Tràng hạt – Trái tim Nam tiến Đỗ Quyên ca

Nguyễn Nguyên

“Đất nước tràng hạt”, trường ca du ký của Đỗ Quyên, với kì 1 (trên vanviet.info) xuất hiện đúng quốc khánh năm thứ 81 nước Việt. Tôi không nghĩ đây là sự tình cờ, mà là tâm niệm của người dẫu ở đâu trên hai nửa bán cầu đều dành lòng hướng về đất nước hình chữ S thân thương. Có điều, đây là lần đầu tiên tác giả dành trọn vẹn một trường ca về Tổ quốc mình. Lịch sử giữ nước, “đẻ đất đẻ nước” bi hùng tự tại hiển hiện trong thi nhân thi ca con dân Việt…

“Châu về/thân đậu/con dân

Nước non/non nước/xa gần là đây”...

*

Thật ra, dáng hình mỗi quốc gia, đất nước trên thế giới này đều rất khác nhau. Nhưng dáng hình Việt Nam đúng là dị biệt, chưa cần đến AI khảo sát.

Thật ra, con dân thi nhân mỗi quốc gia đều yêu đất nước mình dẫu nó có hình dạng gì, bởi đó là “tự tánh” như nhà trường ca nói theo lời nhà Phật. Nhưng chưa chắc có dân tộc nào yêu thơ, làm thơ, “nói thơ” như dân tộc Việt; nên cái tình yêu nước bằng thơ nơi này chắc hẳn cũng dị biệt không kém hình chữ S.

“Những tưởng trăm năm chết đến già/nay mừng chấm dứt chuyện quê xa/ trường ca buộc chặt vào non nước/thi phú ôm chầm lấy dân ta”…

Trước Đất nước tràng hạt, hình dáng đất Việt đã từng trong con tim khối óc biết bao thi nhân Việt như “hình tia chớp”, như “gươm như cung dây căng đất nước ngang trời”, như “đòn gánh tre chín dạn hai vai nam bắc”, như “dáng nữ nhân con cò mỏng manh gầy guộc lụi cụi lom khom bay men biển Đông dải lụa”, như giọt đàn bầu chảy lệ giang sơn… Đỗ Quyên cũng từng nói “Hình đất nước như chiếc đinh đóng xuống/bán cầu Nam”. Đến trường ca này, chữ S non sông lần đầu tiên xác quyết “Trái tim Nam tiến” với vòng tràng hạt buông lơi!

Một lần nữa, sau Quần-đảo-tráo-tên (2024), tác giả lựa “đứng trên vai” thi nhân Việt đồng sáng tác về cuộc sinh tồn đất nước. “Mỗi quê Việt mỗi lời thơ” khiến ông muốn khóc trước 41 thi phẩm thi nhân địa-sử-thơ neo vào bản đồ Tổ quốc. Từ đấng quân vương Lê Thánh Tông, đến các chí sĩ ái quốc Huỳnh Thúc Kháng, Nguyễn Trường Tộ, và lớp lớp thi nhân Cao Bá Quát, Nguyễn Du, Hàn Mặc Tử, Văn Cao, Nguyễn Bính, Xuân Diệu, Hoàng Cầm, Hữu Loan, Nguyên Sa, Tô Như Châu, Phan Vũ, Du Tử Lê… đều gắn mình vào những miền quê máu thịt bằng những lời thơ gan ruột. Giờ đây theo “Trái tim Nam tiến”, chảy dài thấm đẫm suốt “Ải Bắc Quan vầng trán trời Nam” tới Mũi Cà Mau “ngón chân cái chưa khô bùn vạn dặm”.

