Lê Hồng Lâm

Đạo diễn Nguyễn Vinh Sơn và diễn viên Hồng Ánh trong phim Người đàn bà mộng du

Nhà báo Lê Hồng Lâm, đạo diễn Nguyễn Vinh Sơn và diễn viên Hồng Ánh trong buổi chiếu Trăng nơi đáy giếng tối 21-3-2025
Nghe Hồng Ánh báo tin anh Nguyễn Vinh Sơn vừa mất mà bàng hoàng và thương tiếc anh, một đạo diễn tài hoa, khiêm cung và giản dị. Tiếp xúc với anh lúc nào cũng thấy ấm với giọng Huế nhẹ nhàng, với nụ cười tủm tỉm luôn nở trên môi, với phong thái từ tốn, điềm tĩnh, thong dong. Dường như cả đời anh chưa bao giờ thấy vội.
Lần gặp anh gần đây nhất là tháng 3 năm ngoái, lúc Cinephile tổ chức buổi chiếu Trăng nơi đáy giếng. Đó là một buổi chiếu rất thành công, lượng khán giả đăng kí rất đông và phần giao lưu với anh và Hồng Ánh vô cùng sôi nổi. Những chia sẻ của anh về bộ phim Trăng nơi đáy giếng giúp khán giả hiểu sâu hơn về những ẩn dụ tinh tế, ngôn ngữ điện ảnh tiết chế và cả tình yêu anh dành cho quê hương mình. Có lẽ chưa bao giờ tôi thấy anh hạnh phúc như vậy khi nhìn thấy tác phẩm của mình chạm sâu đến cảm xúc của khán giả như thế.
Xin cúi đầu tiễn biệt anh!
*
Bài viết này tôi viết trong phần giới thiệu cho chương trình Cinephile tháng 3/2025, như một tóm tắt ngắn gọn về sự nghiệp điện ảnh dù ít nhưng đầy tinh tuý của đạo diễn Nguyễn Vinh Sơn:
“Trong suốt sự nghiệp đạo diễn, ngoài một bộ phim truyện nhựa không thành do kiểm duyệt (Chuyện tình kể trước lúc rạng đông), Nguyễn Vinh Sơn chỉ đạo diễn ba phim: hai phim truyện nhựa Tuổi thơ dữ dội, Trăng nơi đáy giếng và một phim truyền hình dài tập Đất phương Nam. Sự ít ỏi về số lượng phim không phải là do Nguyễn Vinh Sơn không có khả năng làm nhiều hơn, mà do sự kỹ tính, đôi lúc cực đoan trong nghệ thuật và cả lối sống thích an nhàn, chậm rãi, không thích ganh đua của anh.
Phong cách nghệ thuật và lối sống đó thể hiện rõ nhất trong Trăng nơi đáy giếng, một bộ phim với cái nhìn vừa nhẹ nhàng vừa quyết liệt, kể về tình yêu và đức tin của một người phụ nữ Huế. Tất nhiên, Trăng nơi đáy giếng không cố để xây dựng bản sắc văn hóa của một vùng đất hay tính cách của người Huế nói chung, mà thông qua câu chuyện có phần dị biệt của một phụ nữ hy sinh hơn nửa đời mình cho chồng, để rồi cay đắng nhận ra sự ích kỷ của anh ta và cuối cùng tìm cứu rỗi trong thế giới tâm linh nhuốm màu mê tín cực đoan.
Nguyễn Vinh Sơn thừa nhận, anh chịu ảnh hưởng từ đạo diễn, bậc thiền sư của điện ảnh Nhật Bản Ozu trong phong cách kể chuyện triệt tiêu kịch tính và những xung đột trong các mối quan hệ. Quả vậy, Trăng nơi đáy giếng có lối kể chuyện điềm tĩnh, chậm rãi, đôi lúc gây khó chịu cho những khán giả chờ đợi một sự bung phá, một cú ngoặt gây chấn động về cảm xúc.
