-
Người phụ trách Văn Việt:
Trịnh Y Thư
Emails:
Văn:
Thơ:
Nghiên cứu – Phê bình:
Vấn đề hôm nay:
-
DANH NGÔN
“Thế giới này, như nó đang được tạo ra, là không chịu đựng nổi. Nên tôi cần có mặt
trăng, tôi cần niềm hạnh phúc hoặc cần sự bất tử, tôi cần điều gì đó có thể là điên rồ
nhưng không phải của thế giới này.”“Ce monde, tel qu’il est fait, n’est pas supportable. J’ai donc besoin de la lune, ou du
bonheur, ou de l’immortalité, de quelque chose qui ne soit dement peut-etre, mais qui
ne soit pas de ce monde.”(Albert Camus, Caligula).
.
“Tất cả chúng ta, để có thể sống được với thực tại, đều buộc phải nuôi dưỡng trong
mình đôi chút điên rồ.”“Nous sommes tous obligés, pour rendre la realite supportable, d’entretenir en nous
quelques petites folies.”(Marcel Proust, À l’ombre des jeunes filles en fleurs)
.
“Nghệ thuật và không gì ngoài nghệ thuật, chúng ta có nghệ thuật để không chết vì sự
thật.”“L’art et rien que l’art, nous avons l’art pour ne point mourir de la vérité.” Friedrich
(Nietzsche, Le Crépuscule des Idoles)
.“Mạng xã hội đã trao quyền phát ngôn cho những đạo quân ngu dốt, những kẻ trước
đây chỉ tán dóc trong các quán bar sau khi uống rượu mà không gây hại gì cho cộng
đồng. Trước đây người ta bảo bọn họ im miệng ngay. Ngày nay họ có quyền phát ngôn
như một người đoạt giải Nobel. Đây chính là sự xâm lăng của những kẻ ngu dốt.”“Social media danno diritto di parola a legioni di imbecilli che prima parlavano solo al
bar dopo un bicchiere di vino, senza danneggiare la collettività. Venivano subito messi a
tacere, mentre ora hanno lo stesso diritto di parola di un Premio Nobel. È l’invasione
degli imbecilli.”(Umberto Eco, trích từ bài phỏng vấn thực hiện tại Đại học Turin (Ý), ngày 10 tháng 6
năm 2015, ngay sau khi U. Eco nhận học vị Tiến sĩ danh dự ngành Truyền thông và
Văn hoá truyền thông đại chúng. Nguyên văn tiếng Ý đăng trên báo La Stampa
11.06.2015)-
Bài viết mới
- Tiễn biệt cụ Tương Lai 2 Tháng Năm, 2026
- Chốn cũ, người xưa 2 Tháng Năm, 2026
- Bị bỏ tù vì hát tình ca? Đúng thế – và ông vẫn cứ hát. 2 Tháng Năm, 2026
- Ngày thống nhất đất nước 2 Tháng Năm, 2026
- Cây nhang cho người mở cõi… 2 Tháng Năm, 2026
- Tạp chí Triết học và Tư tưởng số 17 tưởng niệm Jurgen Habermas (tapchitriet.com) 2 Tháng Năm, 2026
- Thương tiếc anh Tương Lai: CHẤM NGÒI BÚT VÀO NỖI ĐAU 1 Tháng Năm, 2026
- Tiễn biệt GS Tương Lai 1 Tháng Năm, 2026
- Kính tiễn GS Tương Lai về cõi vĩnh hằng! 1 Tháng Năm, 2026
- Khóc Tương Lai 1 Tháng Năm, 2026
- Thơ Thiền Zen Paul Vân Thuyết 1 Tháng Năm, 2026
- Lịch sử không thuộc về một phía, mà thuộc về nỗi đau của cả dân tộc 30 Tháng Tư, 2026
-
Tháng Tư
Mấy khúc hậu chiến xa vời… 30 Tháng Tư, 2026 - Những ngày cuối tháng Tư 30 Tháng Tư, 2026
- Hải phận quốc tế 30 Tháng Tư, 2026
- Vì sao lại đọc sách? 30 Tháng Tư, 2026
- Tại sao bức ảnh được Giám tuyển chọn treo tại Bảo tàng Palais de Tokyo (Paris, Pháp) ở sự kiện Leicai Tour 100 năm? 29 Tháng Tư, 2026
