Phạm Đình Trọng

Nhà văn Phạm Đình Trọng
NHỚ NGỌN GIÓ HEO MAY
Tôi đã có nhiều năm là lính thông tin vô tuyến điện bảo đảm thông tin chỉ huy cho bộ Tổng Tư Lệnh làm việc trong thành cổ Cột Cờ Hà Nội. Nhiều năm sống trên mảnh đất hoàng thành Thăng Long. Nơi mỗi sớm mai màn sương đêm mơ hồ, mỏng mảnh còn la đà dập dềnh theo cơn gió thoảng trên ngọn cỏ sân vận động Cột Cờ bên bức tường gạch cổ cổng Đoan Môn như hơi thở của mảnh đất dấu xưa xe ngựa hồn thu thảo. Nơi mỗi chiều tà màn sương khói mờ ảo lại bảng lảng trên vòm lá rậm rì hai hàng xà cừ cổ thụ vạm vỡ bên đường bê tông nhựa dẫn ra cổng Cửa Bắc, bên đoạn đường rợp bóng xà cừ ra cổng Cửa Đông làm cho hàng cây như chìm nổi, như ẩn hiện trong quá vãng lịch sử.
Ngày đó chưa có những đập thuỷ điện trên thượng nguồn sông Hồng. Từ tháng bảy, tháng tám hàng năm, nước sông Hồng ngoài đê đỏ sậm, sóng sánh phù sa, ào ạt dâng lên, ngập lút khung cửa những ngôi nhà mái tranh, mái giấy dầu, ngập lút ngọn ngô xanh tốt trên bãi phù sa Phúc Xá. Dân sống ngoài đê Phúc Xá phải chuyển giường, tủ vào trong phố Hà Nội, dựng lều ni lông, lều bạt sống qua suốt mùa lụt trên hè những phố Tây vắng vẻ: Tông Đản, Cổ Tân, Lê Phụng Hiểu… phố chỉ có những biệt thự tách biệt giữa những cây cao bóng cả, vòm lá xum xuê, không có cửa hàng buôn bàn, hè rộng, đường vắng. Suốt mùa mưa, dòng sông tạo ra nền văn minh sông Hồng vừa hối hả bồi đắp cho đồng bằng sông Hồng thêm một lớp phù sa màu mỡ, vừa âm thầm tiếp thêm sức vóc cho châu thổ sông Hồng lớn lên, soải chân ra biển Đông.
Những năm tháng đó dù có đội quân nông dân tham gia kháng chiến chống Pháp thắng lợi tràn vào làm chủ Hà Nội nhưng cũng có khá nhiều người Hà Nội đi kháng chiến trở về như bác sĩ Trần Duy Hưng, người gốc làng Canh Diễn, huyện Từ Liêm ngoại thành Hà Nội nhưng sinh ra ở phố cổ kinh kì Hàng Bông Thợ Nhuộm, là thị trưởng Hà Nội từ tháng chín, 1945, ngay sau khi nhà nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà ra đời đến khi nghỉ hưu năm 1977. Chưa đến nửa triệu dân, phố xá Hà Nội còn thưa vắng và các đô thị miền Bắc mới chỉ bắt đầu công cuộc nông thôn hoá, bần cùng hoá, Hà Nội còn giữ được nét cổ điển kinh kì, còn giữ được nếp xưa hào hoa, lịch lãm.
Ngọn gió huyền thoại từ Hồ Tây, lớp rêu thời gian trên vách tường cổng Đoan Môn, trên vách cổng thành Cửa Bắc, hơi thở kẻ chợ của ba mươi sáu phố cổ Hàng Buồm, Hàng Mã, Quán Thánh, Hoè Nhai và hơi may se lạnh gợi cảm chỉ có ở mùa thu Hà Nội cũng âm thầm bồi đắp cho tôi một lớp phù sa hồn Hà Nội.
Trong hơi may se lạnh gợi cảm mùa thu, tôi hình dung ra cuộc dời đô trọng đại, lớn lao nhất trong lịch sử dựng nước Đại Việt được thực hiện vào mùa thu năm Canh Tuất, 1010. Cuối hè chớm thu. Mùa mưa sắp kết thúc. Những khối nước còn tích tụ trong những đám mây mọng nước dồn dập trút xuống. Những trận mưa còn đang dư dả nước. Đêm đêm chớp sáng rạch trên nền trời phía biển đông là trên nguồn phía tây, mưa sầm sập đổ xuống rừng già, thác xối ào ào trắng xoá trên vách đá. Qui luật thiên nhiên đó đã đi vào thành ngữ dân gian: chớp bể, mưa nguồn. Ngàn năm trước, nền đất phù sa châu thổ sông Hồng cón khá thấp, nước còn lênh láng và sông ngòi còn chằng chịt như kênh rạch miền tây Nam Bộ ngày nay. Mùa mưa, nước từ trên trời trút xuống, nước từ đầu nguồn dồn về. Châu thổ sông Hồng càng mênh mông nước.
Giữa mùa mưa, đầu tháng tám, chuyến thuyền tiền trạm đầu tiên nhổ sào từ Hoa Lư ra Đại La mở đầu cuộc dời đô lịch sử. Từ đó, hơn hai tháng trời ròng rã những chuyến thuyền đi về đan trên sông nước như con thoi đưa bá quan văn võ cùng gia đình và tiện nghi sinh hoạt, cả ngựa, xe, cả những vật liệu quý hiếm xây dinh, xây phủ được chuyển từ kinh đô cũ ra kinh đô mới. Thuyền lớn của triều đình. Thuyển nhỏ của gia đình các quan. Thuyền lớn, thuyền nhỏ hối hả nhiều chuyến đi về giữa Hoa Lư và Đại La. Lịch sử nước Đại Việt là dòng chảy từ phía bắc xuôi về phương nam nhưng cuộc rời đô triều Lý lại tạo ra đoạn ngắn chảy ngược từ nam ra bắc. Giữa tháng mười năm Canh Tuất 1010, cuộc dời đô mở ra tầm nhìn xa rộng cho nước Đại Việt mới hoàn tất. Từ đây Đại La chính thức mang tên mới: kinh thành Thăng Long, triều vua Lý Thái Tổ, nước Đại Việt.
Ngàn năm trước kinh thành Thăng Long còn lênh láng nước sông lớn Hồng Hà và ăm ắp dòng những sông nhỏ Tô Lịch, Kim Ngưu, Lục Thuỷ… những chi lưu của sông Hồng. Nước nối liền sông với hồ. Hồ tràn nước ra sông. Sông san nước vào hồ. Vì vậy ngồi trên thuyền có thể đến mọi ngả, mọi nẻo đất vùng kinh kì Thăng Long. Từ hoàng thành đến ngôi chùa mới xây ở phủ Tây Hồ, bắc Thăng Long, đến xóm dân trồng dâu nuôi tằm ở Linh Đàm, nam Thăng Long. Ngày rộng tháng dài có thể dong buồm đi khắp châu thổ sông Hồng.
Một sáng cuối tháng mười, năm Canh Tuất, 1010, vua Lý Thái Tổ đi thuyền ngắm nhìn nơi định đô mới như ngắm nhìn cơ đồ nhà Lý, ngắm nhìn non nước Đại Việt. Sông nước dạt dào, chòm xóm xanh ngút ngát dưới khí thiêng Ba Vì, dưới bóng thần Tản Viên. Yên Phụ. Nghĩa Dũng. Tam Đa. Trích Sài. Nghi Tàm. Quảng Bá. Nhật Tân. Đồng Nhân. Trúc Bạch. Lục Thuỷ… những địa danh sau này là đồng bãi, là chòm xóm, là hồ lớn hồ nhỏ, là bãi ngô, ruộng lúa, vườn đào còn lúc đó chỉ là những doi đất loi thoi trên biển nước mênh mông. Chòm xóm trên những bãi nổi nhấp nhô trên sóng nước. Thuyền đi từ hoàng thành ra Lục Thủy, Phúc Xá, Quảng Bá, Nhật Tân trong lãng đãng sương khói, trong se se hơi lạnh ngọn gió heo may.