“Vầng trán trời Nam” là danh hiệu tác giả gọi Ải Bắc Quan già 2000 năm tuổi, 8 lần thay tên, nhưng vẫn một địa danh đan kết sử vàng thiên thu tộc Việt. Những dấu mốc biên ải bị xâm lăng đẫm máu, bi hùng còn đọng mãi trong lịch sử và huyết quản con dân. Từ thời khắc vua Đinh Tiên Hoàng dời đô về Thăng Long tứ trấn năm 981 cho đến 1979 “thiên triều” các đời Tống, Nguyên, Minh, Mãn Thanh và Trung Quốc đương đại, đều nhè Vầng trán trời Nam lấy thịt đè người. Trong đó, cuộc chiến Biên giới Trung-Việt 17/2/1979 khiến cả trăm triệu con dân ta không cần đọc sử mà tận mắt thấy máu dân tộc một lần nữa thấm Ải Bắc. Thêm một lần khắc cốt ghi tâm dù thời thế nào, thể chế nào, phên dậu nước nhà chưa bao giờ hết nguy cơ binh đao khói lửa. Điều “không may” cho phương Bắc là dù ở thể chế nào, thậm chí thời Việt Nam đang bị nước Pháp cai trị, sử vàng vẫn ghi chiến công lừng lẫy cho người Việt.

Đã có một tuyên ngôn chủ quyền non sông được Lý Thường Kiệt xác lập lần đầu. Một Bình Ngô được Nguyễn Trãi bố cáo khắp cõi. Một dải cột mốc thiêng liêng hoàn tất vào cuối năm 2008 theo Hiệp ước Việt-Trung trở thành biên giới trên đất liền và vịnh Bắc Bộ – lần đầu tiên nhà nước Việt Nam ký với Trung Quốc trong suốt chiều dài lịch sử hơn bốn ngàn năm của dân tộc. (Năm 1891 người Pháp đã ký với triều đình Mãn Thanh một hiệp ước biên giới phân chia chủ quyền Việt-Trung, và vài năm sau phải xảy ra Chiến tranh Pháp-Thanh với một tấm bia đặt ngay tại Ải Nam Quan – “Không phải vách đá bảo vệ được biên giới mà là các hiệp định” bằng chính chữ Hán!).

Vậy mà hiện nay, Biển Đông thuộc nước Nam ta chưa bao giờ ngưng dậy sóng với Hoàng Sa bị cướp cạn ban ngày; các vùng thuộc quyền chủ quyền lãnh hải Việt Nam theo luật pháp quốc tế hoạch định năm 1982 mà Trung Quốc dù đã ký vẫn từng ngày tạo vùng xám với đường lưỡi bò lộng ngôn quyền bá. Khiến nhà thơ phải chọn ca dao để liên văn bản:

“Bắc thang lên hỏi ông trời/làm sao biên giới truyền đời bình an/làm sao Ải Bắc yên hàn/thảo trường ca hỏi anh Bành tổ ơi”?!

*

Rời “Vầng trán trời Nam”, Trái tim Việt “chảy xuống” sông Hồng nơi “ai con dân chẳng mang trong mình những ngụm nước sông màu máu”. Nơi sinh sôi châu thổ phồn sinh, “thiên đường của những con giống, hạt giống, của Lạc Long Quân và Âu Cơ, của Sơn Tinh và Mị Nương của Tiên Dung và Chử Đồng Tử của Khâu Đà La và Man Nương của Triệu Đà và Trình Thị của Mị Châu và Trọng Thủy, thiên đường của ông và bà của cha và mẹ của ta và nàng”… như lời ngà ngọc trường ca gia liên kết từ tác phẩm của các thi hữu, để rồi tụ lại Thủ đô. Biết bao lớp người, lớp văn nhân sống mãi với thủ đô kháng chiến và hiện đang trong cuộc đại di dân để “Hà Nội hóa rồng” cùng đất nước giữa thế kỷ đây.