- Bảy tiểu thuyết chiến tranh hay nhất 29 Tháng Tư, 2026
- Một cuốn sách kỳ lạ 29 Tháng Tư, 2026
- Haruki Murakami sắp ra tiểu thuyết mới 29 Tháng Tư, 2026
- Những mảnh đời sau song sắt – ký ức không thể để quên lãng 29 Tháng Tư, 2026
- Thơ Trần Đình Sơn Cước 29 Tháng Tư, 2026
- Tiễn biệt một nhân cách hiếm có – Anh Vũ Ngọc Hoàng 28 Tháng Tư, 2026
- Mẹ Cấn Thị Thêu từ Trại giam 5 viết thư cho con trai Trịnh Bá Tư ở Trại giam 6 28 Tháng Tư, 2026
- Thơ Ái Điểu 28 Tháng Tư, 2026
- Vì sao tôi không thích đọc hồi kí? 28 Tháng Tư, 2026
- Một cú đánh đẹp! 27 Tháng Tư, 2026
- Lạc Tiên 27 Tháng Tư, 2026
-
Nhớ tới quê nhà một thời nước mắt
Đọc thơ: Vẫn sống cùng ngụ ngôn 27 Tháng Tư, 2026 - Xét xử nhà điêu khắc – biện pháp kiểm duyệt cực đoan mới từ Trung Quốc 26 Tháng Tư, 2026
- Thời và người 26 Tháng Tư, 2026
- Chúng ta nợ nhà văn 94 tuổi một lời xin lỗi thì đúng hơn 26 Tháng Tư, 2026
- Noor Hindi: Thơ cho một đất nước đã mất 26 Tháng Tư, 2026
- A Gorilla Story – bài điếu văn sống 26 Tháng Tư, 2026
- Thơ Lê Huỳnh Lâm 26 Tháng Tư, 2026
- RẤT NHỎ và RẤT LỚN 25 Tháng Tư, 2026
- Bùi Vĩnh Phúc: Phê bình Văn học như là một hành động của tình yêu 25 Tháng Tư, 2026
- Tháng Tư 25 Tháng Tư, 2026
- Gã Phục điên từ bao giờ? 25 Tháng Tư, 2026
- Người giữ rừng ký ức 24 Tháng Tư, 2026
- Tháng Tư 24 Tháng Tư, 2026
- Thơ Liêu Thái 24 Tháng Tư, 2026
- Ngày 21/4 23 Tháng Tư, 2026
- Nguyên Ngọc: Từ đại tự sự chiến tranh đến đối thoại nhân bản toàn cầu 23 Tháng Tư, 2026
- Cuộc tìm kiếm chạy vòng quanh 23 Tháng Tư, 2026
- Sergei Bekhteev: Tiếng nguyện cầu trong cơn sang chấn của đế chế Nga 23 Tháng Tư, 2026
- Bức thư không hồi đáp gửi tới người thợ bạc Đông Du 23 Tháng Tư, 2026
- Câu chuyện cuộc đời trong Nhân học 23 Tháng Tư, 2026
- Quần chúng muôn mặt 22 Tháng Tư, 2026
- Phong cách Hán Việt hỗn hợp trong văn học trung đại Việt Nam 22 Tháng Tư, 2026
- Cứu nguy nguồn nước và môi sinh Đồng Bằng Sông Cửu Long 22 Tháng Tư, 2026
- Tôi đọc Thuyền của nhà văn Nguyễn Đức Tùng 22 Tháng Tư, 2026
- Thơ Đặng Tiến (Thái Nguyên) 22 Tháng Tư, 2026
- Văn chương lưu đày và ý niệm cứu rỗi 22 Tháng Tư, 2026
- Văn Việt đến thăm nhà văn Nguyên Ngọc chiều ngày 19/4/2026 21 Tháng Tư, 2026
- A.I trong giáo dục trung học: Sự ngu muội nhân tạo 21 Tháng Tư, 2026
- Ánh đèn Trúc Chỉ và hơi thở Thiền trong thơ Nguyễn Duy 21 Tháng Tư, 2026
- Con rắn hổ chúa 20 Tháng Tư, 2026
- Kí ức và hình thức tự sự trong văn học di dân của người Việt 20 Tháng Tư, 2026
- Những “linh hồn Nga mồ côi” trên đất Pháp 20 Tháng Tư, 2026
- Tháng Tư: Khi lịch sử soi mình bên dòng Hương Giang 19 Tháng Tư, 2026
- Bộ tranh khắc gỗ Henri Oger – bản lưu trữ tại Thư viện Đại học Keio, Nhật Bản 19 Tháng Tư, 2026
- Văn chương di dân: Giải lãnh thổ hóa hay phi tổ quốc 19 Tháng Tư, 2026
- Thơ Trần Đình Sơn Cước 19 Tháng Tư, 2026
- Tôn trọng thành tựu nhưng từ chối ảo tưởng 18 Tháng Tư, 2026