Sông Hồng khi cuồn cuộn hối hả, khi lặng lẽ chậm rãi đều không ngừng chuyển phù sa từ rừng thẳm nùi cao non nước tây bắc ra cửa biển phía đông nam. Phù sa lắng xuống, đầy lên theo năm tháng thành doi, thành cồn, nắn dòng, đẩy sông Hồng nhích dần lên phía Bắc, để lại phía bờ Nam sông ngan ngát màu xanh đồng bãi và dập dờn sóng nước những hồ lớn, hồ nhỏ. Sông Lục Thuỷ bị phù sa tự nhiên lắng lại, lấp cửa đổ ra sông Hồng và bị con người lấp dần phía thượng lưu chỉ còn đoạn sâu nhất trở thành hồ Lục Thuỷ, nay là hồ Hoàn Kiếm. Hồ tiếp hồ chi chít bao quanh kinh thành: Bảy Mẫu. Ngọc Khánh. Đồng Nhân. Kim Mã. Thủ Lệ. Hữu Tiệp… Bãi nối bãi: Thái Hoà. Khán Xuân. Trích Sài. Nghi Tàm. Quảng An. Nhật Tân… thành xóm dân, thành nương dâu, vườn đào, bãi rau bao quanh cái hồ mênh mông sóng nước như biển cả vốn là khúc lượn của sông Hồng bị phù sa bồi lấp tách ra khỏi sông Hồng thành hồ lớn phía Tây sông, được dân gian gọi tên là Hồ Tây.
Để lại một quãng đời lính tuổi hai mươi ở mảnh đất kinh đô ngàn năm rồi ngọn lửa chiến tranh đưa tôi đi khắp rộng dài đất nước. Từ thành cổ Cột Cờ Hà Nội, tôi mang hồn kinh kì, hồn Hà Nội, mang nỗi nhớ ngọn gió heo may đến miền đồi trung du. Những giờ học chiến thuật ở trường Sĩ quan Thông Tin, mồ hôi tong tong nhỏ xuống đất đồi Hiệp Hòa, Bắc Giang. Phút nghỉ giữa buổi tập dưới bóng tre chân đồi trong nắng lửa đồi trọc trung du, tôi lại nhớ trận mưa rào Hà Nội. Nhớ hình ảnh ông bạn lính Phạm Đức cùng dân học trò Hải Phòng với tôi có cô bạn học Phạm Bích Ngọc đang là sinh viên trường đại học Mỏ – Địa Chất từ trường mãi Quảng Ninh về Hà Nội thăm Đức. Đôi bạn lính và sinh viên đang dìu dặt đi dạo trên phố Cửa Nam thì mưa rào mùa hạ trút xuống.
Ngày ấy chỉ những phố phường kẻ chợ, Hàng Ngang, Hàng Đào, Đồng Xuân, Bắc Qua… mới nhộn nhịp người, xe. Người cũng chỉ mong manh áo vải thô của dệt Nam Định. Xe cũng chỉ thô sơ xe đạp, xe xích lô, xe ba gác. Có cả những chiếc xe hai vòng tròn lớn bánh xe bằng gỗ được bò đủng đỉnh kéo từ bến Phà Đen chở than chậm chạp lăn bánh trên đường phố dọc theo triền đê sông Hồng: Trần Quang Khải, Trần Nhật Duật, Yên Phụ. Còn những phố công sở và biệt thự quan to Phan Đình Phùng, Hoàng Diệu, Trần Phú, Cột Cờ, Cửa Nam, Tràng Thi, Bà Triệu… chỉ loáng thoáng xe đạp dưới lòng phố và lác đác người đi bộ trên vỉa hè. Thỉnh thoảng mới có chiếc ô tô Liên Xô thoáng qua. Xe Volga đen bóng chở lãnh đạo cấp bộ trưởng trở lên. Xe Pobeda màu trắng chở cán bộ cấp thứ trưởng. Xe tải Molotova chở hàng. Trời mưa thì phố dài hun hút vắng tanh. Đôi bạn lính và sinh viên cứ đầu trần đội mưa thong dong đi trên phố vắng được mưa gội rửa sạch bong và mát rượi.
Cầm tấm ảnh Đức và Ngọc đầu tóc, áo xống ướt sũng chụp ở hiệu ảnh Quốc Tế nổi tiếng phố Hàng Khay nhìn ra dãy kiosque bán hoa bên hồ Hoàn Kiếm, Đức kể với tôi về trận mưa mùa hè Hà Nội năm 1964, mùa hè bình yên cuối cùng trước khi Hà Nội bước vào chiến tranh. Trận mưa tắm mát tình yêu của Đức cũng tắm mát cả tuổi trẻ của chúng tôi. Trận mưa mùa hè Hà Nội năm ấy vừa có vị ngọt ngào tuổi học trò, vừa có vẻ lãng mạn tuổi trẻ của cả lứa học trò vào đời trong màu áo lính chúng tôi. Vì vậy trong nắng lửa trên đồi trung du Bắc Giang, mồ hôi ướt đẫm áo lính tôi lại nhớ đến trận mưa mùa hè Hà Nội trong câu chuyện của ông bạn lính cùng lứa với tôi.
Hành quân dã ngoại dòng dã trong dải rừng Yên Thế, Bắc Giang của nghĩa quân Hoàng Hoa Thám tôi lại nhớ những đêm đeo bao lô xếp ba mươi viên gạch rèn bước chân hành quân quanh hồ Tây.
Lập cụm thông tin vô tuyến điện trong những hang đá hoang sơ tiền sử ở Hữu Lũng, Lạng Sơn tôi lại nhớ những đêm thức đến sáng bên chiếc máy vô tuyến điện đỏ đèn trong lô cốt bê tông quân Pháp để lại bên cổng Cửa Đông thành cổ Hà Nội. Đêm nào chúng tôi dậy thay ca cũng nghe văng vẳng tiếng loa hướng dẫn khách đi tàu từ ga Hàng Cỏ dội đến tận thành cổ Cột Cờ. Tiếng loa từ ga Hàng Cỏ đã đi vào báo tường của lính. Đến nay tôi không còn nhớ ông bạn lính nào của tôi viết bài báo tường về đêm thay ca nhưng câu thơ bài báo tường có vũ trụ thăm thẳm và đất nước thân yêu cùng thức với người lính, cùng đi vào ca làm đêm với người lính thì tôi nhớ mãi:
Nửa đêm, nửa giấc dậy thay ca
Lấp lánh trên không giải Ngân Hà
Chênh chếch ai treo chòm Bắc Đẩu
Tàu về Hàng Cỏ rộn tiếng loa.
Sau trận sốt rét rung sạp nứa, nằm một mình trong căn hầm nửa chìm dưới tán rừng già miền tây Kông Tum tôi bỗng nhớ những dãy giá cao ăm ắp sách và những cuốn sách say đắm trong thư viện quân đội trên tầng hai toà nhà câu lạc bộ Quân Nhân bên sân vận động có tên Cột Cờ. Ngày đó còn rất nhiều sĩ quan trong thành cổ vốn là lớp tuổi trẻ có học, có vốn tiếng Pháp của Hà Nội đi kháng chiến chống Pháp viết lên tên vàng Điện Biên Phủ trong lịch sử rồi trở về làm việc ở bộ Tổng tham mưu gọi tên sân vận động trong thành cổ Cột Cờ theo tiếng Pháp là sân Mang Gianh, Manzin. Trong đội quân nông dân mặc áo lính, những sĩ quan biết tiếng Pháp, có văn hoá đô thị hiếm hoi lắm. Rất may là ngay sau cuộc kháng chiến chống Pháp ở cơ quan bộ tổng tham mưu trong thành cố Cột Cờ có khá nhiều những sĩ quan như vậy.
