Trương Huy San – Có những điều một bản án không thể kể hết về một con người

Nguyễn Quốc Chính

Tôi đã nghĩ khá lâu trước khi viết những dòng này về Trương Huy San – Osin Huy Đức. Không phải để biến anh thành một biểu tượng; càng không phải để yêu cầu bất kỳ ai phải nghĩ về anh giống như tôi. Tôi chỉ muốn viết về một con người mà tôi từng biết, về một người cầm bút có một hành trình đặc biệt, và về những nghĩa cử rất con người mà có lúc chính tôi đã được chứng kiến.

Bởi tôi vẫn nghĩ, muốn đánh giá một con người, đừng chỉ lấy một thời điểm trong cuộc đời họ; càng không nên lấy một bản án rồi dùng nó như dấu chấm hết cho tất cả những gì đã có trước đó. Cuộc đời một con người dài hơn một bản án. Và Trương Huy San cũng vậy.

Huy Đức thuộc một thế hệ mà tuổi trẻ đi qua chiến tranh. Anh nhập ngũ khi còn rất trẻ; những năm 1984-1987 làm nhiệm vụ tại Campuchia, trong giai đoạn cuộc chiến chống lực lượng Khmer Đỏ vẫn chưa kết thúc. Chính Huy Đức sau này kể rằng khi nhập ngũ, anh không chỉ nghĩ mình đi bảo vệ đất nước mà còn tin rằng mình đang bảo vệ chế độ mà mình tin tưởng. Anh từng là đảng viên từ năm 1982, từng được đào tạo sĩ quan, từng có cơ hội tiếp tục con đường trong quân đội và sau đó trong bộ máy tại Nhà Bè. Theo lời anh kể, năm 1987, khi đang chuẩn bị được xét lên đại úy, anh quyết định rời quân đội.

Chi tiết ấy đáng để nhớ, nhất là khi sau này có người rất dễ dàng dùng hai chữ “chống phá” để định nghĩa cả một con người. Lịch sử cuộc đời của người ấy ít nhất cũng buộc chúng ta phải thận trọng hơn trước khi gắn một cái nhãn.

Huy Đức đã không chọn con đường hành chính. Anh chọn viết.

Cuối năm 1988, anh bước vào Tuổi Trẻ và từ đó bắt đầu một hành trình báo chí kéo dài nhiều thập niên. Anh từng tham gia những tuyến điều tra tạo tiếng vang, từng viết về hoạt động Quốc hội theo một cách khác với lối báo chí khuôn mẫu thời ấy. Chính anh kể những loạt điều tra như Đường Sơn Quán, Nguyễn Văn Mười Hai – Thanh Hương đã góp phần đưa lượng phát hành Tuổi Trẻ từ khoảng 35.000 lên 140.000 bản mỗi kỳ. Sau Tuổi Trẻ là những năm tháng với Thời báo Kinh tế Sài Gòn, Sài Gòn Tiếp Thị và những hoạt động báo chí khác.

Năm 2005, anh nhận Humphrey Fellowship, sang University of Maryland nghiên cứu chính sách công. Năm 2012- 2013, anh trở thành Nieman Fellow tại Harvard. Một người lính từ Hà Tĩnh, đi qua chiến trường Campuchia, trở thành một nhà báo điều tra rồi bước vào một trong những môi trường học thuật báo chí danh tiếng trên thế giới. Đó cũng là Trương Huy San.

Nhưng những dòng lý lịch ấy chưa phải điều khiến tôi nhớ nhất về anh.

Khoảng đầu năm 2014, khi tôi còn làm việc ở Thái Bình, Huy Đức cùng Lê Hữu Thảo tìm đến. Thảo là một người lính đã sống sót trở về từ trận Gạc Ma ngày 14 tháng 3 năm 1988. Ở Gạc Ma hôm ấy, 64 người lính Việt Nam đã nằm lại. Thảo là người trực tiếp có mặt trong trận chiến; sau loạt đạn pháo, anh cùng đồng đội chèo xuồng đưa thi thể trung úy Trần Văn Phương và người lính bị thương Nguyễn Văn Lanh về đảo Sinh Tồn.

Huy Đức và Thảo khi ấy đang đi tìm, đi thăm những gia đình có người thân hy sinh tại Gạc Ma. Tôi đã cùng tham gia vào việc tìm và thăm ấy.

Đã hơn mười hai năm rồi. Có những chi tiết có thể nhòa đi theo thời gian, nhưng cảm giác về những ngày ấy thì vẫn còn.