- Bức tượng Âm thầm 18 Tháng Tư, 2026
- Ở thế kỷ 18, người Việt gọi chữ “Quốc ngữ” là gì? 18 Tháng Tư, 2026
- Lưu đày-Nước-Vùng biên dưới góc nhìn hiện sinh trong Thuyền của Nguyễn Đức Tùng 18 Tháng Tư, 2026
- Nghĩ về vở kịch Cô điếm lễ độ của Jean-Paul Sartre 17 Tháng Tư, 2026
- Ocean Vuong – một tâm hồn nhạy cảm từ văn chương sang nhiếp ảnh 17 Tháng Tư, 2026
- Khi một pavilion không còn là triển lãm, nó trở thành một lập trường 17 Tháng Tư, 2026
- Thơ Trần Hoàng Phố 17 Tháng Tư, 2026
- Lời cuối 16 Tháng Tư, 2026
- Truyền thần 16 Tháng Tư, 2026
- Phác thảo về văn học di dân Việt Nam 16 Tháng Tư, 2026
- Bẫy tiền – một nỗ lực của điện ảnh Việt Nam 16 Tháng Tư, 2026
- 30 tháng Tư trước sự công bằng của lịch sử 15 Tháng Tư, 2026
- Sự phục hưng của chủ nghĩa Marx trong xã hội Mỹ: Từ di sản bị đẩy ra rìa đến công cụ nhìn lại thời đại 15 Tháng Tư, 2026
- Thơ Nguyễn Bính mừng Anh Thơ lấy chồng 15 Tháng Tư, 2026
- Thơ Lê An Thế 15 Tháng Tư, 2026
- Diêm Liên Khoa và “Vì nhân dân phục vụ”, bản hoan ca trần trụi giữa đức tin và bản năng 14 Tháng Tư, 2026
- Nghệ thuật – Nơi vết thương có hình hài 14 Tháng Tư, 2026
- Một thoáng trăng Cái Mơn 13 Tháng Tư, 2026
- Một tường thuật chi tiết về hội thảo “Văn học di dân: Ý niệm lưu đày và cứu rỗi – cùng những suy tư triết học và thần học” 13 Tháng Tư, 2026
- Sách mới: “TA LÀ: Những khúc mắc siêu hình học” của giáo sư Nguyễn Hữu Liêm có gì hay? 13 Tháng Tư, 2026
- Người đàn bà sống trong chiếc giày 12 Tháng Tư, 2026
- Đọc Bùi Vĩnh Phúc: Chữ nghĩa & Không gian văn chương 12 Tháng Tư, 2026
- Siêu Nhân 12 Tháng Tư, 2026
- Đọc sách: CON NGƯỜI MỘT CHIỀU – Lý thuyết phê phán xã hội của Herbert Marcuse 12 Tháng Tư, 2026
- Ngày lễ Ivy trong phòng họp ủy ban 11 Tháng Tư, 2026
- Dịch sang tiếng Anh thế nào hai câu thành ngữ “ăn trái nhớ kẻ trồng cây” và “uống nước nhớ nguồn”? 11 Tháng Tư, 2026
- Cấu trúc quyền lực và dòng chảy giá trị trong hệ sinh thái gallery toàn cầu 11 Tháng Tư, 2026
- Sách mới của Ngu Yên: Bộ ba cuốn Thế kỷ 21– Sáng tác: Lý thuyết và thực hành truyện 11 Tháng Tư, 2026
- Nhớ anh Đỗ Đức 10 Tháng Tư, 2026
- Tưởng nhớ Jürgen Habermas: Một cuộc đời vì sự đối thoại 10 Tháng Tư, 2026
- Về tập Tư liệu thảo luận 1955 về tập thơ “Việt Bắc”[*] của Lại Nguyên Ân 10 Tháng Tư, 2026
- Thơ haiku của Masaoka Shiki (phần 2) 10 Tháng Tư, 2026
- Thủ thuật sáng tác: Khi kỹ thuật trở thành hơi thở 9 Tháng Tư, 2026
- Những người cùng thời nghĩ gì về tiểu thuyết Sông Đông êm đềm của M. Sholokhov? 9 Tháng Tư, 2026
- Điếu văn bên quan tài của Jürgen Habermas 9 Tháng Tư, 2026
Danh sách liên kết
40 NĂM THƠ VIỆT HẢI NGOẠI (7): Trần Nghi Hoàng
Trần Nghi Hoàng
Năm sinh thật: 1949, năm sinh trên giấy tờ: 1951, tại Bến Tre. Đến Mỹ năm 1975. Bút hiệu khác: Thông Biện Tiên Sinh. Chủ trương tạp chí Văn Uyển và Văn Uyển Publishing 1986-1997 (San Jose, CA). Chủ biên tuần báo Lẽ Phải 1999-2007.