Dẫu còn đó thời khắc trái tim rớt xuống, khuỵu xuống, quặn xuống bàn nhậu tràn thơ, tràn trường ca ung thư thứ dữ… Cầm lòng sao được trước những câu thơ túa máu, những câu thơ cạn lòng của nhà trường ca Nguyễn Việt Chiến:

“Dải đất buồn đau khổ rất phì nhiêu/xin đừng hỏi vì sao ta phải sống/sống làm người vượt qua bao tuyệt vọng/cho đến ngày ung nhọt vỡ tung ra”!

Hay như các thi sĩ khác cùng vào liên văn bản… “Những người thơ dưới chân đê/nâng chữ hàng ngàn năm châu thổ” chưa bao giờ biết dòng sông cái “chọn ai là nhà thơ xứ sở/ trao ai sứ mệnh độc quyền phát ngôn xứ sở Phồn sinh”. Họ chỉ cần “yêu Hà Nội như Việt Nam tụ lại”, “yêu Việt Nam như yêu mẹ cha mình”.

Khi hình chữ S như “trái tim cắm xuống Điện Biên”, trường ca gia tự giễu mình “biết rồi thích lắm nói mãi” về một miền hoa ban sắc trắng tinh khôi bung ra giữa trời cao đất sâu như bức tranh xuân vùng cực tây Tổ quốc hùng tráng nên sử nên thơ. Một Pha Đin – một đất trời “chị gánh anh thồ… máu trộn bùn non gan không núng trí không sờn” (Tố Hữu) đang bủa lên trời những đợt sóng thiên nhiên hùng vĩ: “trăng lên vồng ngực sơn nữ/đỉnh Pha Đin/gió luồn vờn lọn tóc ai/ mắt chiều lả lướt men say/khăn piêu buông mảnh trăng treo nắng cài”.

“Trái tim hôn xuống” ngôi chùa cổ kính lớn nhất Việt Nam mang tên Phổ Minh tự, rồi chùa Đức Bà làng Đanh nổi tiếng với danh ngôn “vắng như chùa Bà Đanh” hiện đều thuộc Ninh Bình, lưu giữ những giá trị khai sáng của Phật pháp khiến tác giả tìm đến Du Tử Lê: “xin em tràng hạt lối này/một tay nước mắt một tay tim sầu/xin em đôi búp tay thiền/một bên tuệ dắt một bên tâm dìu”. 

Rồi “trải xuống, thẳng xuống mãi ngày mai” khi trường ca gia còn tươi tuổi trời, khắc tu khắc ngộ tuổi Phật, tuổi con mẹ con cha, con nước con nhà, trước khi “rỏ xuống, đọng xuống Hoàng Sa Trường Sa”. Trước khi “trườn xuống, quặn xuống” khúc ruột miền Trung đất thiếu trời thừa, “tưởng một tay vục vào biển cả, một tay chạm trời vượt qua dãy Trường Sơn”, “da thịt nơi nào cũng có mảnh bom găm/đất càng chật bom càng dày nhung nhúc”. Để rồi “đằm xuống, cấy xuống” Huế mộng mơ “thơ vào sẽ nối lại thơ ra/như thi nhân theo về thi quán”. Để rồi neo xuống, bay xuống, căng xuống, tỏa xuống Hải Vân quan Đà Nẵng ngỡ ngàng trong thi tứ kiểu Hồ Xuân Hương “vén mây muốn bước lên trên tót/đoái lại vầng trăng lẽo đẽo theo”. Nặng lòng với lời răn của Chế “không cần viếng thi nhơn/ đòi thơ hôn hồi cố/chỉ cần nhìn nhau khóc/một giây góc cao lầu” mà bừng tỉnh cùng đáng sống nơi cửa mình đất nước Đà Nẵng. Để rồi “trụ xuống, thốc xuống” nóc nhà Đông Dương Tây Nguyên mà các bên tham chiến bất cứ thời kỳ nào đều muốn giành cho bằng được. Và kết thúc với cú đánh knockout kỳ bí của tướng Giáp, từ đó “đâm cái rầm vào cột mốc lịch sử Tháng Tư Ngày Ba mươi”; chấm dứt cuộc chiến gần 21 năm.

