Một tình ca, một mùa xuân

Viết cho bạn tôi ở Cali…

Tino Cao

Tôi vẫn nghĩ rằng một trong những bất hạnh của lịch sử Việt Nam thế kỉ 20 là chiến tranh đã để lại quá nhiều thành kiến, đến mức ngay cả âm nhạc cũng bị phân chia theo giới tuyến chính trị. Chỉ cần nhắc đến hai chữ “nhạc đỏ” hoặc “nhạc vàng”, người ta đã vội suy đoán người nghe thuộc về phía nào, mang trong tâm trí những kí ức gì và có thái độ ra sao đối với quá khứ. Sự phân chia ấy có nguồn gốc lịch sử, nhưng khi trở thành một thói quen phán xét nghệ thuật, nó khiến chúng ta bỏ lỡ nhiều tác phẩm có giá trị. Hai ca khúc tôi muốn nhắc đến là Tình ca của Hoàng Việt, sáng tác năm 1957, và Mùa xuân đầu tiên của Văn Cao, ra đời vào dịp Tết Bính Thìn 1976. Cả hai đều gắn với dòng nhạc cách mạng của miền Bắc cộng sản, dù chúng được viết ra trong những hoàn cảnh lịch sử khác nhau. Nhưng hãy nghe thật kĩ, bằng cả sự hiểu biết và rung động của chính mình; chúng ta sẽ nhận ra ở đó những phẩm chất nghệ thuật xuất sắc và một thế giới tình cảm phong phú hơn nhiều so với những gì cái nhãn “nhạc đỏ” có thể diễn tả.

Năm 1954, Hoàng Việt tập kết ra miền Bắc, người vợ Lâm Thị Ngọc Hạnh cùng các con ở lại miền Nam. Ba năm sau, từ nỗi nhớ gia đình và những lá thư qua lại, ông viết Tình ca, một trong những sáng tác xuất sắc của nền tân nhạc Việt Nam. Về nghệ thuật, tác phẩm mang dáng dấp một bản thanh nhạc thính phòng, với những câu nhạc dài, âm vực rộng và lối phát triển giai điệu giàu kịch tính. Tiếng hát khi tha thiết như lời tâm tình, khi vươn lên mạnh mẽ với âm hưởng tráng ca, đòi hỏi người trình bày phải có kĩ thuật thanh nhạc vững vàng và khả năng diễn đạt tinh tế. Hoàng Việt đặc biệt tài tình trong cách chuyển từ những đoạn trữ tình sang cao trào, để cảm xúc được nâng lên mà vẫn giữ nguyên vẻ chân thành. Không gian biển trời, núi non trong lời ca càng gợi sâu nỗi cách xa, như thể tiếng hát của người chồng đang tìm đường đến với người vợ ở tận một phương trời. Từ nỗi nhớ riêng, âm nhạc hướng về quê hương với những bến nước Cửu Long, đồng lúa, nương dâu, và cả niềm mong đợi một ngày đoàn tụ. Chính sự hòa quyện giữa tình yêu đôi lứa và tình yêu quê hương đã đem đến cho Tình ca chiều sâu cảm xúc hiếm có. Trong một thời đại mà nghệ thuật thường được yêu cầu đề cao lí tưởng tập thể, Hoàng Việt vẫn dành cho tình yêu riêng tư một tiếng nói đầy mãnh liệt, làm nên vẻ đẹp và sức sống bất diệt của tác phẩm.

