Tạp bút Lê Ký Thương

Chỉ vài nét phác trong vài tạp bút, cái nết-ăn-nết-ở, chính là phần hồn phách của Sài Gòn đã hiển hiện. Vì sao người tứ phương khi tụ về chọn Sài Gòn làm đất sống, lâu ngày chầy tháng, bỗng thấy Sài Gòn thiệt sự là của-mình, và mình là một phần của Sài Gòn… Phần tinh túy, phần đáng yêu nên yêu nhứt của Sài Gòn Đại đô thị chính là sự dung nạp đầy rộng lượng với bất kỳ ai, bất kỳ nét văn hóa vùng miền nào…

Khi đã có chút tự-yêu ấy bên trong mình, người ta đã mặc nhiên trở thành công dân Sài Gòn, bằng phần “đóng góp” hoàn toàn tự nguyện. Và tất nhiên, tác giả ba tạp bút dưới đây, nhà văn/họa sĩ Lê Ký Thương, chính là một Saigonaise thứ thiệt.

VĂN VIỆT

HỒN SÁCH CŨ

Tôi chẳng nhớ cái máu mê sách cũ đã ”lậm” vào người mình lúc nào… Hễ có tiền trong túi là phần xác dắt phần hồn tôi đến các cửa hàng sách cũ rẻ tiền trong thành phố. Ở đó, tôi có thể tìm mua được những quyển sách năm xửa năm xưa mà mình cần hay mình thích, với giá hợp túi tiền khiêm tốn của mình. Những quyển sách này hiếm khi được đứng đàng hoàng trên kệ. Chúng thường nằm lăn lóc dưới nền nhà, bụi bám đầy ”người”, có khi thân hình còn nguyên vẹn, có khi rách một vài trang, có khi áo quần (bìa) nửa còn nửa mất, hoặc bị lột sạch, mùi ẩm mốc xông lên khiến mình có cảm giác không còn mũi để thở. Chúng giống như những đứa con rơi. Mà chúng bị bỏ rơi thật! Vì chủ nhân của chúng không cần chúng nữa, để trong nhà cũng vô tích sự, lại thêm chật nhà, chi bằng bán cho mấy bà ve chai được đồng nào hay đồng đó. Rồi mấy bà ve chai lại đem bán ký cùng giấy, báo loại cho các cửa hàng sách cũ… Nhờ thế, những người mê sách cũ như tôi mới có duyên may gặp được… ”người tình trong mộng”.

Rước quyển sách về nhà, trân trọng đặt nó lên bàn, ngồi lật từng trang, cẩn thận vuốt những nếp nhăn cho thẳng, dán lại những chỗ rách cho lành, tôi thấy phảng phất trên đó một bàn tay ngà ngọc hay một bàn tay thư sinh đã từng lật từng trang để đọc với niềm say mê, những câu, những đoạn đắc ý thì gạch bút đỏ hay đánh dấu bên lề. Rồi tôi hình dung khuôn mặt thể hiện tình cảm vui, buồn, yêu, giận khi họ bắt gặp những tình tiết trong cuốn truyện… Những cuốn sách  xưa, có lời tặng ghi trang đầu, cho tôi biết rằng ngày tháng năm đó có một chàng yêu một nàng mà không dám trực tiếp tỏ tình, bèn mượn sách đưa duyên… Mà chàng hay nàng đó bây giờ đã có cháu kêu bằng cố, nếu lập gia đình trễ cũng lên chức nội ngoại, hoặc đã thành người thiên cổ. Mới hay thời nào sách cũng ”hỗ trợ tích cực” cho những mối tình đầu, dù mối tình không thành, nhưng cũng là một kỷ niệm đẹp. Đúng là ”lật trang sách cũ, thấy hồn người xưa”.