Ngay từ đầu, đạo diễn chọn phong cách kể chuyện gián tiếp với cái nhìn của một người thứ ba qua ống kính quan sát từ bên ngoài. Trăng nơi đáy giếng sử dụng nhiều cú máy dài, góc máy trung và toàn cảnh là chủ yếu; hạn chế cận cảnh và đặc tả. Anh cũng chú trọng đến những cú máy cầm tay di chuyển theo chuyển động của nhân vật, nhiều cú máy lia ngang hoặc được quay trong bối cảnh hẹp, thể hiện sự bức bối, tù đọng của nhân vật. Ở những bối cảnh nội, đặc biệt là ngôi nhà rường của Hạnh, máy quay thường đặt bên ngoài, xuyên qua những ô cửa sổ nhỏ vào bên trong ngôi nhà nhiều bóng tối, nơi trú ẩn an toàn của người phụ nữ đã hoàn toàn bỏ lại cuộc sống bên ngoài để tìm niềm vui ở thế giới tâm linh bên trong ngôi nhà của cô.
Sự chuyển biến tâm lý của Hạnh được đạo diễn khai triển một cách tinh tế và đặc biệt có sức thuyết phục qua diễn xuất của Hồng Ánh – một vai diễn có thể nói là sở trường và thế mạnh của nữ diễn viên tài năng này.
Hạnh (Hồng Ánh) là một phụ nữ Huế điển hình, luôn coi chồng như “thánh sống” và lấy niềm vui bằng cách chăm sóc, phục dịch chồng hết sức chu đáo, thể hiện qua một chuỗi hình ảnh dài nối tiếp nhau như một nghi lễ khi Hạnh chuẩn bị bữa sáng cho chồng. Khi biết mình không có khả năng sinh nở và chịu đựng sự chì chiết của bà mẹ chồng, Hạnh chấp nhận để chồng lấy thêm vợ lẻ, đẻ hai đứa con ở quê. Và khi chuyện vở lỡ, sợ ảnh hưởng đến con đường tiến thân của chồng, Hạnh một lần nữa chấp nhận hy sinh, tự làm đơn ly dị để chồng hợp thức hóa với người vợ lẻ ở quê, thậm chí còn lo nhà riêng để chồng về ở với người vợ mới, còn cô sống cô quạnh trong căn nhà cũ. Để rồi khi dần dần nhận ra người chồng mà mình thờ phụng chỉ là một gã đàn ông ích kỷ, bạc nhược, một kẻ lợi dụng sự hy sinh của mình, Hạnh vỡ mộng, đau khổ rồi dần dần tìm sự cứu rỗi ở thế giới tâm linh…
Tuy vẫn theo lối kể chuyện tuyến tính truyền thống, điều làm nên sự khác biệt của Trăng nơi đáy giếng là Nguyễn Vinh Sơn triệt tiêu kịch tính và xung đột. Tất cả tình tiết và tình huống trong phim diễn ra từ tốn, chậm rãi, với nhiều hình ảnh có sức gợi hơn là kể.
Một chuỗi hình ảnh tuần tự nối tiếp nhau mô tả cảnh Hạnh chuẩn bị buổi sáng cho chồng ở đầu phim hay hình ảnh cô đóng mở những cánh cửa gỗ của ngôi nhà rường thể hiện cho hai trạng thái tâm lý của Hạnh; từ sự phục tùng tuyệt đối đến việc khép chặt lòng mình với thế giới bên ngoài, với người chồng mà cô từng coi như vị thánh để thờ phụng.
Dựa theo truyện ngắn cùng tên của nhà văn người Huế Trần Thùy Mai, Trăng nơi đáy giếng vừa bám sát nguyên bản, vừa là một tìm tòi, sáng tạo của đạo diễn Nguyễn Vinh Sơn, đặc biệt là chuyện Hạnh đi tìm sự cứu rỗi về mặt tâm linh ở phần cuối phim. Với một phong cách kể chuyện triệt tiêu kịch tính, giàu sức gợi, với những ẩn dụ mà số đông khó lòng tiếp thụ, Trăng nơi đáy giếng thoát khỏi khuôn mẫu thường thấy của những bộ phim mô tả bi kịch và sự giải thoát của người phụ nữ – kể cả dù có hơi hướng cực đoan và dị biệt. Sự dụng công và những tìm tòi về mặt ngôn ngữ điện ảnh, cùng với những suy tưởng và cái nhìn mang đậm dấu ấn chủ quan của Nguyễn Vinh Sơn, càng làm bộ phim đến gần hơn với cấp độ một bộ phim tác giả (auteur) trong dòng điện ảnh nghệ thuật ở Việt Nam.”