Ra Trường Sa sống với những người lính trên đảo nhỏ An Bang ngay sau 1975, buổi sáng người lính phải dè sẻn từng ca nước ngọt đánh răng, rửa mặt tôi lại nhớ những buổi chiều sau trận quần nhau với quả bóng da trên sân cỏ Cột Cờ, đám lính trẻ chúng tôi ào vào nhà tắm rộng có bể nước lớn ở giữa. Vòi nước máy lúc nào cũng chảy nên bể nước lúc nào cũng gần đầy. Từ thiếu tá tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 77 thông tin liên lạc Phạm Đề đến lính binh nhất, hạ sĩ đều trần truồng lồng lỗng, ào ào múc nước ở bể dội lên đầu.
Dù ở bất kì đâu, tháng mười, mùa thu về lại gợi cho tôi nỗi nhớ Hà Nội và nỗi nhớ thăm thẳm nhất, bền bỉ nhất là nỗi nhớ ngọn gió heo may xào xạc trên vòm sấu, nhớ hơi may gợi cảm và nhớ sương khói Hồ Tây. Trong nỗi nhớ mênh mang, những mảnh kí ức Hà Nội, những mảnh hồn Hà Nội lại ùa về trong tâm trí tôi. Mỗi lần nhớ viết vài trang. Nhiều năm nhớ Hà Nội trong xa cách đã cho tôi có tập kí sự Những Mảnh Hồn Hà Nội.
ĐƯỜNG ĐẾN CHỐN XƯA
Nối tiếp quãng đời học trò của tôi là quãng đời lính. Dấu mốc thời gian của bước ngoặt đó là ngày 29 tháng sáu, năm 1963. Nối tiếp con đường đến trường là những chặng đường hành quân suốt rộng dài đất nước. Và chặng đường hành quân đầu tiên bằng xe lửa đi từ Hải Phòng lên Hà Nội. Đến ga Hàng Cỏ, Hà Nội, chuyển sang con tàu đi về phía Nam. Đến ga Đồng Văn, Hà Nam, xuống tàu, hành quân bộ đi về phía Tây. Một thiếu úy không còn trẻ lặng lẽ dẫn chúng tôi đi. Ông thiếu úy lầm lì im lặng như người chăn bò và đàn bò là chúng tôi chỉ biết hướng đi mà không biết sẽ đi đến đâu. Sau này về trung đoàn tôi mới biết ông thiếu uý tên Ân tuổi gần bốn mươi quá già dặn so với quân hàm thiếu uý là y sĩ quân y trung đoàn. Người lính già mang quân hàm mốc meo đưa chúng tôi vào cuộc đời lính như báo cho chúng tôi biết rằng thang bậc quân hàm chúng tôi rồi cũng mốc meo như quân hàm của ông thiếu uý già đưa chúng tôi vào cuộc đời lính mà thôi!
Đám lính mới chúng tôi gồm học trò hai trường cấp ba, trường Thái Phiên, trường Ngô Quyền và những người thợ trẻ. Thợ nhà máy cơ khí Duyên Hải. Thợ nhà máy xi măng. Thợ may hợp tác xã may mặc ở thành phố công nghiệp Hải Phòng. Cả thợ đứng máy cưa ở xí nghiệp chế biến đồ gỗ. Trên người chúng tôi vẫn quần áo dân sự mặc hàng ngày. Chỉ thấy chút lính ở chiếc mũ cối trên đầu được phát ở nơi tập trung, mảnh sân rộng trước hai toà nhà liền nhau, cửa luôn đóng im ỉm như nhà kho hàng hoá của các cửa hàng mậu dịch quốc doanh. Mảnh sân rộng với cây đa có bộ rễ sum suê cách ga Hải Phòng phía bên phải vài khối nhà chính là nơi tôi nhận chiếc mũ gắn ngôi sao quân hiệu, nơi tôi từ biệt tuổi học trò, từ biệt thành phố tuổi thơ, nơi xuất phát cuộc hành quân đi qua tuổi trẻ của tôi. Và chặng hành quân bộ đầu tiên của đám lính mới chúng tôi cũng nhốn nháo, ồn ào như đám học trò đi cắm trại, cũng lộn xộn như đàn bò trên đồng cỏ.
Hành quân một giờ lại nghỉ mười phút. Nơi dừng nghỉ đầu tiên là cầu Nhật Tựu giữa cánh đồng lúa thửa vàng thửa xanh thuộc tỉnh Hà Nam. Qua thị trấn Vân Đình quê mùa, qua cầu Tế Tiêu trên sông Đáy thuộc huyện Ứng Hoà, Hà Đông, chúng tôi nhằm hướng những dãy núi giăng giăng phía Tây thuộc tỉnh Hòa Bình đi tới. Qua điểm dân cư nghèo nàn, đìu hiu nhưng có tên gọi rất quen thuộc với tôi: Chợ Bến.
Những ngày đi học, buổi sáng đến trường, buổi chiều ra bãi Bonnal đá bóng, buổi tối mang tập truyện đã đọc đến thư viện thành phố ở phố Điện Biên Phủ tìm đổi sách. Trả tập sách đã đọc, mượn tập sách chưa đọc rồi về nhà làm bài. Ngoài sách văn chương kinh điển, Thuỷ Hử của Thi Nại Am, Những Người Khốn Khổ của Victor Hugo, Sông Đông Êm Đểm của Mikhain Solokhov… tôi còn ngưỡng mộ tìm đọc nhiều sách kí sự, hồi kí kể về những người cộng sản lứa đầu, Tô Hiệu, Lương Khánh Thiện, Nguyễn Đức Cảnh, Nguyễn Lương Bằng, Ngô Gia Tự, Nguyễn Văn Cừ… Những tập kí sự, hồi kí cho thấy phẩm chất sáng chói nhất của người cộng sản là trong nhà tù của thực dân Pháp thống trị. Chợ Bến là địa danh thường được nhắc đến trên chặng đường dằng dặc bị dẫn giải từ nhà tù này đến nhà tù khác của những người cộng sản.
Một địa danh nổi tiếng vậy mà hiệu may, cửa hàng tạp hóa, đến hiệu chụp ảnh đều vách đất, mái tranh nghèo nàn, xưa cũ như từ thời chị Dậu, lão Hạc. Như vẫn im lìm trong giấc ngủ giữa đêm dài tối tăm của xã hội nông nghiệp trì trệ, cố hủ. Chỉ có nhà bưu điện nhỏ bé như một ki ốt bán hàng là tường xây, mái ngói nhưng cũng âm thầm như những quán hàng mái tranh vách đất. Chợ Bến, Chợ Bờ mà chẳng thấy bến, thấy bờ đâu. Chỉ có con đường nhựa già nua, lớp nhựa bê tông từ thời Pháp thuộc đã bị mưa nắng bóc đi từng mảng. Con đường bong tróc và thị trấn đìu hiu không một bóng xe. Xe đạp, xe bò cũng không. Chỉ loáng thoáng bóng người quần áo xỉn màu đen, màu nâu. Qua khỏi Chợ Bến chúng tôi gặp quốc lộ 21, chỗ có những dãy nhà kho lương thực, những dãy nhà dài tường xây cao, mái ngói đỏ trên nền xi măng cao.