Thật đáng khâm phục trí tưởng tượng phong phú bằng nhà văn Trần Huiền Ân. Anh mua được một quyển sách cũ từ một bà ve chai – quyển Việt Nam tự điển của Hội Khai Trí Tiến Đức khởi thảo, in lại tại Pháp năm 1954, do Văn Mới xuất bản và phát hành tại Việt Nam. Chính hai câu ca dao: Có trầu mà chẳng có cau, làm sao cho đỏ miệng nhau thì làm viết trên trang đầu quyển sách cùng tấm thiệp chúc Xuân của một người đang ở trong Trại học tập cải tạo gởi về cho vợ con kẹp bên trong nó, đã gây niềm hưng phấn cho anh viết  truyện ngắn Người chứng ít lời in  trên báo Thanh Niên cách đây gần chục năm. Truyện vừa đến tay bạn đọc thì tòa soạn báo nhận được lá thư của một nữ độc giả nhận mình là cháu kêu bằng chú của nhân vật chính trong truyện, nhân vật đó cùng gia đình đã định cư ở Mỹ. Mặc dù truyện hoàn toàn hư cấu, nhưng lạ lùng thay, cuộc đời của nhân vật chính lại giống hệt đời thật của người chú cô độc giả kia! Đây không phải là một giai thoại mà là chuyện thật trăm phần trăm.

Sách cũ còn cho tôi biết được thời kỳ tiếng Việt còn phôi thai, cha ông chúng ta viết, học như thế nào. Giở bộ An Nam sử lược(2 quyển) của cụ Trần Trọng Kim, sách giáo khoa dành cho lớp sơ học, in lần thứ nhất tại Hà Nội năm 1916, chúng ta sẽ thấy câu văn tuy dài lê thê, hết ”cái sự” này đến ”cái sự” nọ – có lẽ cách diễn đạt này bị ảnh hưởng tiếng Pháp thời bấy giờ – nhưng mỗi dấu phẩy, dấu chấm trong từng câu rõ ràng, dứt khoát, không hề có câu què. Bây giờ, thỉnh thoảng đọc vài cuốn sách hay bài báo của vài vị có học hàm, học vị, đang ngon trớn bỗng gặp một câu què hay chữ tắt, chữ ngược chặn đường, tức cành hông, giống như mình đang say mê lái xe rượt theo một bóng hồng bất ngờ gặp đèn đỏ ở ngã tư đường! Lúc đó, đành tự trách mình không theo kịp ”đà tiến triển của tiếng Việt” chứ sách báo ngày nay đều có người đứng tên biên tập hẳn hoi kia mà. Cái đèn đỏ có tội vạ gì đâu mà trách, nếu mình biết rõ luật đi đường?

Sách cũ cũng dạy cho tôi biết được nhân cách của người làm sách thời xưa. Cầm quyển Thơ Hậu Vân Tiên của Nguyễn Bá Thời tân soạn, loại sách dành riêng cho giới bình dân thích truyện thơ, tuồng tích ngày xưa, đọc xong rồi vất, thấy ngay nơi trang bìa: Tổng phát hành: Thuận Hòa, xuất bản: Phạm Văn Thình, bên lề trái ghi ”Nhà buôn Thuận Hòa -  54, đ. Tháp Mười – Cholon, bên lề phải ghi ”Bổn này ông Phạm-văn-Thình đã nhường đứt bản quyền lại cho tôi: Trần-văn-Sửu”. Nhà buôn Thuận Hòa của ông Trần Văn Sửu chuyên tổng phát hành ”các thứ thơ, tuồng hát bộ, bài ca, tiểu thuyết của nhà xuất bản Phạm Văn Thình”. Thật rõ ràng và trung thực, tuy lúc bấy giờ không có ”Luật xuất bản” và ”Luật bản quyền”!