Trái tim đất nước vuốt xuống Sài Gòn hoa lệ 300 năm bao nếp sử thi khiến người ta nhớ tới 300 năm Nguyễn Du mơ giọt lệ khóc mình.

Sài Gòn “đầu gối động chuyển sơn hà” không biết từng mang trên mình bao nhiêu cái tên, giờ là nơi đánh dấu lần thứ hai trong lịch sử giang sơn Việt thu về một mối, sau thời nhà Nguyễn 1802. Giới tuyến tạm thời chia cắt non sông cầu Bến Hải từng phải kéo dài thêm 19 năm theo Hiệp định Giơ-ne-vơ 1954; trước đó Chủ tịch Hồ Chí Minh từng ký với người Pháp Hiệp định Sơ bộ và Tạm ước 1946 với lời thề “miền Nam trong trái tim tôi”… Nhà nước Việt Nam đã chấm dứt được một cuộc chiến đau thương mà cả hai miền Nam Bắc từng là tiền đồn cho hai hệ tư tưởng, để cuối cùng giành độc lập non sông. Giây phút thiêng liêng ấy đổi bằng máu của con dân Việt. Là nước mắt của biết bao người vợ, người mẹ ở cả hai miền mất con, mất chồng. Là cuộc di dân lớn nhất của người Việt đương đại. Cái tên “thuyền nhân” vẫn nhức nhối chưa biết đến bao giờ bởi một phần con dân Việt “không chết mà tự mất đi”.

“Cái chết có đáng sợ không/điều đáng sợ nhất của con người là sự sợ hãi của chính họ/Thuyền đã nói thế” (Tiểu thuyết Thuyền).

Với Đất nước tràng hạt, Sài Gòn còn là nơi “hai nửa trái tim dâng lên chìm xuống”; “Hình đất nước như nửa trái tim chìm xuống/Biển Đông”. Nhưng vẫn nguyên vẹn một hòn ngọc để trái tim nước Việt “lao xuống” ôm ghì. Trong đó có cái nhìn sâu thẳm nơi thư pháp thơ Sư ông Thích Nhất Hạnh “Chẳng biết rong chơi miền tịnh độ/Làm người một kiếp cũng như không” đã chạm tới Đỗ Quyên “nay biết rong chơi miền tử địa/làm người duyên phước hướng Chân như”… Có cái tình lạ lùng mà người Sài Gòn Nam Bộ dành cho Bùi Giáng suốt cuộc đời, để ông hân hưởng thân mật vui chơi niềm nở từ cái thời làm thầy tới sau thời “khởi sự bụi đời lang thang”: “Sài Gòn Chợ Lớn rong chơi/đi lên đi xuống đã đời du côn”.

Có nỗi buồn tiền sử loài người sau những hàng me Bình Nguyên Lộc:

“ôi những cây me ngủ chiều/gợi nhớ sự nghỉ ngơi của đồng áng/gợi nhớ những nỗi buồn tiền sử loài người/khi chiều xuống họ hãi hùng nhìn cây ngủ chim về mặt trời chun xuống thiên nhai không biết ngày mai sẽ trở lại hay không”.

Thế rồi lượn, đậu, ấp xuống lục tỉnh Nam Kỳ “phong sương mấy độ vùng Nam Bộ/hạt bụi nghiêng mình xuống chín sông”, trường ca gia thả mình vào cuộc sống hôm nay, vùng đất “điệu hò ơ khói sóng mênh mông”.