Trước khi trở thành một tên tuổi lớn của dòng nhạc cách mạng, Hoàng Việt từng nổi tiếng với bản nhạc tiền chiến Tiếng còi trong sương đêm, sáng tác vào khoảng năm 1944-1945 dưới bút danh Lê Trực. Đến Tình ca, âm nhạc của ông vẫn giữ được vẻ đẹp trữ tình ấy, dù tác phẩm mang đậm dấu ấn tư tưởng của thời đại và niềm tin chính trị của người sáng tác. Trong lời ca có hận thù, có kẻ thù và niềm tin vào thắng lợi của cuộc đấu tranh vì lí tưởng ông theo đuổi. Những yếu tố ấy cần được nhìn nhận trung thực, nhưng không hề làm mất đi vẻ đẹp sang trọng của âm nhạc và những tình cảm chân thành mà Hoàng Việt gửi gắm vào tác phẩm. Trớ trêu thay, chính Tình ca lại từng là nạn nhân của những quan niệm chính trị khắt khe một thời về nghệ thuật. Năm 1957, sau khi được ca sĩ Quốc Hương trình bày, bài hát bị một số người trong giới văn nghệ và các cơ quan quản lí văn hóa miền Bắc phê phán là “bi lụy”, “yếu đuối”, mang màu sắc “tiểu tư sản”, và bị hạn chế phổ biến trong nhiều năm. Một nhạc sĩ hết lòng với cách mạng vẫn có thể bị nghi ngại chỉ vì ông viết về tình yêu sâu nặng và nỗi nhớ quay quắt của một người chồng phải sống xa vợ con. Mãi đến năm 1967, Tình ca mới được phổ biến trở lại. Cũng trong năm ấy, sau mười ba năm xa cách, Hoàng Việt được gặp lại vợ con ở miền Nam. Nhưng cuộc sum họp chẳng kéo dài bao lâu. Ngày 31 tháng 12 năm 1967, ông tử trận trong một cuộc không kích của quân đội Mĩ tại Cái Bè, tỉnh Định Tường, nay là Đồng Tháp, khi mới 39 tuổi, để lại người vợ đang mang thai đứa con út. Cuộc đời người nhạc sĩ kết thúc giữa chiến tranh, còn bản Tình ca ông viết từ nỗi nhớ gia đình vẫn tiếp tục được nhiều thế hệ người Việt yêu mến. Có lẽ chẳng cần một lời bình luận nào hoa mĩ hơn về số phận ấy.

Gần hai mươi năm sau, Văn Cao viết Mùa xuân đầu tiên khi chiến tranh vừa kết thúc, đất nước đã thống nhất, nhưng bản thân người nhạc sĩ sáng tác Tiến quân ca năm xưa lại vừa trải qua những năm tháng đầy cay đắng vì hệ lụy của vụ án Nhân Văn Giai Phẩm. Sau một thời gian dài gần như vắng bóng trong đời sống ca khúc, ông trở lại với một điệu valse dịu dàng, giữa lúc những khúc hát mừng chiến thắng đang vang lên khắp nơi. Valse vốn không xa lạ với Văn Cao, nhưng trong Mùa xuân đầu tiên, điệu nhạc ấy mang một vẻ đẹp khác thường. Giai điệu uyển chuyển, những câu nhạc tiếp nối nhau mềm mại, đôi lúc như ngập ngừng trước một niềm vui mà người ta đã mong đợi quá lâu. Cách tổ chức giai điệu và xử lí hòa thanh tạo nên những sắc thái tình cảm tinh tế, khi ấm áp, khi bâng khuâng, phảng phất một nỗi buồn khó cắt nghĩa. Ở những câu hát về niềm hạnh phúc đoàn tụ, âm nhạc được nâng lên một cách tự nhiên, không cần đến những cao trào hào hùng hay những hiệu quả thanh nhạc phô trương. Tôi đặc biệt yêu sự đằm thắm ấy trong âm nhạc Văn Cao, một vẻ đẹp có được bằng tài năng và cả những trải nghiệm cay đắng của đời ông. Giữa không khí hân hoan của ngày hòa bình, người từng viết nên một trong những bản hành khúc nổi tiếng nhất Việt Nam được chọn làm quốc ca lại chọn một điệu valse để nói về hạnh phúc. Và trong tiếng nhạc ấy, niềm vui như vẫn còn nguyên nỗi bàng hoàng của những người vừa sống sót qua cuộc chiến.