Bạn là người mê sách cũ, chắc chắn sẽ có khi mua được những quyển sách có bút tích, chữ ký (và cả triện son) của tác giả đề tặng ông A bà B, cả những tác giả nổi tiếng và những người được đề tặng nổi tiếng. Khi gặp những quyển sách này, không phút giây chần chừ, tôi mua ngay, cho dù đã rách nát, hay đã có trong tủ sách. Tôi mua nó với ý nghĩ luôn nằm sẵn trong bụng là chỉ tốn vài ngàn, nhiều nhất là vài chục ngàn (hiếm khi), nhưng mình ”cứu vớt” được linh hồn một quyển sách. Một quyển sách góp mặt với đời, ngoài danh xưng là đứa con tinh thần của tác giả còn có công sức đóng góp của nhiều người. Nào là người biên tập của nhà xuất bản, thợ xếp chữ, người sửa morasse, ”xếp ty-pô” (bây giờ là nhân  viên ở khâu chế bản, bình phim), thợ nhà in, người làm ra giấy in, kim, chỉ khâu, keo, hồ dán… Tác giả hãnh diện vì nó, sung sướng ngồi viết tặng từng người đáng kính, từng người thân yêu, bạn bè mà không hề nghĩ rằng có một ngày nào đó, vì duyên cớ nào đó, nó bị vất ra cửa hàng sách cũ! Thật tiếc thương cho số phận những quyển sách đó và đáng trân trọng mang nó về tủ sách nhà mình.

….

Tháng 4/2002

SÀI GÒN – SÁCH

Sài Gòn bây giờ có nhiều nhà sách lớn, luôn luôn đông khách. Sách đủ thể loại, phong phú, đa dạng. Đó là địa chỉ thường đến của những người nhận sách là bạn đồng hành của mình – từ em bé đến người già, người của thành phố hay khách vãng lai, người Việt sống ở nước ngoài về thăm quê hương, người nước ngoài làm việc tại Việt Nam hay chỉ là khách du lịch… Những nhà sách lớn ở trung tâm thành phố còn là nơi dành cho khách dạo chơi một vòng, hưởng chút hơi lạnh cho thư thái tâm hồn khi bị cái nóng ở nhà hay đường phố làm mệt người, khó chịu.

Xưa nay, tôi có thú vui đến nhà sách để nhìn ngắm và chọn mua những quyển sách văn học mới xuất bản mà mình ưa thích được bày bán trang trọng trên kệ. Bắt gặp một quyển sách trình bày đẹp từ bìa đến ruột, nội dung hợp với sở thích của mình, tôi luôn có cảm giác như vừa gặp người bạn tri âm, không thể cầm lòng mà không mời về nhà để hàn huyên tâm sự.

Nhưng cái quyến rũ tôi hơn chính là mùi colophan của những trang sách mới ngày trước. Mỗi lần vào Nhà sách Khai Trí (bây giờ là Nhà sách Sài Gòn 2) hay Nhà sách Liên Châu (bên hông Nhà thờ Đức Bà, đối diện với Bưu Điện Thành phố) chuyên bán loại sách livre de poche, là tôi cầm ngay quyển sách mới đưa trước mũi hít một hơi thật sâu để tận hưởng mùi hương của sách như tận hưởng mùi hương của người tình.

Nhà xuất bản bây giờ thì nhiều và những người làm sách tư nhân hay các Công ty Văn hóa liên kết với nhà xuất bản nhiều gấp bội. Nhưng liệu có mấy nhà xuất bản (nhà nước) – nơi biên tập và cấp giấy phép xuất bản “bảo đảm bằng vàng” được thương hiệu của mình? Thỉnh thoảng báo chí lại phát hiện ra một hai quyển sách trông rất sang và rất đẹp của một nhà xuất bản tầm cỡ nhưng “hồn Trương Ba da hàng thịt”! Sách mà cũng có đồ giả, đồ dỏm như rượu bia, thuốc lá, bột giặt trong nền kinh tế thị trường thì đáng buồn nôn thật!