Bởi khi mình thực sự bước vào một căn nhà có người con đã nằm lại ngoài biển, lịch sử bỗng không còn là những con số. Người ta thường nói: 64 chiến sĩ Gạc Ma hy sinh. Nhưng với một người mẹ, đó không phải là “một trong 64”; đó là con của bà. Với một người vợ, đó không phải là một cái tên trên bia tưởng niệm; đó là người đàn ông từng ngồi bên mâm cơm ấy, từng bước qua cánh cửa ấy, từng hẹn một ngày trở về. Và với một đứa trẻ, lịch sử đôi khi chỉ là một khoảng trống trong gia đình mang tên cha.

Tôi nhớ chuyến đi ấy bởi chúng tôi không đi tìm những người nổi tiếng. Chúng tôi tìm những gia đình bình thường, ở những miền quê bình thường, nơi có một người con đã ra đi và không bao giờ trở lại. Có lẽ chính vì vậy mà trong ký ức của tôi vẫn còn một Huy Đức rất khác với hình ảnh người ta thường tranh cãi trên mạng: một Huy Đức đi tìm những người còn sống để hỏi về những người đã chết; một Huy Đức tìm đến những gia đình đã chịu mất mát để lịch sử đừng quên tên họ.

Cũng trong năm 2014, chương trình Nhịp Cầu Hoàng Sa được hình thành. Mục đích của những người tham gia rất giản dị: kết nối những tấm lòng với những người từng chiến đấu, hy sinh để bảo vệ chủ quyền biển đảo và gia đình của họ.

Điều khiến tôi trân trọng ở Nhịp Cầu Hoàng Sa là nhịp cầu ấy không chỉ đi về một phía của lịch sử.

Chương trình tìm đến những gia đình Gạc Ma; đồng thời cũng xây nhà cho bà Huỳnh Thị Sinh – quả phụ của trung tá Ngụy Văn Thà, hạm trưởng HQ-10 Nhật Tảo, người hy sinh trong trận Hoàng Sa ngày 19/1/1974. Sau đó, chương trình tiếp tục vận động tiền mua đất, xây nhà cho chính cựu binh Gạc Ma Lê Hữu Thảo. Báo chí khi đó từng ghi nhận căn nhà của Thảo được hình thành từ sự đóng góp của những nhà hảo tâm thông qua Nhịp Cầu Hoàng Sa.

Tôi đặc biệt trân trọng điều đó.

Bởi trước những người đã nằm xuống vì bảo vệ biển đảo Việt Nam, lịch sử có thể phức tạp, nhưng lòng biết ơn không nên bị chia đôi.

Một người lính Việt Nam ở phía bên kia hy sinh tại Hoàng Sa năm 1974 và một người lính Quân đội Nhân dân Việt Nam hy sinh tại Gạc Ma năm 1988 thuộc về hai hoàn cảnh lịch sử khác nhau. Nhưng có một điều giống nhau: họ đều đã không trở về. Phía sau họ đều có những bà mẹ mất con, những người vợ mất chồng, những đứa trẻ mất cha.

Nối lại những mất mát ấy bằng lòng biết ơn, theo tôi, trước hết là nghĩa đồng bào. Là tình người. Và đó cũng là một phần con người Huy Đức mà tôi từng nhìn thấy.

Bởi vậy, khi có người dùng hai chữ “chống phá” để nói về toàn bộ con người Trương Huy San, tôi nghĩ chúng ta cần thận trọng. Không phải vì tôi từng là bạn của Huy Đức, mà bởi chính hồ sơ tố tụng công khai cũng không cho phép chúng ta tùy tiện đi xa hơn những gì đã được xác định.

Ngày 27/2/2025, Tòa án Nhân dân Thành phố Hà Nội tuyên Huy Đức 30 tháng tù theo khoản 2 Điều 331 Bộ luật Hình sự. Đó là một bản án đã được tuyên và cần được ghi nhận đúng như vậy. Nhưng cũng chính thông tin chính thức về phiên tòa ghi rằng khi đăng những bài viết, Trương Huy San “không nhằm mục đích chống Đảng, chống Nhà nước”. Cáo trạng trước đó cũng ghi lời khai của ông rằng mình “không có ý đồ chống Đảng, chống Nhà nước”.

Vậy thì, ít nhất nếu tôn trọng hồ sơ chính thức, chúng ta cũng phải tôn trọng sự phân biệt ấy.

Anh bị xét xử theo Điều 331. Anh không bị xét xử về tội danh tại Điều 117 liên quan đến hành vi nhằm chống Nhà nước. Hai điều luật ấy không phải một.

Một bản án đối với những hành vi cụ thể không tự động trao cho bất kỳ ai quyền viết lại toàn bộ lịch sử của một con người thành hai chữ “chống phá”; càng không thể vì thế mà xóa đi việc người ấy từng mặc áo lính, từng làm nhiệm vụ ở Campuchia, từng dành hàng chục năm làm báo, từng đi tìm những gia đình liệt sĩ Gạc Ma, từng góp sức với Nhịp Cầu Hoàng Sa, từng cùng những người khác tìm cách trả lại tên tuổi, ký ức và sự tri ân cho những người Việt đã nằm xuống ngoài biển.