Cái hay trong ca từ Mùa xuân đầu tiên còn nằm ở cách Văn Cao diễn tả một biến cố lớn của đất nước qua những hình ảnh thân thuộc của đời sống: cánh én, khói bay trên sông, tiếng gà gáy trưa và người mẹ nhìn đàn con trở về. Ông gọi mùa xuân ấy là “mùa bình thường”. Hai chữ bình thường, sau bao nhiêu năm bom đạn, nghe đến nao lòng. Chỉ những người từng sống qua chiến tranh mới thấm thía một buổi trưa không tiếng súng, một mái nhà còn đủ mặt người thân… tất cả quý giá đến chừng nào. Nhưng Văn Cao còn gửi gắm một ước nguyện sâu xa hơn trong câu hát “Từ đây người biết thương người”. Sau những năm dài chém giết, con người cần học lại cách yêu thương, biết nhìn nhận nỗi đau của nhau, kể cả của những người từng đứng ở phía bên kia cuộc chiến. Đặt trong hoàn cảnh lịch sử lúc bấy giờ, câu hát ấy mang một ý nghĩa nhân bản sâu sắc. Vậy mà số phận của Mùa xuân đầu tiên cũng chẳng mấy suôn sẻ. Dù được đăng trên báo Sài Gòn Giải Phóng số Xuân 1976 và được Đài Tiếng nói Việt Nam thu thanh, phát sóng ngay sau đó, tác phẩm chỉ xuất hiện trên sóng phát thanh một thời gian ngắn trước khi gần như vắng bóng trong sinh hoạt âm nhạc chính thức suốt nhiều năm. Phải mất một thời gian dài, công chúng mới có dịp nghe lại rộng rãi bản valse trứ danh mà Văn Cao đã viết với biết bao hi vọng về một thời hòa bình.

Tuy nhiên, thưởng thức Mùa xuân đầu tiên cũng cần một sự thành thật với lịch sử. Năm 1975, hàng triệu người Việt đã đón ngày chiến tranh chấm dứt trong niềm vui thống nhất đất nước, nhưng cũng có biết bao gia đình phải trải qua những cuộc li tán, những chuyến ra đi và những mất mát không sao kể xiết. Mỗi người mang theo một kí ức riêng về thời khắc ấy, có khi là niềm hạnh phúc, có khi là nỗi buồn theo họ suốt cả cuộc đời. Có lẽ vì vậy mà Mùa xuân đầu tiên vẫn có thể làm xúc động những người từng trải qua những số phận rất khác nhau. Người đã đón mùa xuân ấy trong niềm vui có thể tìm lại cảm xúc của mình qua tiếng hát Văn Cao; người phải rời bỏ quê hương vẫn có thể yêu giai điệu ấy, dù những gì họ nhớ về năm 1975 hoàn toàn khác biệt. Bởi một bản nhạc đẹp có thể đi vào đời sống tình cảm của mỗi người theo một cách riêng, mang theo những ý nghĩa mà đôi khi chính người sáng tác cũng không thể hình dung hết. Và người ta có thể yêu một bài hát bằng tất cả sự chân thành mà chẳng cần phải thay đổi kí ức của mình về quá khứ.

Hoàng Việt và Văn Cao đều sáng tác trong một thời đại mà mỗi lựa chọn dấn thân chính trị đều tác động sâu sắc đến đời sống tinh thần, thậm chí đến cả số phận nghệ sĩ của họ. Tình ca mang niềm tin cách mạng của Hoàng Việt, cũng như Mùa xuân đầu tiên mang niềm xúc động của Văn Cao khi đất nước vừa chấm dứt chiến tranh. Những dấu ấn tư tưởng ấy thuộc về lịch sử của hai tác phẩm, gắn liền với những xác tín và trải nghiệm riêng của người sáng tác. Nhưng tài năng của họ đã đem đến cho những ca khúc ấy một đời sống nghệ thuật lộng lẫy, với vẻ đẹp của giai điệu, sự tinh tế trong ngôn ngữ âm nhạc và những tình cảm mà thời gian càng làm cho người nghe thêm thấm thía. Di sản tân nhạc Việt Nam thế kỉ 20 được làm nên bởi biết bao tài năng ở cả hai miền đất nước, trong những hoàn cảnh và điều kiện sáng tạo khác nhau. Mỗi tác phẩm đều có một lịch sử riêng, nhưng một khi đã đi vào lòng công chúng, số phận của nó không còn hoàn toàn thuộc về người sáng tác hay thời đại đã sinh ra nó. Trên bản nhạc, người ta có thể ghi năm tháng sáng tác; nhưng chẳng ai biết được sau bao nhiêu năm, ở nơi nào, một câu hát, một giai điệu sẽ bất chợt khiến ai đó nghẹn ngào.

This entry was posted in Nghệ thuật and tagged . Bookmark the permalink.