Tác phẩm:
– Thày vua (Kịch bản phim, NXB Lao Động, 2011)
– Thánh địa tội ác (dịch, Sanctuary của William Foulkner, NXB Văn học, 2012)
– The firmament without cover roof (dịch thơ Bầu trời không mái che của Mai Văn Phấn, 2012)
– Trần Văn Thủy: Chuyện KHÔNG Tử Tế (tiểu luận, Kiến Văn xuất bản, 2004)
– Cõi Người Ta (phiếm luận, Viết Pub. 2002), ký bút hiệu Thông Biện Tiên Sinh
– Mở Cửa Tử Sinh (trường ca, Professional Pub. 1997)
– Truyện Người Viết Sử (9 truyện ngắn và 1 vở kịch, Văn Uyển Pub. 1997)
– Ẩn Sĩ (tuyển tập văn chương Hà Nội, TNH là tác giả duy nhất từ miền Nam có truyện “Kẻ Sĩ” in trong sách đồng thời viết tựa cho sách, Văn Thanh xuất bản 1996)
– Anh Có Thực Sự Muốn Thành Một Bồ Tát (thơ, Văn Uyển Pub. 1990)
– Gã Cùi Và Miếng Dừa Non (20 tùy bút, in chung với 10 truyện ngắn của Trần Thị Bông Giấy, Văn Uyển Pub. 1990)
– Quỷ Mỵ Truyện (18 truyện ngắn, Văn Uyển Pub. 1988)
– Lưu Vong Hành (thơ, Papyrus Pub. 1986)
– Thơ Trần Nghi Hoàng (thơ, Người Pub. 1983).
Trần Nghi Hoàng là một nhà thơ sáng tác đã lâu và viết trường ca rất sớm. Anh từng dày công gây dựng tạp chí Văn Uyển trong khoảng 10 năm, một trong những tạp chí văn học đầu tiên, nếu không muốn nói là tạp chí đầu tiên, khởi xướng khuynh hướng hội nhập giữa người Việt trong nước và hải ngoại.
Anh cũng là người gây tranh cãi khi đụng chạm tới các vấn đề xã hội chính trị, nhất là với bút hiệu Thông Biện Tiên Sinh. Mới đây, có một thời gian ngắn trở về sinh sống trong nước. Anh tiêu biểu cho những nhà thơ Việt lưu vong, xê dịch, ở nhiều nơi, làm được nhiều việc.
Ngôn ngữ, sự tập trung và tưởng tượng có thể xô đẩy những cánh cửa mở vào hoàn cảnh dị thường. Thơ anh tìm kiếm bản chất của sự vật, có những cố gắng đi đến tận cùng ký ức, nhất là với trường ca. Trần Nghi Hoàng cũng có khả năng phát hiện phép lạ ở hoàn cảnh bình thường khác, tuy nhiên có vẻ anh không chú ý lắm đến khả năng đặc biệt này của mình, trong nhiều năm, cho tới gần đây. Trong những trường hợp thành công nhất, thơ anh phá vỡ các ranh giới giữa người và người, giữa hiện tại và quá khứ. Trong khi không rời bỏ các chủ đề xã hội, dường như thơ Trần Nghi Hoàng ngày càng riêng tư, một thứ trở lại của trữ tình tình yêu.