Đìu hiu vậy nhưng trong suốt thời gian đóng quân ở cửa rừng Hòa Bình, Chợ Bến là kinh đô ánh sáng của chúng tôi dù ở doanh trại có máy phát điện cung cấp điện sinh hoạt cho lính từ giờ đọc báo buổi tối đến lúc kẻng báo giờ ngủ, chín giờ ba mươi, còn Chợ Bến thì chưa hề biết đến ngọn đèn điện. Chủ nhật đầu tiên được nghỉ, chúng tôi diện đồ lính mới với quân hàm binh nhì đỏ chót có ngôi sao ở giữa như lá cờ trên ve cổ áo háo hức đi bộ sáu cây số ra Chợ Bến lũ lượt vào nhà bưu điện gửi thư về cho gia đình, bạn bè, rồi lại nối nhau vào hiệu ảnh chụp tấm ảnh đầu tiên với quân phục, quân hàm mới tinh, đánh dấu một cột mốc, một bước ngoặt cuộc đời. Trên mái nhà lá hiệu chụp ảnh đơn sơ có một khoảng mái lá được thay bằng tấm kính đế lấy vạt ánh sáng trời soi vào chỗ khách ngồi chụp ảnh. Chỉ có lính ra vào hiệu chụp ảnh và hiệu chụp ảnh lấy ánh sáng bằng tấm kính trên mái lá ở thị trấn Chợ Bến heo hút như ra đời và tồn tại chỉ để giúp cho đám lính mới chúng tôi, hết đợt này đến đợt khác, đứa nào cũng có được tấm ảnh buổi ban đầu của cuộc đời lính.
Rẽ trái vào quốc lộ 21 đi gần cả tiếng nữa, rẽ phải vào con đường đất thoai thoải dốc lên, lổn nhổn sỏi đá nhưng hằn rõ vết bánh xe ô tô trên đất đỏ quánh khô. Con đường dẫn chúng tôi băng qua những vạt đồi lúp xúp sim, mua đến doanh trại, những tòa nhà dài hai tầng mái ngói mới đỏ tươi, mỗi nhà hai cầu thang lên tầng trên xây ngay phía trước nhà. Đến nơi đóng quân việc đầu tiên chúng tôi quan tâm là xác định vị trí của mình trong bản đồ địa lí đất nước và xác định địa chỉ thư tín để kết nối với gia đình, bầu bạn: Doanh trại trung đoàn 205 cục Thông Tin Liên Lạc trên Đồi Sim bên quốc lộ 21, xã Quèn Chương, huyện Kim Bôi, tỉnh Hòa Bình.
Trung đoàn 205 là đơn vị huấn luyện thông tin tổng hợp gồm bốn tiểu đoàn. Tiểu đoàn 1 hữu tuyến. Tiểu đoàn 2 vô tuyến. Tiểu đoàn 3 cơ động. Tiểu đoàn 4 thông tin tiếp sức. Mỗi tiểu đoàn một bếp ăn. Phần lớn đám lính học sinh Hải Phòng được biên chế về đại đội đào tạo báo vụ vô tuyến điện, đại đội 5, tiểu đoàn 2. Về đại đội 5 trước chúng tôi ít ngày là tốp lính mới nhập ngũ từ trường cấp ba Yên Hòa, Từ Liêm, Hà Nội trong đó có Nguyễn Việt Quyền quê Mễ Trì, Từ Liêm sau này là ông bạn lính thân thiết với tôi. Đại đội 5 thay bao bì trên người chúng tôi, biến chúng tôi từ anh học trò, anh thợ dân sự thành người lính thực sự, nhuộm chúng tôi xanh màu lá rừng trong những bộ quân phục vải ka ki dày cộp.
Trước khi vào lớp học báo vụ với những dãy bàn học gắn ma nip, với cặp nghe tín hiệu choàng trên đầu, áp vào tai, chúng tôi phải trải qua hai tháng phơi nắng, tắm mồ hôi trên đồi trọc dưới nắng lửa cuối hè. Tháng tám nắng rám quả bòng. Tháng tám lịch ta đã sang thu, nắng còn đốt rám quả bòng như thành ngữ dân gian ghi nhận. Đóng bộ đồ ka ki dày cộp, chỉ đứng hàng ngang trên đồi sỏi đá, dưới nắng lửa tháng bảy lịch tây, tháng sáu lịch ta, nghe giáo viên huấn luyện hạ khoa mục, binh nhì Vũ Đức Hùng vốn xuất thân thợ may đã ngất xỉu. Chỉ với chiếc xẻng cá nhân, sau sáu mươi phút phải hoàn thành công sự chiến đấu trên đất đồi sỏi đá. Mồ hôi túa ra nhưng không thấm được vào lớp vải ka ki mới cứng, dày cộp, những dòng mồ hôi chảy ròng ròng trên người. Nắng chang chang từ trên trời dội xuống, từ sỏi đá hắt lên, Nóng hầm hập từ trong người bốc ra. Sau một ngày học khoa mục đào công sự, hơn năm giờ chiều về đến doanh trại, lính vừa trút bộ binh phục mo nang ra cho nhẹ người thì còi báo động chiến đấu dồn dập cất lên. Lại vội mặc lại bộ đồ mo nang, xỏ giầy, đội mũ, khẩu súng dài CKC trên vai, ba lô sau lưng, chạy ra sân tập hợp. Lính nối nhau, hàng một chạy theo chuẩn uý, đại đội phó Bùi Đình Dân ra đường 21. Trên chặng đường chạy 12 kilomet, lại thêm mấy người ngất xỉu, nằm bất tỉnh trên đường. Thật may, dù mệt đứt hơi tôi vẫn guồng chân trong đội hình, nuốt trôi mười hai cây số chạy báo động.
Sau những năm dồn sức khôi phục kinh tế, nhiều nhà máy mới mọc lên trên miền bắc xã hội chủ nghĩa, tạo ra những sản phẩn công nghiệp lần đầu tiên Việt Nam tự sản xuất được. Tuy chỉ là những sản phẩm tiêu dùng thông thường, đơn giản cũng tạo được niềm tin cho người dân. Ở Hải Phòng có cá biển đóng hộp của nhà máy đổ hộp Hạ Long. Hà Nội có xe đạp Độc Lập của nhà máy xe đạp Thống Nhất, có kẹo Nuga của nhà máy bánh kẹo Hải Châu, có bao thuốc là Thăng Long, Điện Biên, Tam Đảo của nhà máy thuốc lá Thăng Long, có phích giữ nước sôi Rạng Đông của nhà máy bóng đèn, phích nước Rặng Đông. Ở Thái Nguyên có lò cao luyện thép cho ra đời những mẻ thép Made in Vietnam… Ở nông thôn, người nông dân còn đang trong buổi đầu phấn khởi, tin tưởng vào hợp tác xã nông nghiệp, còn đang hào hứng, hi vọng vào lề lối làm ăn mới của hợp tác xã. Bộ máy quản lí hợp tác xã với những nông dân ít học và mang nặng căn tính tiểu nông tư lợi chưa bộc lộ rõ những yếu kém và chưa ngang nhiên giở dói thói vụ lợi, đục khoét. Các cửa hàng mậu dịch quốc doanh với sản phẩm của nền công nghiệp các nước xã hội chủ nghĩa, hàng hoá còn khá dồi dào. Mỗi mùa xuân về, nhà thơ Tố Hữu lãnh đạo bộ máy tuyên truyền của nhà nước công nông lại có bài thơ như phát ngôn chính thức của nhà nước ghi nhận một cột mốc thời gian huy hoàng, một bước đi vững chắc trên con đường tiến lên chủ nghĩa xã hội. Thơ xuân 1961 của Tố Hữu sang sảng reo lên: “Chào sáu mốt đỉnh cao muôn trượng”
Giữa năm 1963, cả miền Bắc còn rất thanh bình. Khắp các nẻo đường tưng bừng những công trường xây dựng. Những nhà máy mới, những khu dân cư mới mọc lên. Hiện thực đó đã đi vào thơ Xuân Diệu trong bài thơ Ngói Mới.