Trước 1975 ở Miền Nam, mỗi lần bước vào hiệu sách, chỉ cần nhìn thấy tên nhà xuất bản như Yễm Yễm Thư trang, Thanh Tâm, Nam Chi tùng thư, Khai Trí, Cảo Thơm, Thời Mới, Tuổi Hoa, Nguyễn Đình Vượng, Lá Bối, An Tiêm, Trình Bầy… là người mua an tâm, không sợ mua lầm hàng kém chất lượng. Mỗi nhà xuất bản đều có mục đích và tôn chỉ hoạt động, không có chuyện vàng thau lẫn lộn.

Theo tôi, hai nhà xuất bản hoạt động mạnh có tiếng vang, gây được nhiều thiện cảm và uy tín nhiều nhất với người đọc, người viết, người dịch là Lá Bối và An Tiêm. Người điều hành hai nhà xuất bản này lại là hai tu sĩ Phật giáo. Những người mê sách nào chẳng có những quyển sách giá trị như: Xứ Trầm hương (Quách Tấn), Sử ký Tư Mã Thiên (Giản Chi và Nguyễn Hiến Lê dịch), Anna Karénnine (LéonTolstoi – Nguyễn Minh Hoàng dịch), Chiến tranh và Hòa bình (Léon Tolstoi – Nguyễn Hiến Lê dịch) và những tác phẩm khác của các nhà văn như Võ Hồng, Nguyễn Văn Xuân… của nhà Lá Bối. An Tiêm thì xuất bản “sách đời” nhiều hơn, đa số là những kiệt tác văn học nước ngoài với những dịch giả uy tín, như Anh em nhà Karamazov (Dostoievski, Trương Đình Cử dịch), Kim các tự (Yukio Mishima, Đỗ Khánh Hoan dịch), Câu chuyện dòng sông (Hermann Hesse, Phùng Khánh dịch), Người đàn bà trong cồn cát (Kobo Abé, Trùng Dương dịch), Tố Như thi (thơ chữ Hán của Nguyễn Du, Quách Tấn dịch)… và những tác phẩm của Đại sư Suzuki mà nổi tiếng là bộ Thiền Luận (ba tập).

Sách thời đó xếp chữ chì, in typô. Thợ xếp chữ ở các nhà in thường chỉ có trình độ văn hóa cấp 2 bây giờ, học ở trường nửa buổi, học việc nửa buổi, nên những trang bài vỗ bản đầu tiên luôn luôn bị bỏ dòng, nhảy chữ và chi chít lỗi chính tả (morasse), vì thế nhà in nào cũng có “thầy cò” (correcteur). Thầy cò là một nghề được các nhà in trọng vọng. Nhờ vậy sách của nhà xuất bản uy tín hiếm có lỗi chính tả, nếu có thì luôn luôn có bản đính chính kèm theo lời xin lỗi tác giả và bạn đọc. Điều này không những thể hiện tính nghiêm cẩn mà còn là đạo đức của người làm sách.

Nhà in có kiểu chữ đẹp nhất hồi đó là Kim Lai Ấn quán, mà chủ nhân chẳng ai khác chính là cụ Lãng Nhân Phùng Tất Đắc. Bây giờ, tuy rất quen thuộc với những kiểu chữ vi tính, nhưng khi xem lại những quyển sách in ở nhà in này, chẳng hạn như cuốn Giai thoại làng Nho của chính cụ Lãng Nhân, tôi vẫn còn mê kiểu chữ đó.

Một trong những người nổi tiếng làm sách đẹp, sách giá trị ở Sài Gòn trước 1975 là ông Thanh Tuệ, chủ Nhà xuất bản An Tiêm. Ông là một “con người chịu chơi” như chàng Alexis Zorba trong lãnh vực làm sách, là người đầu tiên xuất bản tập thơ Mưa nguồn của “trung niên thi sĩ” Bùi Giáng và Đêm nguyệt động của nhà thơ Nguyễn Đức Sơn (Sao Trên Rừng).