Một chuyến xe đò mượt mà có thẻ lên xe song ngữ. Một gói xôi nếp 20 ngàn đồng no phưỡn bụng từ má Tư Bắc kỳ di cư vào con hẻm nhỏ từ thuở nảo thuở nào. Một cô gái thu ngân như nước chảy vào chỗ trũng. Có cả một “Sóc thỏ bây giờ là sóc trắng/gái mặc đầm ra đứng ngó trời” khác hẳn “Mỹ Tho Mỹ Thọ Sóc Trăng ơi” thời trung niên thi sĩ họ Bùi. Có cả một tiếng vọng hương hồn nước non xưa từ chùa Sa Lôn Cần Thơ; một cơ ngơi công tử Bạc Liêu trứ danh; một “Tây Đô gió lộng sông nhiều/lục bình trôi biết bao nhiêu mắt buồn”. Nhưng đặc biệt nhất, ngày 2/7/2026 vừa qua đã diễn ra sự kiện Đức Hồng Y Luis Tagle của Tòa thánh Vatican chủ trì Đại lễ tuyên phong Chân phước cho mục tử Phanxicô Xaviê Trương Bửu Diệp. Sự kiện này không chỉ ghi nhận sự hy sinh bảo vệ tín đồ của cha Diệp trước lưỡi gươm phát xít Nhật, mà còn nâng tầm nhà thờ Tắc Sậy thành trung tâm hành hương có ý nghĩa quốc gia và quốc tế. Rồi nhà trường ca cũng không quên ghé ngôi chùa Miên Bôtum Vong Sa Som Rong (Sóc Trăng), nơi Đức Phật mỉm chi nhập Niết bàn vẫn vì chúng sinh muôn thuở.

*

Ngoại đạo, vô thần, mê thiền, tín đồ Phật và Chúa, nhà thơ vốn nằm lòng các thi phẩm của các con Phật, trình làng những giá trị cốt lõi của đạo Phật gắn với “Trái tim Nam tiến” trong hành trình yêu nước, giữ nước của người Việt. Sắc sắc không không, bất sinh bất diệt, khắc đi khắc đến, khắc tu khắc ngộ, lấy đối thoại xử lý những khác biệt để từ bi hỷ xả cùng nhau; đó là những giá trị cốt lõi của đạo để nhân loại, quốc gia hòa bình.

“Tay lần tràng hạt/nhìn lại cội nguồn/ ba nghìn thế giới/địa cầu trùng muôn”/ “Tay lần tràng hạt/vô lượng quê nhà/tinh anh bá tánh/ dân tộc tịnh thanh”…

Nhưng trong bối cảnh trí nhân chưa thay được cường bạo, súng đạn bóp nghẹt ngôn từ, “Buông súng lần tràng hạt” là sự nhắc nhớ nỗi đau con dân Việt phải gánh chịu trong suốt quá trình bảo vệ đất nước. “Đồng đường đạo tâm” với hình chữ S, Đỗ Quyên lần những vòng trên cổ, trên tay, trên tâm, trên thi phẩm, thi nhân, thấy hạt nào cũng như nhịp thở, nhịp tim, nhịp nòi giống, nhịp giang san. Thậm chí ông còn “sáng tạo bản thân niệm châu riêng/trên một tràng cư mang luôn hai nửa/nửa 44 hạt da vàng/nửa máu đỏ 28 hạt tràng”.

Trường ca gia bèo dạt mây trôi có cơ hội nhìn thấy, thấu hiểu con dân Việt ở nhiều phương trời ngoài biên cương chữ S. Trong đó, nhức nhối nhất là cộng đồng Việt ra đi bởi cuộc chiến. Với nỗi đau thất trận nhuốm màu hận thù, nỗi bẽ bàng nhận ra sự thật bị bỏ rơi, nỗi cô đơn thành nấm mồ nơi đất khách, nỗi tang thương nẻo đường thuyền nhân ám ảnh… Cao Đông Khánh, Du Tử Lê thốt lên buổi đầu xa xứ…

“Nếu tất cả trở về đông đủ/Cộng đồng ta sẽ thành mấy Cộng đồng”; “một Cộng đồng năm mươi năm viễn xứ/máu người đi ngàn dặm chảy dài/lệ người đi nhòa màu xanh trời lộng/nơi cột mốc biên cương nơi heo hút rừng già”…