Khắp nơi trên những đường tôi đi
Tôi đã nghe xao xuyến rầm rì: ngói mới
Trên những đường tôi dạo, tôi qua
Tôi đã nghe nhiều những khúc ca: ngói mới
…
Kinh tế đang phục hồi và phát triển. Bữa ăn của lính còn no đủ. Sáng, bát sắt tráng men lùm lùm xôi. Không phải xôi trắng mà xôi lạc, xôi đỗ xanh. Có sáng bánh bao nhân thịt. Bữa trưa, chiều, một món rau, một món thịt. Bữa thịt gà, bữa thịt lợn, bữa thịt trâu. Món thịt đủ ăn đến cuối bữa. Thịt và rau dù ở chuồng nuôi, ở bãi rau tăng gia của lính hay mua ở chợ đều nuôi trồng tự nhiên. Ngày đó chưa xuất hiện phân hoá học, thuốc trừ sâu và thuốc tăng trọng, chưa có mì chính. Nuôi lính là những bữa cơm ngon, canh ngọt. Cơm trắng, chưa phải độn ngô, độn mì. Mâm sáu người một xoong cơm trắng to, đầy. Đi tập về đói, lính đánh bay xoong cơm đầy vừa đủ no. Có mâm còn dư chút cơm.
Nhưng chỉ hơn năm sau, từ đầu năm 1965, chiến tranh lan rộng cả nước. Bữa ăn của lính cứ kém dần. Từ bữa ăn của lính cũng thấy được đời sống người dân cả miền Bắc. Cơm độn ngô, độn mì cũng không đủ no. Món ăn vẫn có rau, có thịt nhưng số lượng và chất lượng chưa bằng nửa thời 1963, mới hơn một năm trước. Bữa sáng bát ngô bung hoặc tảng bột mì hấp chín. Tảng bột mì viên tròn, đập bẹt như nắp hầm phòng không trên hè phố, không bột nở, quánh như đất sét và rất khó nuốt mà lính trẻ vẫn nuốt trôi.
Bữa ăn ở nhà bếp càng ngày càng sút giảm số lượng và chất lượng, không đủ dinh dưỡng thì những bữa ăn chính trị, bữa ăn lập trường giai cấp không giảm sút mà còn tăng lên. Những đợt học chính trị do chính trị viên lên lớp và những đợt thi đua gối đầu sóng do tổ chức đoàn thanh niên phát động luôn ê hề đến bội thực.
Học chính trị thì hết học lịch sử đảng vẻ vang bách chiến bách thắng lại học lí tưởng giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc, xây dựng chủ nghĩa xã hội tương lai huy hoàng của nhân loại. Hết học lí luận đấu tranh giai cấp, kể tội phong kiến suy tàn bán nước, tội ác thực dân cướp nước, tội ác tư bản bóc lột giai cấp vô sản lại học ba dòng thác cách mạng đang sôi sục trên thế giới: Cách mạng xã hội chủ nghĩa ở các nước đảng cộng sản đã giành được chính quyền. Cách mạng giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa. Cách mạng giành chính quyền về tay giai cấp công nhân ở các nước tư bản.
Trước trận đánh, lính bộ binh nạp thuốc nổ vào những khối bộc phá thì những đợt học chính trị của chúng tôi cũng nạp khối thuốc nổ căm thù giai cấp vào trái tim lính trẻ. Học từ bài lên lớp của chính trị viên tiểu đoàn. Học từ tập tài liệu được phát đến tổ học tập. Cả tổ nghe người tốt giọng đọc tài liệu rồi thảo luận. Học từ thực tế đời sống xã hội bằng nhưng đợt sinh hoạt chính trị ôn nghèo kể khổ sâu rộng và kéo dài. Chính trị viên tìm ra trong lính những điển hình nghèo khổ, bồi dưỡng, huấn luyện cho họ kể lại cuộc sống khốn cùng của bản thân và gia đình khi chưa có đảng, chưa có cách mạng để thấy công ơn trời biễn của đảng, của cách mạng. Lính quên đi cuộc sống thiếu thốn, kham khổ. Chỉ thấy lí tưởng của đảng cao cả, sáng ngời. Chỉ thấy lịch sử đảng oanh liệt, vẻ vang. Chỉ thấy sôi sục căm thù giai cấp. Người lính chỉ tâm nguyện hiến dâng cuộc đời cho lí tưởng của đảng, của cách mạng.
Chỉ các đơn vị chuẩn bị đi Bê, chuẩn bị vượt núi cao rừng thẳm Trường Sơn vào mặt trận phía Nam, trong thời gian được ăn tiêu chuẩn bồi dưỡng mới không phải ăn độn. Lính được ăn cao hơn, ăn no và ăn ngon hơn, béo tốt hẳn lên. Gấp gáp những công việc chuẩn bị bước vào chiến đấu, không còn những phong trào thi đua ồn ào. Không khí đơn vị trầm lắng nhưng âm ỉ một ý chí lên đường giết giặc, cứu nước.
Hằng ngày, các trung đội đều được phát hai tờ báo, báo Nhân Dân và báo Quân Đội Nhân Dân. Hằng tháng, trung đội có thêm tập tạp chí Văn Nghệ Quân Đội. Buổi tối từ thứ hai đến thứ sáu, các trung đội đều có giờ đọc báo và nhiệm vụ đọc báo ở trung đội 2 được thượng sĩ trung đội trưởng Trần Đồng giao cho tôi. Tối thứ bảy, lính được nghỉ sinh hoạt. Đó là buổi tối thư thái, thanh thản hiếm hoi và quí giá trong cuộc sống quân ngũ. Mọi thời gian trong tuần của lính đều có trong lịch công tác đại đội do chỉ huy đại đội sử dụng. Lính chỉ được sử dụng thời gian của mình là tối thứ bảy.
Tối thứ bảy trung đoàn có một không khí êm đềm, yên tĩnh mà sâu thẳm. Lính rủ nhau ra căn tin nhai kẹo Hải Châu, thả khói thuốc lá Tam Đảo và rì rầm chia sẻ với nhau chuyện riêng tư. Từ năm 1957, Hà Nội đã phục hồi được nhà máy bia do người Pháp để lại nhưng chai bia Trúc Bạch, chai bia Hữu Nghị, sản phẩm của nhà máy bia Hà Nội còn vô cùng xa lạ với người dân. Mùi bia càng không có trong đời sống của lính kể cả trong những bữa cơm liên hoan ngày lễ, ngày tết. Hàng hoá ở căn tin trung đoàn ngoài thuốc lá Tam Đảo, kẹo Hải Châu, phong bì, giấy viết thư còn có gói chè Hồng Đào, sản phẩm của nhà máy chè Phú Thọ. Nhưng thưởng trà phải có nước sôi, có ấm chén và có thời gian, những thứ lính không có. Hồng Đào là loại chè thơm ngon lúc đó căn tin lính còn có bán. Chỉ hai, ba năm sau, hàng hoá khan hiếm, chè Hồng Đào chỉ có ở vài cửa hàng quốc doanh cung cấp hàng hoá cho cán bộ có vai vế ở Hà Nội. Cửa hàng mậu dịch quốc doanh phố Nhà Thờ cung cấp hàng hoá cho nhu cầu đời sống của cán bộ trung cấp. Cửa hàng quốc doanh phố Tông Đản cung cấp hàng hoá cho cán bộ cao cấp. Là chợ nhưng hàng hoá không bán mà cung cấp vì hàng hoá trong chợ Tông Đản, chợ Nhà Thờ chỉ có giá tượng trưng, như cho không. Tên phố Nhà Thờ, phố Tông Đản trở thành tên chợ của tầng lớp ăn trên, ngồi trốc. Lập tức dân gian Hà Nội có ngay ca dao truyền miệng về các loại chợ của một thời kì lạ phải ghi vào bia miệng:
Tông Đản chợ của vua quan
Nhà Thờ chợ của trung gian nịnh thần
Đồng Xuân là chợ thương nhân
Vỉa hè chợ của nhân dân anh hùng!