Tôi nhớ vào khoảng 1964, khi ông Thanh Tuệ đang trên đường đi đến nhà in chăm sóc tập thơ Đêm nguyệt động thì bị tai nạn xe phải nằm bệnh viện. Sau đó, xuất hiện một mẩu tin trên tạp chí Văn với cái tít thật hay: “Đêm nguyệt động… động thầy Thanh Tuệ”. Nếu ai có cơ duyên đọc tập thơ này sẽ biết thầy Thanh Tuệ “chịu chơi” đến cỡ nào!

Sau 1975 ông Thanh Tuệ hoàn tục và lập gia đình. Năm 1981 ông cùng gia đình sang Pháp định cư, nhưng cái máu mê làm sách đẹp sách hay vẫn không thay đổi được. Đầu năm 1990, sau khi ổn định cuộc sống gia đình, ông làm sách trở lại. Làm sách Việt bên Tây ít người đọc, ông sang Mỹ hợp tác với những người Việt làm sách có uy tín, in và phát hành ngay trên đất Mỹ. Mới đây, trung tuần tháng 8, ông lại sang Mỹ để gặp các thân hữu bàn việc kỷ niệm 40 năm ngày thành lập Nhà xuất bản An Tiêm, không ngờ bệnh siêu vi gan C tái phát và mất ngay tại bệnh viện bang California. Vĩnh biệt một người tài hoa mê làm sách đẹp!

Tôi đã từng mê sách của An Tiêm. Cách đây hai năm, tôi và vài người bạn có dịp gặp lại ông Thanh Tuệ khi ông về Việt Nam thăm người thân. Gặp nhau, ông chỉ toàn nói chuyện sách đẹp, sách hay. Với ông, việc xuất bản một quyển sách cũng đồng nghĩa với việc tạo ra một tác phẩm mỹ thuật.

Nói đến một quyển sách đẹp, thiết nghĩ phải kể đến tài của người trình bày bìa. Câu thành ngữ tốt gỗ hơn tốt nước sơn có lẽ không thể buộc vào một quyển sách được. Trước 1975, ở Sài Gòn có những họa sĩ trình bày bìa sách nổi tiếng như Đinh Cường, Nguyễn Trung, Hoàng Ngọc Biên, Hồ Thành Đức…  Họa sĩ Đinh Cường chuyên trình bày bìa cho các nhà xuất bản Lá Bối và An Tiêm. Họa sĩ Hoàng Ngọc Biên là người đầu tiên ở Miền Nam được cử đi học ngành đồ họa ở Mỹ, làm việc ở Trung tâm Học liệu, chuyên trình bày bìa sách của cơ quan này và Nhà xuất bản Trình Bầy. Mỗi họa sĩ đều có style trình bày riêng, nhìn vào bìa sách là ta biết ngay, không lẫn được.

Hơn mười năm qua, công nghệ chế bản và in thâm nghập vào nước ta, cụ thể là Sài Gòn – cái nôi của ngành này – ngày càng hiện đại hơn, nên các phương tiện này đã hỗ trợ cho các ấn phẩm mang tính mỹ thuật cao. So với một quyển sách in bây giờ với một quyển sách in trước “thời mở cửa” khác nhau khá xa. Nhiều tác phẩm, nhất là tác phẩm văn học dịch, được tái bản trông hết  sức “quyền quí cao sang”. Ngẫm ra vẫn “con người đó”, vẫn mang tâm hồn đó, nhưng được “make up” có nghề, có lương tâm, làm tôn vẻ đẹp thì dễ lay động trái tim của đối tượng hơn là “mặc áo vải thô, đi chân đất”.

Nhiều người quan tâm đến sách có tâm trạng băn khoăn chỉ sợ trong thế giới nghe nhìn ngày nay, e rằng sách in một ngày nào đó không còn chỗ đứng. Nhưng tôi không nghĩ mối lo đó sẽ thành sự thực khi mà thế giới vẫn còn có người mê sách in đẹp và những người làm sách đẹp.

Sài Gòn/2004

SÀI GÒN – ĂN

Sài Gòn – ăn suốt ngày suốt đêm, ăn tận hang cùng ngõ hẻm đến các nhà hàng sang trọng. Vì Sài Gòn là thành phố không bao giờ ngủ.

