trong xã hội, mâu thuẫn dân tộc nổi lên hàng đầu. Do đó trong văn học cận đại của ta cũng hình thành hai bộ phận: bộ phận văn học nô dịch của bọn bồi bút, tay sai của thực dân Pháp (thực tế bộ phận này không đáng kể, điều đó chứng tỏ tuyệt đại bộ phận thành viên của dân tộc là yêu nước) và bộ phận văn học dân tộc. Trong bộ phận văn học dân tộc này, sáng tác của những nhà yêu nước và cách mạng là thành phần có tính chất tiên phong. Nó đem lại cho văn học dân tộc một thế giới quan mới, một nhân sinh quan mới. Nhưng do điều kiện tiếp xúc với văn học thế giới bị hạn chế (vì các tác giả chủ yếu là hoạt động cách mạng và bị tù đày) nên tư duy văn học và phương thức sáng tác văn học nói chung chưa được đổi mới. Sáng tác của những nhà văn nhà thơ khác trong bộ phận văn học dân tộc, có điều kiện tiếp xúc rộng rãi với văn học châu Âu đã góp phần hiện đại hóa tư duy văn học, ngôn ngữ văn học và hoàn chỉnh các thể loại văn học cận hiện đại.
Phải thấy trong điều kiện khắc nghiệt của nước ta lúc bấy giờ mà văn học dân tộc vẫn sáng tác bằng chữ quốc ngữ là một thành tựu đột xuất, thể hiện đậm nét tinh thần dân tộc, mà nhiều nước khác cùng vận mệnh như ta không làm được. Văn học cận đại Việt Nam trong vòng trên dưới 40 năm đã chuyển mạnh từ một nền văn học về cơ bản vẫn còn tính chất trung cổ phương Đông sang một nền văn học mới, đuổi kịp tiến trình chung của văn học thế giới, cái cống hiến ấy của những nhà văn, nhà thơ cận đại cần được khẳng định một cách thích đáng.
Tóm lại: Lịch trình tiến triển của văn học dân tộc, theo chúng tôi có thể chia làm ba thời kỳ lớn:
– Từ cổ (TK X đến hết TK XIX, thời kỳ văn học truyền thống)
– Đầu TK XX – 1945: thời kỳ văn học cận đại
– Từ 1945 – nay: thời kỳ văn học hiện đại.
Nền văn học dân tộc ta khi gia nhập vào quỹ đạo của văn học thế giới, quy luật vận động của nó, mặc dù có những đặc điểm dân tộc đậm nét, nói chung vẫn phát triển theo một mô hình chung của nền văn học cận, hiện đại của thế giới. Vấn đề phân chia giai đoạn trong văn học cận, hiện đại tuy không phải đơn giản, nhưng nó không đến nỗi quá phức tạp. Có thể thấy một xu hướng chung là khi người ta ý thức rõ văn học là một vũ khí đấu tranh giai cấp thì những giai đoạn phát triển của văn học thường cũng trùng với những giai đoạn phát triển của cuộc đấu tranh giai cấp trong xã hội, vì vậy những cái mốc của lịch sử xã hội, lịch sử chính trị đồng thời cũng là những cái mốc của lịch sử văn học. Nhưng đối với văn học truyền thống tình hình hoàn toàn không phải như vậy. Ở đây vấn đề phân chia giai đoạn của thời kỳ văn học truyền thống cũng cần được làm sáng tỏ.
Trong các công trình nghiên cứu thời kỳ văn học truyền thống ra đời muộn hơn như các bộ giáo trình lịch sử văn học Việt Nam của Đại học Tổng hợp và Đại học Sư phạm dường như có xu hướng tiến tới một cách phân chia giai đoạn thống nhất. Cụ thể: văn học Lý – Trần (thế kỷ X – thế kỷ XIV) là một giai đoạn; thế kỷ XV là một giai đoạn; thế kỷ XVI đến giữa thế kỷ XVIII là một giai đoạn. Từ giữa thế kỷ XVIII đến Pháp xâm lược (giữa thế kỷ XIX) thì Đại học Sư phạm chia làm hai giai đoạn (giữa thế kỷ XVIII đến đầu thế kỷ XIX; và nửa đầu thế kỷ XIX), Đại học Tổng hợp thì coi là một giai đoạn và cuối cùng là giai đoạn nửa cuối thế kỷ XIX. Nhìn chung, cách phân chia này tùy theo thế kỷ, nhưng chủ yếu vẫn dựa vào sự phát triển của xã hội phong kiến: từ thế kỷ X đến thế kỷ XIV là giai đoạn xây dựng nhà nước phong kiến. Thế kỷ XV là giai đoạn nhà nước phong kiến cực thịnh. Thế kỷ XVI đến đầu thế kỷ XVIII là giai đoạn nhà nước phong kiến suy thoái; nửa cuối thế kỷ XVIII là giai đoạn tổng khủng hoảng và nửa đầu thế kỷ XIX là giai đoạn nhà nước phong kiến chuyên chế triều Nguyễn. Nhưng nếu xét về quy luật vận động của văn học, ta sẽ thấy cách phân chia giai đoạn như trên có chỗ chưa hợp lý.