Lính có nếp sinh hoạt đô thị mới có thói quen tiêu tiền, mới có mặt ở căn tin tối thứ bảy. Chỉ sĩ quan mới có lương. Lương tháng của chuẩn uý 54 đồng, thiếu uý 65 đồng. Hàng tháng binh nhì chỉ có phụ cấp năm đồng cũng cho những anh lính binh nhì xuất thân từ các đô thị Hà Nội, Hải Phòng có những tối thứ bảy được trở về đời sống dân sự thư thả. Ngày đó kinh tế nông thôn miền bắc cơ bản vẫn là kinh tế tự cấp, tự túc, cây nhà lá vườn, có gì dùng nấy, kinh tế hàng hoá thị trường chưa phổ biến rộng rãi. Những trai làng vào lính không có thói quen tiêu tiền, chẳng mấy khi lai vãng đến căn tin. Nhiều anh lính nông dân còn dành dụm, tích cóp tiền phụ cấp hàng tháng được khoản tiền kha khá gửi về gia đình.
Lính không ra căn tin, không tụ tập với nhau thì nằm xoài trên giường viết thư. Buổi tối duy nhất trong tuần cả trung đội không phải nghe chung một bài báo nhưng ở giường tầng trên, ngay dưới bóng đèn điện treo giữa phòng, anh lính nông dân quê Kiến Thuỵ, Hải Phòng thường oang oang đọc bài xã luận báo Nhân Dân như khoe khả năng đọc lưu loát và khoe cả ý thức học tập lí luận chính trị, nâng cao lập trường giai cấp của anh lính nông dân. Ngoài sân, trong hiu hiu gió núi, nhiều lính trẻ xuất thân là học sinh, công nhân thành thị xúm quanh cây đàn ghi ta trong tay binh nhì trắng trẻo, đẹp trai Trần Trung Trí vốn là học sinh trường cấp ba Ngô Quyền, Hải Phòng.
Bỗng tối thứ bảy ngày 2 tháng mười một năm 1963 theo lệnh chính trị viên đại đội, các trung đội đột ngột có buổi sinh hoạt báo chí bất thường. Trong buổi đọc báo bất thường chiếm mất buổi tối thứ bảy quí giá của lính hôm đó, chính trị viên đại đội đã chỉ cho tôi đọc bài xã luận trên báo Nhân Dân về cuộc đảo chính nổ ra ở Sài Gòn sáng thứ sáu ngày 1 tháng mười một, năm 1963 lật đổ Tổng thống Việt Nam Cộng Hoà Ngô Đình Diệm của các tướng lĩnh quân đội Sài Gòn do CIA Mỹ âm thầm đạo diễn, dàn dựng.
Lính không tập trung cả đại đội, cán bộ đại đội chia nhau đến các trung đội. Dự cuộc đọc báo ở trung đội 2 là thiếu uý Nguyễn Văn Tiền, mặt rỗ hoa nhẹ, nông dân Hưng Nguyên, Nghệ An mà có lần trong buổi sinh hoạt đại đội ông đã khoe Hưng Nguyên quê ông là nơi khởi đầu cuộc nổi dậy Xô Viết Nghệ Tĩnh năm 1930. Nhập ngũ cuối kháng chiến chống Pháp nay thiếu uý mặt rỗ hoa loáng thoáng là chính trị viên đại đội. Dự buổi đọc báo để chính trị viên Tiền làm công tác chính trị với lính rằng đám đầu sỏ chính quyền và quân đội Sài Gòn tay sai Mỹ chỉ là bầy ngựa nhốt chung một chuồng, ăn chung một máng cỏ, tất phải đấu đá, loại bỏ nhau, giành độc quyền máng cỏ, dẫn đến cả đám tan rã, sụp đổ như trước cách mạng tháng tám năm 1945, Nhật đảo chính Pháp dẫn đến thành công của cách mạng tháng tám. Nghe chính trị viên Tiền nói rằng đảo chính lật đổ Ngô Đình Diệm ở Sài Gòn là khởi đầu cho sự sụp đổ không tránh khỏi của chính quyền miền nam, tôi như được ăn cái kẹo tinh thần ngon hơn cả kẹo Hải Châu.
Trước cuộc đảo chính ngày 1.11.1963 diễn ra ở Sài Gòn, những trận đánh của lực lượng kháng chiến do những người cộng sản nằm vùng tổ chức, chỉ huy chống nhà nước Việt Nam Cộng Hoà không cộng sản tuy đã lan rộng nhưng còn rất nhỏ yếu, chỉ lác đác vài trận chiến du kích nhỏ lẻ ở vùng nông thôn hẻo lánh. Nhà nước Việt Nam Cộng Hoà do lá phiếu bầu cử thực sự tự do của người dân bầu lên là nhà nước dân chủ non trẻ vẫn ổn định và vững mạnh. Nhưng từ cuộc đảo chính lật đổ Tổng thống Ngô Đình Diệm thứ sáu ngày 1 tháng mười một, năm 1963 đã mở ra một thời kì bất ổn triền miên với nhà nước dân chủ non trẻ Việt Nam Cộng Hoà. Những cuộc đảo chính nổ ra liên tiếp sau đó như không có điểm dừng làm lung lay tận gốc rễ nhà nước nam Việt Nam. Mải lo đối phó nhau và giành giật quyền lực của nhau, những người nắm giữ vận mệnh nhà nước miền nam Việt Nam đã thả nổi vận mệnh nhà nước nam Việt Nam. Thể chế dân chủ non trẻ mà người dân kì vọng, gửi lòng tin trở nên mỏng manh, vô định.
Trong khi đó hệ thống nhà nước xã hội chủ nghĩa thế giới đang trên đỉnh điểm phát triển khi các nước cộng sản non trẻ đông Âu còn đang gửi lòng tin vào cách mạng xã hội chủ nghĩa, gửi lòng tin vào Liên Bang Xô Viết hùng mạnh. Nhà nước Liên Bang Xô Viết đã chứng minh với thế giới rằng những người cộng sản không chỉ làm chủ trái đất mà còn làm chủ cả vũ trụ khi từ năm 1957 Liên Bang Xô Viết liên tục phóng thành công vệ tinh Spusnik vượt ra ngoài sức hút trái đất và ngày 12.4.1961 phóng thành công tàu vũ trụ Vostok đưa người lính Xô Viết, thiếu tá Yuri Gagarin bay vào vũ trụ thăm thẳm. Bão táp cách mạng ầm ầm nổi lên ở Cuba quét bay chính quyền dân chủ tư sản Fugencio Batista, đưa đất nước Cuba ở tây bán cầu, sát nách nước Mỹ hoà vào cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa. Cách mạng Cuba đã thổi bùng lên ngọn lửa cách mạng xã hội chủ nghĩa ở nhiều nước châu Mỹ La tinh, mảnh sân sau của nước Mỹ tư bản. Cách mạng xã hội chủ nghĩa thế giới đang ở thế tiến công mạnh mẽ vào các nước tự do dân chủ là thành quả của cách mạng dân chủ tư sản thế giới, khởi đầu từ cách mạng dân chủ dân quyền Pháp 1789. Nhà nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà ở bắc Việt Nam cũng đang trên đỉnh vinh quang với chiến thắng Điện Biên Phủ vang dội, với việc quân Pháp xâm lược bị quét sạch khỏi bờ cõi Việt Nam.
Trong cao trào cộng sản thế giới, trong tuyên truyền bài bản và bịt bùng của bộ máy truyền thông khổng lồ nhà nước cộng sản Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà, hầu hết người dân miền bắc đều đinh ninh rằng xã hội cộng sản là xã hội ưu việt, là tương lai tất yếu của xã hội loài người. Các nước có chế độ chính trị khác nhau, dù là nước trung lập như Cambodia, dù là nước tư bản lâu đời và giầu mạnh như Anh, Pháp, Mỹ, sớm muộn tất yếu cũng làm cách mạng xã hội chủ nghĩa, đi đến cộng sản chủ nghĩa, thiên đường có thật của loài người mà lí luận Mác – Lê nin đã chỉ ra.