Người ta ăn do nhu cầu bao tử – ăn để lấy sức làm việc, ăn do giao tế và… một lý do thời thượng là ăn do công việc làm ăn. Vì thế dịch vụ ăn (uống) không ngừng phát triển và luôn luôn đổi mới trong thế cạnh tranh hết sức sinh động.

Xưa nay, Sài Gòn được xem là “đất lành chim đậu”, người tứ xứ – Tây có, ta có – đổ về tìm cơ hội làm ăn sinh sống, tham quan du lịch, nên có nhiều tiệm ăn, nhà hàng chuyên kinh doanh đặc sản nổi tiếng từng vùng, từng miền trong nước như: các món ăn Huế, mì Quảng, nem Ninh Hòa, gỏi cá Cam Ranh, bánh tráng phơi sương Trảng Bàng, hủ tíu Nam Vang, chả cá Lã Vọng… đồng hành với những nhà hàng chuyên kinh doanh các món ăn (uống) Pháp, Ấn Độ, Nhật Bản, Hàn Quốc, Malaysia, Thái Lan, Indonesia, Brazil, Tây Ban Nha, Mexico, Mỹ, Úc… Bên cạnh đó là những tiệm ăn và nhà hàng chay dành cho Phật tử và những người thỉnh thoảng chán chê thịt cá. Có thể nói Sài Gòn bây giờ là một “hiệp chúng quốc” ăn (uống). So với xưa kia, Sài Gòn chỉ biết cà ri Ấn Độ hay sang trọng hơn là “ăn cơm Tàu, ở nhà Tây, lấy vợ Nhật”.

Bước chân ra khỏi nhà là đụng ngay chuyện ăn. Gánh hàng rong, xe phở, xe hủ tíu… ngay đầu hẻm. Đi khắp các nẻo đường trong thành phố, kể cả các huyện ngoại thành, không nơi nào là không thấy ăn. Ăn ngày, ăn đêm. Một người bạn ở nước ngoài về Sài Gòn, lần đầu tiên đi tìm địa chỉ người bạn mới quen trên Internet, tìm mãi nhà nàng không ra mà chỉ thấy toàn nhà… hàng, bèn tức cảnh sinh tình: “Đi đâu cũng thấy nhà hàng/Đi hoài chẳng thấy nhà nàng ở đâu!”. Anh bạn cho biết ở nước ngoài người ta không ăn như ở Sài Gòn của mình, và Sài Gòn trước kia không ăn như Sài Gòn bây giờ.

Do cạnh tranh, nhiều tiệm ăn, nhà hàng có những chiêu tiếp thị hết sức “ấn tượng”, nhất là những nơi bán bê thui. Nửa buổi sáng, nhìn thấy xác một con bê bị chặt đầu lột da, xiên qua chiếc dùi sắt trên lò nướng, đặt ngay trên lề đường trước cửa nhà hàng thì mới thấm được chân lý “con người thông minh hơn con vật”!

Nhiều nhà hàng bán thịt thú rừng trưng biển ngay trên tường rào quảng cáo đủ loại thú rừng. Một hôm, anh bạn từ Tây nguyên – nơi rừng còn có chỗ cho thú sinh sống qua ngày – xuống Sài Gòn dạo chơi một vòng, thấy những tấm bảng to đùng liệt kê cả nhím, trút, heo rừng… bèn thốt: “Dân Sài Gòn giỏi  thiệt, bây giờ nuôi được cả  thú rừng quí hiếm này để kinh doanh. Tay thợ săn tài ba ở địa phương tôi, hú họa lắm mới bẫy được một con heo rừng”. Còn nhớ năm nào, trong một số tiệm ăn, nhà hàng có dán tờ bích chương của tổ chức bảo vệ đời sống hoang dã với nội dung: “Bắt nó trong rừng/là vi phạm luật/bán nó cho nhà hàng/là vi phạm luật/giết nó/là vi phạm luật/ăn thịt nó/cũng là vi phạm luật”, bây giờ không còn những câu khẩu hiệu như vậy nữa. Nhưng những quán bán thịt rừng vẫn tồn tại và khách thích thịt rừng (dù thịt giả) vẫn thản nhiên ăn.