Đó là một loại ngôn ngữ có cá tính mạnh.
Văn Việt trân trọng giới thiệu.
· Tác phẩm
BÊN KIA BỜ
Tôi đã bước qua biển Thái Bình Dương
Còn để lại một dấu chân bên kia bờ
Ở đó
Nước biển không kịp mặn
Người ta neo thuyền bằng những sợi chỉ ngũ sắc
Và gào la không cần mở miệng
Mỗi người đều tự biết nuốt cái lưỡi của chính mình
Ở đó có lũ quái vật
Rũ lông giả làm người
Chúng tự biết nhét đuôi mình vào hậu môn để che giấu
Và đậy lại bằng những chiếc ghế phù phiếm
Ở đó
Tuổi trẻ luôn ước mơ bằng cách trồng cây chuối
Và tập đi trên mặt đất bằng hai bàn tay
Ở đó những người chép sử mang kính đen
Ngồi trong bóng tối
Ghi lại mọi biến động bằng những vòng tròn và những dấu Incas
Ở đó có con diều giấu màu đỏ đã bay ra khỏi trí nhớ
Dấu vết còn nguyên trong ánh mắt xưa
Tôi đã bước qua biển Thái Bình Dương
Và đi cuộc đi không ngừng nghỉ
Những chân trời và những dấu chân phai
Một dấu chân còn sót lại
Ở đó bây giờ sóng biển rì rầm những câu thần chú
Những chiếc thuyền đứt neo
Bầy chỉ ngũ sắc bay ngợp bầu trời trắng xám
Không còn tiếng hò reo câm
Mà là tiếng đập của triệu triệu nắm tay vào thinh không
Những người chép sử mang kính đen đã chìm vào bóng tối
Và tuổi trẻ hụt hơi
Jun, 7th, 2014
NGÀY HAI MƯƠI LĂM THÁNG NĂM
Em đến muộn hai mươi lăm ngày
Sau khi loài sen tuyệt chủng
Bầy nhện căng đầy những biểu ngữ câm
Trên những ngón tay chảy máu
Có người nhẩm đếm niên đại của quỷ
Tôi gặp em lệch một ngày nắng một ngày gió
Phải chi ngày em sinh ra có tôi ở đó
Tôi sẽ bế em vào lòng
Thay tã cho em
Hát cho em nghe một bài kinh bình yên đã mất
Và sẽ đưa em ra khỏi cái không gian vô hồn
Không nhận rõ mặt người
Tôi sẽ bế em lên một chuyến xe thổ mộ
Người xà ích luôn cười và hát những lời chim
Mình sẽ đi về chốn không đâu
Rồi cùng nhau trồng lại cây trái cho trần gian
Nhưng em đã đến muộn hai mươi lăm ngày
Và không có tôi ở đó
Những đóa sen đã tàn và người xà ích đã bỏ đi
Nhưng dù gì, bây giờ mình đang ở bên nhau
Những ngày nắng những ngày gió
Mình cùng nhau nuôi một con mèo con
Và một con cún không biết sủa
Gâu gâu
May, 25th, 2014
GIẤC MƠ TRẮNG
Có những người hoàn toàn không quen biết
Bỗng nhiên đâm sầm vào giấc mơ tôi
Khi mạnh dạn xúc giấc mơ bỏ đi
Tôi còn lại một cái gì rất lớn
Một cái gì đứng ngoài xưởng mộc và đồi cát
Một con người có thể cùng một lúc hiện diện ở nhiều nơi
ở nơi này, thế giới này và ở những thế giới khác
Nhưng một con người không thể gặp chính mình ở bất cứ nơi nào
Dù ở thế giới này hay thế giới khác
Nhưng con người cảm nhận được
Bạn không được mời bạn không xin phép
Bạn đã lẻn vào giấc mơ tôi
Bạn đã xâm nhập vào một cõi riêng tư của người khác
Giấc ngủ tôi là những chuỗi giấc mơ không liên tục
Mà mỗi một giấc mơ là một khúc phim riêng lẻ