Trong nhận thức và tình cảm của tôi cũng như của hầu hết người dân miền bắc lúc đó cũng coi những người cộng sản đồng nghĩa với những giá trị cao cả, những người nồng nàn yêu nước, sắt son lí tưởng cứu dân, cứu nước thoát khỏi nỗi nhục nô lệ và nghèo đói. Trong trái tim tôi, những người cộng sản đều lẫm liệt khí tiết cách mạng trước kẻ thù và tận hiến cho dân, cho nước. Những bài viết về miền nam trên hai tờ báo chính thống độc quyền có mặt trong đời sống xã hội miền bắc, báo Nhân Dân và báo Quân Đội Nhân Dân cũng cho tôi biết rằng ngay ở miền nam, nhiều người dân lúc đó cũng coi từ cộng sản đồng nghĩa với từ yêu nước, cũng nghĩ rằng mục tiêu của những người cộng sản là độc lập của nước, là tự do của dân. Vì vậy người dân miền nam mới che chở, đùm bọc những người cộng sản nằm vùng ở lại miền nam không tập kết ra miền bắc và đông đảo người dân miền nam đã hăng hái theo những người cộng sản nằm vùng nổi dậy chống lại nhà nước không cộng sản Việt Nam Cộng Hoà.
Cả miền bắc đang rộn rã, hối hả xây dựng xã hội chủ nghĩa, tiến tới cộng sản chủ nghĩa, mơ ước của loài người. Những nhà máy đang mọc lên dù chỉ là công nghệ cũ của Trung Quốc thải ra cũng làm nức lòng người dân miền bắc. Cùng lúc đó ở miền nam sau những tiếng súng, sau máu chảy trong những cuộc chiến tranh phe phái ở miền đông, miền tây Nam Bộ là những cuộc đảo chính nối tiếp nhau, tranh giành quyền lực nhà nước ở Sài Gòn làm cho người dân càng thấy xã hội miền bắc tốt đẹp, ổn định và cao cả bao nhiêu thì xã hội miền nam càng xấu xí, hỗn loạn và tàn bạo bấy nhiêu!
Qua những cuộc tranh giành quyền lực triền miên của những chính khách Sài Gòn càng nổi lên vai trò ông chủ của chính quyền Việt Nam Cộng Hoà là nhà cầm quyền nước Mỹ chứ không phải người dân miền Nam Việt Nam. Người dân miền nam nặng lòng với nước càng ngao ngán nhận ra sự lệ thuộc vào nước ngoài của chính quyền Sài Gòn, họ càng ngả theo những người cộng sản đang phát động cuộc nội chiến chống lại nhà nước không cộng sản Việt Nam Cộng Hoà mà không ngờ rằng những người cộng sản phụ thuộc vào nước ngoài còn tệ hại hơn. Vì phụ thuộc nước ngoài, theo lệnh nước ngoài họ cam tâm cắt đôi đất nước Việt Nam thành hai trận tuyến, chia đôi dân tộc Việt Nam thành hai thế lực thù địch không đội trời chung.
Tệ hại hơn nữa là những người cộng sản không hề có mục tiêu dân tộc, chỉ có mục tiêu giai cấp. Đặt lợi ích của giai cấp vô sản thế giới lên trên lợi ích của dân tộc Việt Nam, họ chia cắt đất nước, chia rẽ dân tộc, thí bỏ sự toàn vẹn lãnh thổ thiêng liêng, thí bỏ tình cảm thương yêu, đùm bọc dân tộc. Giương lá cờ độc lập chỉ để tập hợp sức dân giành quyền lực nhà nước cho đảng cộng sản chứ không giành độc lập cho dân tộc Việt Nam. Có quyền lực nhà nước, đảng cộng sản coi giang sơn gấm vóc của dân tộc là tài sản của riêng đảng cộng sản, coi người dân chỉ là công cụ, là kho máu làm cách mạng vô sản giành quyền lực, giành thế giới cho đảng cộng sản và coi người dân chỉ là những con thỏ, con chuột trong phòng thí nghiệm đi tìm mô hình xã hội xã hội chủ nghĩa và xã hội cộng sản chủ nghĩa của những nhà lí luận cộng sản mà thôi.
Để khai thác được máu dân cho cuộc chiến giành lãnh thổ cả nước, những người cộng sản phải giương cao ngọn cờ độc lập. Gần trăm năm nô lệ mất nước, gần trăm năm đau đớn và tủi nhục dưới ách đô hộ của thực dân Pháp, lá cờ độc lập có sức hấp dẫn say đắm đến mụ mị với người dân Việt Nam. Chính quyền Việt Nam Cộng Hòa lục đục, đấu đá, tranh giành quyền lực làm cho lá cờ độc lập, lá cờ giải phóng được những người cộng sản giương cao ở miền nam càng có sức thu hút mạnh mẽ với tất cả các thành phần dân chúng miền Nam, từ trí thức trong tháp ngà khoa học đến người lao động cơ bắp đổ mồ hôi kiếm sống trên đường phố, từ giới chủ đến người làm mướn, từ quan chức chính quyền đến học sinh, sinh viên.
Càng tranh giành quyền lực làm cho nhà nước Việt Nam Cộng Hoà càng chia rẽ, suy yếu thì cuộc nội chiến chống lại nhà nước Việt Nam Cộng Hoà do những người cộng sản phát động càng phát triển mạnh mẽ và lan rộng khắp nam Việt Nam. Năm 1965 cuộc nội chiến của hai lực lượng đối kháng ở miền Nam đã lên đến đỉnh điểm, đẩy nhà nước dân chủ non trẻ Việt Nam Cộng Hòa đến nguy cơ sụp đổ buộc Hoa Kỳ phải nhảy vào cuộc chiến không phải chỉ để cứu nguy Việt Nam Cộng Hòa, một nhà nước dân chủ trứng nước non trẻ mà còn ngăn chặn cơn sóng lừng bạo lực độc tài cộng sản tràn ngập cả Việt Nam, tràn ngập cả một vùng địa chính trị Đông Nam Á. Từ đây, cuộc nội chiến do những người cộng sản phát động nhằm thâu tóm lãnh thổ cả nước, áp đặt chuyên chính vô sản lên số phận người dân cả nước đã trở thành cuộc chiến tranh thế giới cục bộ của hai ý thức hệ cộng sản và tư bàn, độc tài và dân chủ, tự do và nô lệ khi bộ binh Mỹ đổ bộ vào miền Nam và không quân Mỹ dội bom, bắn tên lửa xuống miền Bắc Việt Nam.
Tôi đã có mặt, đã chứng kiến cơ quan bộ Tổng Tư lệnh từ những ngày đầu cuộc chiến tranh lan rộng ra cả nước. Chiếc ô tô com măng ca chở cục trưởng Thông tin Liên lạc, C53, thượng tá Nguyễn Anh Bảo trên đường vào vùng máy bay Mỹ đánh phá ở Quảng Bình bị trúng tên lửa từ máy bay Mỹ phóng xuống và thượng tá Nguyễn Anh Bảo là người lính thông tin đầu tiên ở miền bắc bỏ mạng trong cuộc chiến tranh khởi đầu từ cuộc đồng khởi ở Mỏ Cày, Bến Tre tháng giêng, năm 1960 do những người cộng sản nằm vùng phát động dân nổi dậy chống chính quyền Việt Nam Cộng Hòa.
Tiếng súng ở miền Nam thúc giục khóa đào tạo báo vụ vô tuyến điện chúng tôi gấp rút kết thúc. Trong khi nhiều lính báo vụ cùng khóa đào tạo với tôi được bổ xung cho các đơn vị mới hình thành và đang gấp rút luyện quân tung vào mặt trận phía Nam thì tháng ba, năm 1964 hơn hai mươi lính báo vụ phần lớn xuất thân là học sinh, công nhân thành phố Hải Phòng và huyện Từ Liêm, Hà Nội lại được gọi tên, đeo ba lô leo lên thùng ô tô tải làm cuộc hành quân đi về hướng khác.