Bước vào chốn ăn (uống), tôi thích nhìn… cách ăn, chứ không phải “nhìn miệng”, của người khác. Có người sung sướng khi được ăn và cũng có người vì một lý do nào đó chẳng sung sướng gì khi phải ăn, nên chỉ ăn lấy lệ. Ở những nhà hàng thì thấy rõ cách ăn nhất. Nhiều bàn “ăn vô tội vạ”, nghĩa là họ kêu thức ăn (uống) tràn lan, ăn (uống) không hết vẫn phải thanh toán tiền, biết thế nhưng họ vẫn (và luôn luôn) xem là “chuyện thường ngày ở huyện”, trong khi toàn xã hội vẫn còn rất nhiều gia đình thuộc diện “xóa đói giảm nghèo”. Người phương Tây trong chuyện ăn (uống) kỵ nhất là “con mắt to hơn cái bụng”. Nếu lỡ ăn không hết thì mang về chứ không bao giờ để thức ăn thừa lại bàn, đối với họ như thế là mất lịch sự, không tôn trọng nhà hàng mà cụ thể là đầu bếp và những người phục vụ. (Trừ thói quen lịch sự của dân Pháp, khi uống lúc nào cũng chừa một tí ở  đáy ly mới là “lady/gentlement”). Còn ta thì vì “sĩ diện” hoặc vì đâu phải tiền túi mình bỏ ra mà tiếc.

Nhưng đâu phải riêng gì người phương Tây, dân tộc ta cũng có truyền thống văn hóa trong ăn (uống) từ ngàn xưa. Điều này thể hiện qua câu tục ngữ “ăn coi nồi, ngồi coi hướng”. Khi ăn thì phải nghĩ đến cái bụng của người khác trước khi lo cho cái bụng của mình. Những nước văn minh nông nghiệp quan niệm hạt gạo là hạt ngọc trời ban, nên từ đời này sang đời khác cha mẹ dạy con cái từ khi biết cầm muỗng, cầm đũa phải vét sạch trơn chén cơm khi ăn xong, giống như người phương Tây phải dùng miếng bánh mì vét sạch dĩa thức ăn.

Nói thêm về cách ăn của một số người Sài Gòn bây giờ ở những bữa buffet – một loại hình ăn uống từ phương Tây du nhập vào nước ta và đang nở rộ, có cả buffet chay. Ăn buffet là ăn theo sở thích và tùy sức, ăn hết những gì mình lấy trên đĩa. Nhưng có người, có gia đình cố ăn cho “đáng đồng tiền bát gạo” bỏ ra nên có cảnh ăn xong rồi xoa bụng than quá no, đứng dậy không nổi hoặc bỏ mứa thức ăn đầy bàn! Thường những bữa buffet có nhiều người phương Tây dự, không hiểu khi thấy cách ăn như thế họ nghĩ gì?

Ông bà ta dạy: Học ăn, học nói…, còn người phương Tây thì có câu: Hãy cho tôi biết anh ăn ra sao thì tôi sẽ nói anh là người thế nào”. Nhưng thiết nghĩ, cách ăn xét về mặt xã hội không đáng lo bằng mục đích ăn. Nếu ăn theo kiểu “sống để ăn” hay  ăn “để công việc làm ăn được trơn tru” – một hiện tượng đang tồn tại và liên tục phát triển giữa một thành phố đang quyết tâm phấn đấu trở thành thành phố văn minh hiện đại, thì  e rằng xã hội ta sẽ ngày càng nhiều hơn những con người… “quá khổ”!

Sài Gòn/2005

Comments are closed.