Với cách phân chia giai đoạn như trên thì Nguyễn Trãi (nửa đầu thế kỷ XV) và Lê Thánh Tông (nửa cuối thế kỷ XV) nằm trong cùng một giai đoạn. Nhưng đối chiếu, so sánh sáng tác của Nguyễn Trãi với Lê Thánh Tông, ta sẽ thấy hai nhà thơ này khác nhau khá cơ bản. Nguyễn Trãi là người anh hùng của cuộc chiến đấu chống ngoại xâm và sáng tác của ông đã cổ vũ mạnh mẽ cuộc chiến đấu ấy; còn Lê Thánh Tông là một ông vua, một nhà thơ hết lời ca ngợi triều đại của mình. Nguyễn Trãi sáng tác với một cảm hứng dân tộc dồi dào, trong khi Lê Thánh Tông sáng tác với một giáo huấn rõ rệt. Về sáng tác văn học, Nguyễn Trãi không phải gần với Lê Thánh Tông mà gần với những nhà thơ, nhà văn tiêu biểu của văn học thời Lý – Trần. Có thể nói Nguyễn Trãi là người đã phát huy cao độ chủ nghĩa yêu nước vốn là nội dung cơ bản của văn học Lý – Trần cho đến chiến thắng quân Minh. Vì vậy, theo chúng tôi, giai đoạn thứ nhất trong thời kỳ văn học truyền thống không phải kết thúc ở thế kỷ XIV mà vào nửa đầu thế kỷ XV, với Nguyễn Trãi. Có thể nói đặc điểm cơ bản của văn học từ thế kỷ X đến Nguyễn Trãi (nửa đầu thế kỷ XV) là tinh thần khẳng định dân tộc. Trong giai đoạn này, nhà văn tiêu biểu là những người tham gia chống ngoại xâm; sáng tác tiêu biểu là những tác phẩm trực tiếp hay gián tiếp có liên quan đến đề tài chống ngoại xâm. Cảm hứng yêu nước, tự hào dân tộc là cảm hứng chủ đạo, chi phối những cảm hứng khác (Nho, Phật, Đạo). Những thể loại văn học phổ biến là những thể loại có tính chất anh hùng ca (hịch, cáo, phú) và văn chính luận.
Từ Lê Thánh Tông trở đi (nửa cuối thế kỷ XV) đến nửa đầu thế kỷ XVIII, sự phát triển của xã hội không nhất quán: nửa cuối thế kỷ XV là thời kỳ cực thịnh của nhà nước phong kiến, thế kỷ XVI đến nửa đầu thế kỷ XVIII là thời kỳ suy thoái của nó. Về văn học, tiêu biểu cho nửa cuối thế kỷ XV là Lê Thánh Tông và Hội tao đàn, tiêu biểu cho thế kỷ XVI đến đầu thế kỷ XVIII là Nguyễn Bỉnh Khiêm, Phùng Khắc Khoan… Mới nhìn dường như dễ nhận thấy sự khác nhau giữa hai nhóm nhà văn này: Lê Thánh Tông và Hội Tao đàn: ca ngợi nhà nước phong kiến. Nguyễn Bỉnh Khiêm, Phùng Khắc Khoan, bên cạnh xu hướng ca ngợi, xuất hiện một xu hướng mới có tính chất phê phán. Nhưng đi sâu vào bản chất sáng tác của họ thì về cơ bản lại thấy họ giống nhau. Nguyễn Bỉnh Khiêm, Phùng Khắc Khoan không phải phê phán bản thân xã hội phong kiến, mà phê phán những yếu tố làm cho xã hội phong kiến suy vi. Họ phê phán không phải để phủ định xã hội phong kiến, mà để khẳng định nó. Phê phán có tính cách bổ sung cho khẳng định cho nên chúng tôi cho rằng văn học nửa cuối thế kỷ XV, đến nửa đầu thế kỷ XVIII cơ bản là nhất quán. Đặc điểm văn học giai đoạn này là khẳng định nhà nước phong kiến. Ở đây có hai nấc, nửa cuối thế kỷ XV là sự khẳng định trực tiếp. Thế kỷ XVI đến nửa đầu thế kỷ XVIII, bên cạnh khuynh hướng khẳng định trực tiếp là khuynh hướng khẳng định gián tiếp thông qua phê phán. Văn học trong giai đoạn này có những đặc điểm: chịu ảnh hưởng đậm nét của quan điểm văn học Nho giáo, nhà văn đứng trên lập trường đạo đức phong kiến. Đề tài phổ biến là vịnh sử và vịnh thiên nhiên. Trong văn học, tính chất giáo huấn lấn át tính chất cảm xúc. Hình thức khuôn sáo, công thức, có tính chất quan phương.