Ô tô chạy ra đường 21, rẽ về hướng mặt trời mọc, qua cầu Tế Tiêu, Vân Đình, đi ngược lại con đường chúng tôi đã hành quân bộ đến doanh trại Đồi Sim năm trước. Ô tô bon bon hướng về Hà Nội. Chớp mắt đã thấy ô tô qua đoạn đường đôi rợp bóng xà cừ cuối phố Hoàng Diệu rồi rẽ vào đường Cột Cờ. Ô tô qua cổng doanh trại ngay bên cạnh Cột Cờ. Sau này tôi mới biết đó là cổng Cửa Nam thành cổ Hà Nội. Suốt những năm ở trên đất hoàng thành, tôi thường ra vào thành cổ ở cổng này. Đơn vị đón nhận chúng tôi ở Hà Nội là đại đội 3, tiểu đoàn 77, cục Thông tin Liên lạc.
Tiểu đoàn 77 do thiếu tá Phạm Đề làm tiểu đoàn trưởng là đơn vị khai thác hai loại hình thông tin hiện đại là thông tin điện thoại do đại đội 4 khai thác và đại đội 3 vô tuyến điện. Bảo đảm thông tin cho Bộ Tổng Tư Lệnh còn có tiểu đoàn 78 quân bưu, còn được gọi là tiểu đoàn thông tin vận động, loại hình thông tin có từ thời cổ đại, chỉ khác là thông tin vận động ngày nay không chạy bộ, không cưỡi ngựa mà cưỡi mô tô, ô tô và sử dụng các phương tiện giao thông dân sự như xe lửa, máy bay. Khi chiến tranh mở rộng ra miền bắc, các trung đoàn thông tin đường dây phát triển lên lữ đoàn thì tiểu đoàn quân bưu 78 cũng phát triển lên trung đoàn rồi lữ đoàn.
Đại đội 4 tổng đài điện thoại do trung úy Nguyễn Đăng Ô là đại đội trưởng khai thác hai tổng đải. Tổng đài 200, mạng đường dây nội bộ, kết nối với những máy điện thoại lẻ trong thành cổ Cột Cờ, Hà Nội. Tổng đài 40, mạng đường dây hướng ngoại, nối thành cổ với các tổng đài bưu điện các tỉnh trên cả miền bắc, nối bộ Tổng Tư lệnh với bộ tư lệnh các quân khu, quân chủng, binh chủng và các sư đoàn bộ binh.
Ngoài hai tổng đài, đại đội 4 còn có hai trung đội đường dây và cáp ngầm bảo đảm đường dây thông suốt cho hai tổng đài. Thật bất ngờ là trong số lính đường dây của đại đội 4 lại có một học trò trường cấp ba Thái Phiên, Hải Phòng cùng lứa với tôi. Anh Trần Văn Bằng, quê xã Đằng Hải, huyện An Hải, ngoại thành Hải Phòng. Cũng tốt nghiệp trung học năm 1963 nhưng Bằng nhập ngũ sau tôi mấy tháng. Xin hãy nhớ tên anh Trần Văn Bằng vì tôi sẽ còn nhắc đến anh một lần nữa trong một sự kiện của thành cố. Trong cuộc chiến tranh giữa đất và trời ở Hà Nội, người lính Trần Văn Bằng đã ngã xuống, máu thấm vào đất thành Cổ Hà Nội như máu người lính của Nguyễn Tri Phương, người lính của Hoàng Diệu đã thấm vào đất hoàng thành trong cuộc chiến chống quân Pháp giữ thành cổ Hà Nội ở thế kỉ 18.
Vô tuyến điện được tổ chức thành ba mạng do đại đội 3 đảm nhiệm và đại đội trưởng là trung úy Bùi Đình Phù, quê Diễn Châu, Nghệ An. Chính trị viên đại đội là trung uý Nguyễn Văn Thước, quê Phú Thọ. Hai trung đội của đại đội 3 khai thác hai mạng vô tuyến điện là mạng A và mạng C đóng quân phía Nam trong thành cổ. Mạng A bảo đảm thông tin vô tuyến điện tới các đơn vị đóng quân trên miền bắc. Sóng vô tuyến điện mạng C nối với bộ chỉ huy quân giải phóng miền Nam, với Bộ Tư Lệnh 559 và với các đơn vị quân đội bắc Việt hoạt động trên đất Lào. Mạng thông tin vô tuyến điện tới các đơn vị quân chủ lực đang chiến đấu ở miền Nam là mạng B, lúc đầu chỉ là một trung đội, trung đội 18 đặt máy làm việc ở Phùng, huyện Đan Phượng, lúc đó còn thuộc tỉnh Hà Đông, cách Cột Cờ 18 cây số nhưng trung đội 18 cũng trực thuộc đại đội 3.
Trước năm 1963 chỉ có những đoàn cán bộ lẻ và những đơn vị vũ trang nhỏ luồn rừng Trường Sơn vào nam theo lối mòn được mở từ tháng năm, năm 1959. Đến mùa khô năm 1964, cả sư đoàn bô binh chủ lực quân miền bắc rầm rập hành quân vào miền nam. Cũng từ cuối năm 1964, trung đội 18 thông tin vô tuyến điện tăng thêm nhiều đài liên lạc mới, tăng gấp bội phiên liên lạc, phải tăng quân số lên tới đại đội. Đầu năm 1965, đại đội 5, tiểu đoàn 77 do trung úy Nguyễn Xuân Bá làm đại đội trưởng ra đời từ trung đội 18, đại đội 3. Là một cụm điện đài lớn bảo đảm thông tin cho bộ Tổng Tư Lệnh chỉ huy mặt trận miền Nam, không thể giăng trùng trùng antel giữa luỹ tre làng, đại đội 5 phải chuyển vào chân núi Ba Vì, xây doanh trại giữa lau lách hoang vu, xây hầm bê tông dưới chân đồi đặt máy khai thác thông tin.
Làm việc trong Tổng hành dinh, bảo đảm thông tin chỉ huy cho bộ Tổng tư lệnh, chúng tôi hiểu rằng ngoài năng lực nghiệp vụ chuyên môn chúng tôi đều phải có lí lịch được tin cậy, gia đình đều thuộc thành phần bần cố nông hoặc dân nghèo thành thị. Có câu chuyện buồn về lí lịch như sau. Thượng sĩ Đặng Văn Tiếp chẳng phải đảng viên và chỉ là tiểu đội trưởng ở trung đội huấn luyện, đào tạo báo vụ của đại đội 3 đóng quân ở Gia Lâm, cách thành cổ con sông Hồng và cây cầu Long Biên. Trước khi cưới vợ, Tiếp phải nộp lí lịch vợ sắp cưới cho chính trị viên Nguyễn Văn Thước, bí thư chi bộ đại đội 3. Đến ngày cưới, gia đình đang tưng bừng làm cỗ cưới, Tiếp mới được nhận lại bản lí lịch của vợ sắp cưới với dòng chữ ghi ý kiến của bí thư chi bộ đại đội 3 không đồng ý cho Tiếp lấy cô gái có bố di cư vào Nam năm 1954. Tiếp là con người hiền lành, chăm chỉ trong mọi việc, có ý chí phấn đấu về chính trị đành lặng lẽ chấp hành ý kiến của chính trị viên, bí thư chi bộ, dẹp đám cưới, chia tay cô người yêu có bố di cư vào Nam.
Trần Trung Trí trắng trẻo, đẹp trai, tốt nghiệp trung học phổ thông ở trường cấp ba Ngô Quyền, Hải Phòng, cùng đợt lính nhập ngũ và cùng đại đội đào tạo báo vụ với tôi ở trung đoàn 205, Quèn Chương, Kim Bôi, Hoà Bình. Là lính báo vụ giỏi, giỏi cả đàn hát, Trí là người tổ chức, dàn dựng các tiết mục cho đội văn nghệ đại đội, tạo cho đại đội luôn có không khí tưng bừng, phấn chấn, nhất là trong những dip lễ, tết, được chính trị viên đại đội Nguyễn Văn Tiền rất quí nhưng cũng vì bố Trần Trung Trí biến mất từ năm 1954, đang học báo vụ Trí cũng bị loại ngũ.
P. Đ. T