Động lòng sâu sắc với tâm cảnh người xa xứ, con chữ Đỗ Quyên quyện với chữ thơ họ Bùi: “Ta về rũ áo mù sa/trút quần phong nhụy thôi làm di dân/lần trong gió bụi trầm luân/mới hay đất nước thuộc phần tâm ta”. Ông cùng Nguyễn Quang Thiều “thưa mẹ con về với mẹ đây/ly lương đã tắt cuối con đường/ôi Đất mẹ lại lớn một vòng tay/mây bay suốt bốn nghìn năm và mẹ/nước mắt đầy trên những nếp nhăn/Con không đi mất và con còn đây nữa/con còn suốt đời tuổi ba mươi”. Và “Trở về hồng mã bên hiên/mẹ ơi trên ngựa chiếc yên vẫn người” cùng chữ thơ Thanh Tịnh.

Thấu cảm tâm can nhưng rành rẽ cõi lòng, “xin phép tiền nhân nghỉ tị nạn ngay và luôn”, trường ca gia gửi “lời cuối” tới “những ai khát thế giới tự do/ những nghĩa sĩ mơ phục hồi cố quốc/ hồn non cao xác lỡ mất chuyến đò” “cứ thủ mãnh liệt nghe chưa giờ ta chẳng còn cần/Sông núi biển trời ngụ cư và cả nấm mộ chờ của ta cho các ngài thủ tất/ vì hải ngoại này của Cục Di dân đâu phải của di dân”.

“Đã sống tận cùng ly hương bối nhưng chưa bao giờ nuôi hồi vọng”, tác giả cũng lần đầu “đóng đinh” gửi chính mình: “thôi tị nạn anh là thằng hồi thủ/xin khắc chữ Hồi khi anh chết lên bia”.

Sáng rỡ tâm tưởng này, trường ca gia trân trọng dành hẳn vòng 40 hạt nâng niu con chữ Tô Thùy Yên – thi nhân li hương ngay trên đất Việt, nhẫn nại đi qua những năm tháng giam cầm để về lại nguồn cội chính mình:

“Ra về như một bình minh lạ/trên kỷ nguyên đang kịp hiện hình/ thi sĩ nước Nam cần sống dựng/ bao nhiêu năm lịch sử hồi sinh”;

Hỡi ôi gió nổi lên cùng khắp/giục gã du hành rảo bước thôi/ăn gạo quê uống nguồn suối tổ/tâm hồn ta mãi mãi mới tinh khôi”.

Để rồi một lần nữa chốt chặt: “Ta về hôm nay cũng không là sớm/Đất nước hành hương mấy chục thế kỷ rồi/ta đến hôm nay cũng không là muộn/Tổ quốc còn lâm hành mãi khôn nguôi”.

“Bất đáo trường ca phi hảo hán” có thể không phải chỉ là “quyền chém gió” của các thi nhân như Đỗ Quyên từng nói, bởi nhà trường ca luôn tự hào chưa đất nước nào trên thế giới có đội ngũ thi nhân trường ca hùng hậu như đất nước mang hình chữ S. “Trái tim Nam tiến” chỉ là một trong những hình tượng về tình thi nhân Việt dành cho giang sơn. Yêu tổ quốc là một trong 23 nhận dạng về bản tính thơ Việt mà tác giả Đất nước tràng hạt khái quát ở trường ca du ký này. Tình yêu ấy không chỉ là biểu tượng quật khởi của một dân tộc trong các cuộc cứu nước. Mà còn là sự hòa nhập của nhiều tộc người trong suốt lịch sử hình thành giang sơn.