Có những đêm những giấc mơ riêng lẻ ấy
Kết nối thành một giấc mơ dài
Một giấc mơ trắng
Giấc mơ của nguyên một đêm
Chong mắt nhìn mình
Đâu đó ở một thế giới khác
Nguyên một đêm trắng không ngủ
đêm của khủng khiếp hoang vu
đêm của một mình tôi trên địa cầu này
tôi đã có bao nhiêu đêm như vậy
hãy đếm hộ tôi phía bóng tối
Tôi đã có bao nhiêu đêm như vậy
Hãy đếm giùm tôi phía ánh sáng
Ánh sáng và bóng tối không còn đối mặt nhau
Ánh sáng và bóng tối chứa cho nhau, chôn cất lẫn nhau
Tôi đã sống bao nhiêu đêm như vậy
Tôi sẽ còn phải sống bao nhiêu đêm như vậy
Những kẻ lạ mặt đang rình mò trong giấc mơ tôi
Có những kẻ mặt không định hình
Lẩn trốn trong giấc mơ tôi
Có những kẻ khuôn mặt luôn biến dạng
Băng ngang giấc mơ tôi
Đã rất nhiều lần tôi muốn gởi một tiếng chuông thu không
Bằng nửa giấc mơ rời
về chốn không đâu
SF, 15 tháng 3, 2013
QUA SÔNG
Ném viên đá xuống lòng sông
Giòng sông ngừng chảy
Những mặt trời trên sông ngừng trôi
Những cơn gió qua sông
Quay lại nhìn tôi
Chiều qua không một chuyến đò trên sông này
Sáng nay,
Và bây giờ
Ở bãi sông
Những hoa Bồ Công Anh đã khô chết
Sao tôi đến đây?
SF 1 tháng 3 năm 2013
BÀI CA CHO BÓNG TỐI
cắt một phần trái đất
bỏ vào âm hộ đêm
chiều trở mặt đập cánh chập choạng
như con đại bàng trúng thương trên vòm núi lửa
tôi thấy những viên sa thạch bắn vào con mắt trái
tôi thấy những hơi mưa
chập chùng con mắt phải
con mắt trái tôi còn 25% thị lực
con mắt phải tôi còn 75% thị lực
glaucoma
như vậy:
25% + 75%
cộng cả hai con mắt tôi vẫn đủ đầy 100% về phía ánh sáng
glaucoma
con mắt trái tôi mất 75% thị lực
con mắt phải tôi mất 25% thị lực
glaucoma
như vậy:
75% + 25%
cộng hai con mắt tôi mù mịt 100% ở phía bóng tối
glaucoma
tôi vẫn luôn chọn cho mình một tâm thế tuyệt đối
như tôi đang sống
vì đã nhiều lần được chết
và sẽ được chết vì đã nhiều lần phải sống
từng bóng đèn đỏ nổ dưới chân đời
mặt thời gian trở nghiêm vết nứt
trút cạn kiệt tôi trên những lục địa hoang tàn tôi đã đi qua
lại đổ tràn đầy vào tôi
bằng những đại dương bát ngát tôi có lần ghé tới
đã có lúc tôi vô cùng mệt mỏi
chỉ muốn làm loài gấu chui vào vết nứt thời gian ngủ dài một giấc đông miên
một giấc triền miên
và vết nứt thời gian
nằm về phía bên kia của ánh sáng
điều tín phục bủa vây triển hạn
lũ chuồn chuồn đen bay ngợp lấp mặt trời
ngày cạn nắng
nên chiều trở mặt
những bóng đèn đỏ bây giờ nổ trong tôi
ngõ tía xênh xang (chiều đã rụng)
đóng cửa căn phòng kiếp trước
ai ngồi cười khóc cùng tôi
năm năm, mười năm, hai mươi năm
cánh của im hơi bóng ai chìm trên khoảng tường mất dấu
rất riêng tôi cùng bóng tối quẩn quanh
rất riêng tôi và ở một mình tôi
bên cánh cửa im hơi
bên ngoài cánh cửa câm
tôi có còn điều […. ] muốn nói?????
ai có còn điều [….. ] muốn nói????