Muốn phản bác Huy Đức, hãy phản bác những gì Huy Đức viết.

Nếu dữ kiện của anh sai, hãy đưa ra dữ kiện đúng. Nếu lập luận của anh thiếu, hãy chỉ ra chỗ thiếu. Nếu một cuốn sách của anh thiên lệch, hãy dùng tài liệu lịch sử để chứng minh sự thiên lệch ấy.

Đó mới là tranh luận.

Còn lấy một cái nhãn thay cho lập luận thì rất dễ; nhưng nó không làm chúng ta tiến gần sự thật thêm một bước nào.

Có một điều khác ở Huy Đức cũng khiến tôi suy nghĩ. Trong cuộc phỏng vấn dài về cuốn sách của anh, anh nói mình không muốn đóng vai công tố viên của những người cộng sản; anh muốn đưa những điều mình thu thập được vào sách và để độc giả tự đánh giá. Điều thú vị là chính cách tiếp cận ấy cũng từng khiến anh bị một số người chống cộng chỉ trích vì họ cho rằng anh chưa đủ gay gắt với những người cộng sản.

Chi tiết ấy cho thấy đời sống thực phức tạp hơn rất nhiều so với cách chúng ta thường chia thế giới thành hai ô: “ta” và “địch”.

Người cầm bút nghiêm túc không nên bắt đầu bằng việc xác định ai là thiên thần, ai là quỷ dữ rồi mới đi tìm dữ kiện để chứng minh điều mình đã tin. Bởi khi đó, ngòi bút không còn đi tìm sự thật nữa; nó chỉ đi tìm bằng chứng cho định kiến.

Sự thật đôi khi khó chịu. Nó có thể làm người mình quý mến tổn thương; cũng có thể buộc mình phải thừa nhận một điều tốt đẹp ở người mình không thích. Nhưng nếu người viết không đủ can đảm đối diện với cả hai điều ấy, chữ nghĩa cuối cùng chỉ còn là một công cụ.

Tôi không viết những dòng này để phong thánh cho Huy Đức.

Anh không cần điều đó.

Tôi chỉ muốn trả một con người về đúng với sự đầy đủ của cuộc đời anh: một người con Hà Tĩnh; một người lính từng đi qua Campuchia; một nhà báo điều tra trưởng thành trong thời kỳ báo chí Việt Nam đầy chuyển động; một người từng bước vào Harvard với tư cách Nieman Fellow; một tác giả tạo nên những cuộc tranh luận lịch sử chưa thực sự kết thúc; một người tham gia Nhịp Cầu Hoàng Sa; một người từng cùng Lê Hữu Thảo đi tìm những gia đình có người con nằm lại ở Gạc Ma; và rồi một người bị kết án 30 tháng tù bởi 13 bài viết trên Facebook.

Tất cả những điều ấy đều thuộc về một Trương Huy San.

Không nên lấy phần nào để xóa phần nào.

Có lẽ sự công bằng với một con người, cũng như sự công bằng với lịch sử, bắt đầu từ một nguyên tắc đơn giản như vậy.

Tôi vẫn nhớ chuyến đi ở Thái Bình năm ấy. Những con đường làng; những căn nhà bình thường; những người mẹ đã già; những cái tên của những chàng trai không bao giờ trở về từ Gạc Ma.

Sau hơn mười hai năm, tôi càng hiểu vì sao ký ức ấy vẫn ở lại.

Bởi danh tiếng rồi cũng qua. Những cuộc tranh luận hôm nay rồi sẽ có những cuộc tranh luận khác thay thế. Ngay cả một bản án, một ngày nào đó, cũng sẽ trở thành vài dòng trong lịch sử.

Nhưng cách một con người đối xử với những người đã mất; với những người yếu thế; với những gia đình chẳng thể mang lại cho mình danh tiếng, quyền lực hay lợi ích gì – đôi khi lại nói được nhiều nhất về phần người bên trong họ.

Tôi đã từng nhìn thấy phần người ấy ở Huy Đức.

Và tôi muốn kể lại.

Không phải để yêu cầu mọi người phải nghĩ giống tôi. Chỉ mong rằng trước khi gọi một người bằng bất kỳ cái tên nào, chúng ta dành cho mình một chút công bằng: hãy đọc những gì anh ta đã viết; hãy nhìn những gì anh ta đã làm; hãy nhìn cả con đường anh ta đã đi qua – rồi hãy phán xét.

Bởi một xã hội thượng tôn pháp luật cần những phán quyết của pháp luật được tôn trọng; nhưng một xã hội có văn hóa cũng cần một điều không kém phần quan trọng:

Đừng biến một bản án thành quyền được xóa bỏ cả một con người.

This entry was posted in Văn and tagged . Bookmark the permalink.