Giai đoạn nửa cuối thế kỷ XVIII đến giữa thế kỷ XIX (Pháp xâm lược). Về mặt lịch sử, nửa cuối thế kỷ XVIII là giai đoạn nhà nước phong kiến khủng hoảng bế tắc; phong trào nông dân rầm rộ trong khắp nước, dẫn đến thắng lợi của phong trào Tây Sơn với việc thành lập nhà nước Tây Sơn. Sang nửa đầu thế kỷ XIX, nhà nước phong kiến chuyên chế được phục hồi. Tuy nhiên, sự phát triển của kinh tế hàng hóa ở các đô thị và phong trào nông dân khởi nghĩa trong suốt giai đoạn đã làm cho xã hội phong kiến bị phá vỡ; Nho giáo trong giai đoạn này không còn là công cụ để cố kết xã hội. Khách quan, con người tách ra khỏi cơ chế của xã hội. Đặc điểm cơ bản của văn học ra đời trong giai đoạn này là sự khẳng định con người. Trong giai đoạn này, nhà văn thường là người từng trải nhiều, là nhà văn hóa, nhà tư tưởng. Văn học hướng vào sự khám phá con người nên tình yêu và thân phận của người phụ nữ trở thành những vấn đề trung tâm. Nhà văn đứng trên lập trường nhân sinh để phê phán và ca ngợi. Ra đời một trào lưu nhân đạo chủ nghĩa. Về hình thức, văn học chữ Nôm phát triển rực rỡ, những thể loại văn học dân tộc có qui mô lớn như truyện thơ, ngâm khúc giữ địa vị chủ đạo thay thế cho những thể loại vay mượn của Trung Quốc.
Giai đoạn nửa cuối thế kỷ XIX: Đây là giai đoạn chống ngoại xâm, nhưng kết thúc thất bại. Trong giai đoạn này thực dân Pháp tiến hành xâm lược nước ta, triều đình nhà Nguyễn từng bước đầu hàng kẻ thù. nhưng nhân dân ta không khuất phục, đã đứng lên tự tổ chức cuộc kháng chiến chống Pháp. Văn học ra đời trong giai đoạn này có phần giống giai đoạn đầu, trở lại khẳng định dân tộc, nhưng không phải trên cơ sở phong kiến, mà trên cơ sở khẳng định nhân dân. Trong văn học, đáng chú ý là sự phát triển mạnh của văn học Nam bộ, nơi cuộc chiến đấu chống ngoại xâm diễn ra sớm nhất. Hình ảnh người nông dân lần đầu tiên đi vào văn học với tính cách người anh hùng dân tộc. Nhà văn đứng trên lập trường chính trị để đánh giá các hiện tượng. Lần đầu tiên trong lịch sử văn học dân tộc ra đời một nhà thơ nông thôn (Nguyễn Khuyến), và một nhà thơ thuộc tầng lớp dưới của xã hội đô thị (Tú Xương). Ngôn ngữ dân gian giữ địa vị chủ đạo trong ngôn ngữ văn học. Yếu tố khôi hài, trào phúng có tính chất dân gian in dấu ấn đậm nét trong văn học bác học.
Tóm lại trong thời kỳ văn học truyền thống có thể chia làm bốn giai đoạn:
– Từ thế kỷ X đến nửa đầu thế kỷ XV: văn học khẳng định dân tộc trên cơ sở khẳng định phong kiến.
– Nửa cuối thế kỷ XV đến nửa đầu thế kỷ XVIII: văn học khẳng định nhà nước phong kiến.
– Nửa cuối thế kỷ XVIII đến nửa đầu thế kỷ XIX: văn học khẳng định con người.
– Nửa cuối thế kỷ XIX: văn học khẳng định dân tộc trên cơ sở khẳng định nhân dân.
Nguồn: Tạp chí Văn học, số 3/1985.