bằn bặt thẳm sâu từ tận cùng bóng tối
ánh sáng trở thành VÔ NGHĨA LÝ ĐƯƠNG NHIÊN
và tôi muốn cùng bóng tối hồn nhiên
SỐNG một bận như bao lần đã CHẾT
như loài sóc đu trên cành tuyệt vọng
trái thời gian treo lửng giữa không gian
vết nứt thời gian và
vết nứt không gian
bỗng khớp lại thành TRÁI ĐỜI TẨM ĐỘC
cuộc hành hương của thời gian đi tìm một không gian đã mất dằng dặc nghìn triệu năm miết biệt bời bã giữa đường
luôn luôn ở giữa những con đường
những con đường đêm hiu hắt
đèn mù hơi khuya
là phía của bóng tối
nên bóng tối là âm hộ của đêm
nên bóng tối là sinh mệnh của thiên thu
chằng chịt những điều hứa những vòm lá những tơ nhện ngoài trí nhớ
còn lại là tiếng hú của loài mãnh sư trong thời tuyệt chủng
băng băng qua đỉnh núi chớn chở vướng vất những chiếc cánh của con đại bàng trúng thương
đã rớt vào miệng núi lửa ngụt ngàn
không là tro cốt dĩ vãng
không là son phấn hoa đăng
khúc requiem cần rất nhiều khoảng lặng
(những khoảng lặng nằm phía bên kia ánh sáng)
những khoảng lặng của vô cùng bóng tối
cho hai con mắt của tôi
cho hai con mắt của riêng tôi
còn trái tim không nằm trong hai con mắt
tất nhiên
trái tim nằm ngoài ánh sáng và bóng tối
nên trái tim cũng nằm ngoài tội lỗi
Sept 29 – 2007
English version
ON THE FURTHER SHORE
I step across the Pacific;
One footprint remains on the other shore
Where the untimely tide brings them no brine
Where people tie up their boats with the magic five-color thread
And howl without opening their mouths
And everyone knows how to swallow his tongue.
Over there one kind of animal knows how to strip down into a human being:
They can push their tails into their assholes and cover them with many chairs.
There youth nurses its dream upside down;
They practice walking the earth on their hands.
There the historians wear black glasses and sit in the dark
And record events by circles and Inca signs.
Still there is a paper kite that flies up out of memory,
The sight of it unforgotten in the glance of the old times.
I step across the Pacific
And one footprint remains on the further shore.
There now the sound of the wave whispers like a tantra
And the five-colored thread broken flies through the bright grey sky
And people can’t even howl silently any more
But only punch the air with their fists.
And the historians wear black glasses and melt in the dark.
And the youth don’t have enough air to breathe.
Jun, 7th, 2014
THE WHITE DREAM
There is someone I absolutely don’t know:
Suddenly he bursts into my dream.
When I sharply scoop up the dream and throw it out
Something immense remains.
In one second a person can be in many places:
Here in this world, and in other worlds too.
But a human being can’t see himself anywhere
Either in this world or in another;
But you can feel it.
You were not invited, you didn’t ask my permission,
You sneaked into my dream.
You invaded my dream.
You invaded a private world.
My sleep is dream following dream,
So the dream itself is a shot in a movie.
Some nights that kind of dream
Sticks together to make one long dream.:
A white dream,
A dream for a whole night
That opens its eyes and looks at me
Somewhere in another world.
That whole white night I didn’t sleep,
A night of terrible emptiness,
Night of myself alone in this universe.
How many nights like that did I have?
Dark side, please count them for me.
How many nights like that did I have?
Light side, please count them for me.
Light and dark aren’t face to face any more.
Light and dark contend with each other, buried together.
How many nights like that have I lived?
How many nights like that must I go on living?
These strangers spy on me in my dream,
Some of them with unidentifiable faces,
Hiding in my dream.
Some had faces that changed continually
And crossed my dream.
Often I wanted to send the sound of the evening bell
With half of my dream
To nowhere.
March, 15th, 2014
Translated by Tran Nghi Hoang and Frederick Turner
ACROSS THE RIVER
I throw a stone into the stream,
The water ceases to flow.
The suns in the river stop dancing,
The wind crossing the river
Turns round and looks at me,
The afternoon passes.
There is no ferryboat on this river.
And now
on the riverbank
the dandelions have withered into blowballs.
Why did I come here?
SF March, 1fs, 2013
Translated by Tran Nghi Hoang and Frederick Turner