Là nỗi đau sau mỗi cuộc chiến oai hùng trong tiếng thơ rơi lệ Ngân Giang “Ải Bắc quân thù kinh vó ngựa/Giáp vàng khăn trở lạnh đầu voi/ chàng ơi điện ngọc bơ vơ quá/trăng chếch ngôi trời bóng lẻ soi”. Có nỗi bi ai bất diệt trong huyết bút Á Nam Trần Tuấn Khải và Hoàng Cầm… “đây Nam Quan những u hồn thấp thoáng/đứng đầu non trông dõi bóng gia hương/Nam Quan đây anh hùng xưa lảng vảng/trỏ sang Tàu vạch máu thẳng đường gươm”.

Là hiện thực lúc này dẫu phũ phàng bi thiết: “Xin đừng hát những lời vui vẻ quá/xung quanh ta dịch bệnh với đói nghèo/bão nối bão cứ thay nhau vùi dập/dải đất buồn kiếp sống quá gieo neo”.

Là 15 năm lưu lạc giữa trần đời ngang trái của Kiều đâu có khác cảnh ly hương vì cuộc chiến (chưa kể 15 năm “đâu dâm đâu tặc đâu dằng dặc” Bùi Giáng gánh liêu xiêu cùng Nguyễn, trước cả cái ngày Tố Hữu chia lệ chảy quanh thân Kiều.

Tình yêu ấy còn là khát vọng cuối cùng mà bậc khảo cổ danh tiếng ở tuổi cửu tuần đến bằng được Cà Mau để “có đúng cảm giác đang cưỡi con tàu Tổ quốc” nơi “mũi thuyền ta đó” tiến thẳng ra biển như thơ chàng Xuân dạo nào, trước qui tiên có 3 ngày ngắn ngủi. Là chàng trai Vàm Cỏ dùng tên sông Việt đặt tên tinh tú bầu trời. Là hình chữ S trải đá trên mảnh vườn ở bất cứ nơi nào liền anh liền chị Lam Lâm Tây lai Ma rốc cư ngụ trên hành trình xuyên thấu Nam-Bắc Việt Nam, xuyên thấu Âu châu, Hoa Kỳ. Là bộ sáu kinh Pháp cú 423 bài kệ khắc trên 70 cột đá hoa văn lục giác chữ Việt giữa chữ Hán chữ Anh uốn lượn hình S tại chùa Tâm Từ thành phố San Jose Hợp chủng quốc Hoa Kỳ. Là một giọng ca trầm như hơi thở đất Khánh Ly gắn với nhạc Trịnh luôn còn lan tỏa.

“mưa Sài Gòn phố là sông/người đi không định – định không giở về/xuân Hà Nội đêm hương quê/ người không định đã lại về cùng mưa”…

Yêu địa-sử-thi Việt, không biết đến bao giờ đi hết cuộc nợ trường chinh, tác giả khao khát thi ca, tiếng Việt không vô vọng mà vang vọng “chân đỉnh Nô Beo”. Có lẽ vì thế trường ca gia đã tôn Nguyễn và Bùi là “tổ nghề”, đã giả định đề cử Truyện Kiều và truyện Chí Phèo của Nam Cao vào tầm vóc ấy. Đỗ Quyên còn đưa ra 23 đánh giá tính chất thơ Việt với những điểm nhấn dễ đồng thuận về vẻ đẹp lung linh; nhưng chắc rằng không ít quan niệm sẽ gây tranh cãi. Như: thơ Việt nhiều tình cảm ít chân ý, ít biến động thi pháp, chậm đổi thay giọng điệu, hiếm bất ngờ chi tiết; cá tính tác giả không nổi trội hơn nhân vật chữ tình, cái tôi lép vế chủ thể; quan hệ Thiên-Địa-Nhân lấn át quan hệ Người-Người; con người trữ tình cần thiên nhiên hơn là ngược lại; sáng tác vượt xa phê bình, học thuật; giỏi bình điểm, tài nhận định, mỏng phê bình, chậm nghiên cứu, vắn lý luận; dòng thơ hiện đại của thơ miền Nam trước 1975 đi song hành cùng thế giới phương tây; bản sắc thơ Việt còn nhiều so lệch với chuẩn mực Thơ-toàn-cầu… Bàn thảo những nhận định chuyên sâu này thuộc giới phê bình, hoặc “thây kệ họ Trịnh” như cách tác giả dựa dẫm. Người đọc chỉ cần chia sẻ nỗi niềm trường ca gia đau đáu hướng về vị thế tương lai thơ Việt, thi nhân Việt mà thôi.

*

Có thể vì thế, Đất nước tràng hạt vẫn tiếp tục xu thế đưa dòng thơ trường ca về cuộc sống hiện hữu muôn màu sắc với cái cách nhìn đời thật hồn nhiên, dung dị, hài hước; dù li ti vi mô hay to tát tầm thời cuộc vĩ mô. Ví như “hải ngoại bị phân mảnh bởi nội thù ngoại xâm kệ vợ/ai muốn làm gì thì làm anh chỉ nắn nót yêu em”;

“Chung quanh vẫn đất nước nhà/Ngữ ngôn – Thời cuộc vốn là đồng hao”;

“Biết đâu tình trần giăng lối, tôi mần thơ, bà rao số/đặng không thả đi chiếc vé cuối cùng/chúng ta sẽ năng sản dần dần đàn con như đàn chữ đàn số”…

Thậm chí tác giả còn muốn nâng tầm khẩu ngữ “thây kệ nó” của họ Trịnh, còn muốn đồng sáng tạo lời cụ Cố Hồng “biết rồi khổ lắm nói mãi” của Vũ Trọng Phụng, muốn nhân bản thật nhiều thi tứ “Sài Gòn Chợ Lớn dong chơi” của họ Bùi – “Suốt đời nhớ nước suốt đêm/suốt ngày hồi cố di dân suốt đời/suốt đêm nhớ nước đã đời/suốt ngày hồi cố đã đời di dân”…

Có thể vì thế, trong một hình tượng “Trái tim Nam tiến” đã ngồn ngộn, đầy ắp những con người thật, thi nhân thật, thơ ca thật, lịch sử và hiện thực thật suốt chặng đường “Đất biết nở/rừng biết đi/biển cả sinh sôi” của Việt Nam Tổ quốc “trăm cẩm tú/ngàn chông gai/ngàn viễn cảnh”.

Nhưng quả thực, không đọc các Chú thích “đông như quân Nguyên” dưới chân trang, không thể thấy hết công phu cũng như sự mạch lạc khách quan và chiều sâu tư duy thơ, quan niệm thơ, quan niệm sống, quan niệm thời cuộc của nhà trường ca này. Không thấy hết cái “đồng sàng đồng mộng” của tác giả Đỗ Quyên với chí ít 108 “đồng tác giả” Việt được trích dẫn tác phẩm trong Đất nước tràng hạt. Càng không thấy rõ những cống hiến của trường ca gia trong cuộc trường chinh du hý, thậm chí còn dễ khiến người ta “chường chán ca”. Đó là chưa kể “thực thể thi ca hòa trộn văn vần” gây không ít khó cho khả năng ngâm, vịnh, trình diễn trường ca như phương tiện đồng sáng tạo mang bản sắc thơ Việt như chính tác giả từng tổng kết.

Chỉ những ai đủ nhẫn nại đi đến cùng các Xem thêm, những Chia sẻ ngoài lề”… của Đất nước tràng hạt với “Trái tim Nam tiến” mới thấu cảm sâu sắc những câu thơ đẹp đến nao lòng:

“Tiếng Việt nghèo mà đẹp như một dòng suối nhỏ/ ta như chim trong tiếng Việt như rừng/ôi tiếng Việt như bùn và như lụa/Tiếng Việt ơi tiếng Việt xót xa tình”.

Lành thay. “Chúa ân – Phật độ – Trời thương”.

 

Thu Hà Nội – ngày 25/9/2026

This entry was posted in Nghiên cứu Phê bình and tagged . Bookmark the permalink.