Nguyễn Đức Tùng

Tại sao chúng ta đọc truyện ngắn?
Bỗng dưng bạn nhìn thấy một tia sáng cuối cùng nhảy múa trong cỏ, khi mặt trời lặn. Con dao. Tiếng chân chạy. Bể bơi lạnh buốt, mặn. Tiệc cưới ngày thứ hai, ba giờ chiều. Chìa khóa. Đêm, tiếng khóc của người đàn bà bên kia vách tường. Đang ngủ, bạn thức giấc, ngồi dậy.
Đó là truyện ngắn.
Thuở xa xưa, quanh đống lửa trong rừng sâu, nơi dã thú rình rập, giữa mùa đông băng giá, người ta làm gì?
Người ta kể chuyện. Người ta kể chuyện để giải trí, để nhắc kỷ niệm. Người ta kể để nuôi lòng thù hận hay để tha thứ. Người ta kể chuyện để sống. Dù không có truyện ngắn và tiểu thuyết, người ta vẫn sống, bạn có thể nói thế. Tất nhiên. Vấn đề không phải là chúng ta tồn tại hay không, mà chúng ta tồn tại như thế nào. Chúng ta muốn để lại tình yêu cho người khác, hay để lại lòng căm giận, hay chẳng để lại gì cả. Truyện ngắn văn học khác với chuyện kể ở chỗ người đọc của chúng không chỉ tìm cách giết thì giờ, mua vui chốc lát. Người đọc của truyện ngắn mong muốn đọc lại chúng, trở về, nghe lại một lần nữa sau cánh cửa tiếng nói của một người. Người đọc muốn được sống cùng nhà văn, tỉnh thức, nhận xét cùng nhà văn ấy, tố cáo thói quen nô lệ, ca ngợi sự dũng cảm công dân, cùng nhà văn ấy.
Truyện Ý Nhi không trình bày một thế giới xa lạ; các môi trường của chị quen thuộc. Một thế giới như vậy, khá hẹp, là một hoạt cảnh được bày sẵn trên sân khấu, tiết kiệm cho tác giả sự khám phá các hoàn cảnh, để dành tâm trí đi thẳng vào xúc cảm. Người đọc cần có hiểu biết nhất định về một lớp người lớn tuổi, hoặc như chị nói, bạn già, phần lớn họ sống không quá lo âu về vật chất, nhưng không giàu có gì, nếp sống giản dị. Chiến tranh dừng lại sau lưng họ, ngày tận thế chưa tới. Các nhân vật anh hùng, bọn zombie, người ngoài hành tinh cũng không đến thăm chị. Tuy vậy nhờ cách viết một truyện ngắn không quá ngắn về dung lượng, câu văn ung dung, truyện của chị chứa nhiều mô tả tỉ mỉ về không gian và thời gian. Không gian và thời gian tạo nên bối cảnh. Toàn bộ tương tác giữa nhân vật và bối cảnh, bút pháp, giọng điệu, ba thứ ấy tạo thành cái mà tôi gọi là không khí hay khí hậu (atmostphere). Chị giỏi tạo ra khí hậu. Theo quy ước, truyện ngắn có một đỉnh cao hành động nơi các xung đột dồn tụ, phải được giải quyết. Điều ấy ít gặp trong truyện ngắn Ý Nhi; có người gọi là truyện không có cốt truyện. Chúng ta nhớ truyện ngắn có một lịch sử không lâu đời lắm, và mãi cho đến thế kỷ mười chín, người ta vẫn cho truyện ngắn là câu chuyện được kể lại trong đó cốt truyện là quan trọng nhất. Bạn có thể nhận ra điều này ở O. Henry của Mỹ hoặc Guy de Maupassant của Pháp. Cho đến khi có một bác sĩ, từ nước Nga, làm thay đổi tất cả. Trong truyện của Chekhov, nhân vật trở thành trung tâm. Thay vào sự thiếu vắng cốt truyện có tính hành động ấy, Ý Nhi trình bày truyện ngắn như một nhân vật với suy nghĩ và lời nói và hành xử được cắt lớp xuyên qua thời gian. Chị không mô tả bao quát mà chú ý sâu hơn đến một khía cạnh. Chị viết truyện ngắn như cách chị làm thơ. Vì thơ gần với truyện ngắn: sâu sắc, cô động, tinh tế, chú tâm, thách thức. Ngày nay, giữa các trào lưu văn học, từ hiện thực đến hậu hiện đại, từ nữ quyền đến hậu thuộc địa, truyện ngắn thay đổi. Tuy vậy, trong khi thay đổi, nó vẫn chứa một điều gì có tính huyền bí nguyên thủy. Tính nguyên thủy như nụ cười phảng phất hay như tiếng khóc thầm, có người nhận ra, có người không. Đọc Ý Nhi, tôi đọc thong thả, mỗi truyện một lần đọc, không chia làm nhiều lần, vì người đọc phải sống trọn vẹn với nó trong một hoặc hai giờ đồng hồ, theo nhịp độ của tôi.
Tập truyện của Ý Nhi, Con ngựa trên bãi biển, lấy tên một truyện ngắn trong ấy, tập hợp hai mươi mốt truyện, mở đầu bằng Dấu vết và kết thúc bằng Ở Mộc. Có một vài truyện đã in trong các tập khác. Nếu tính về số trang, những truyện này tương đối cân bằng, với độ dài trung bình của truyện ngắn đương đại. Người kể chuyện ở ngôi thứ ba, không tham dự, chỉ quan sát, giữ góc nhìn giới hạn từ phía nhân vật chính: đó là điểm nhìn kinh điển. Nhân vật chính của Ý Nhi thường là nghệ sĩ hay trí thức, lớn tuổi, có quan hệ thân mật với các văn nghệ sĩ khác. Môi trường của họ là đời sống đô thị, phòng tranh, quán cà phê, sân ga vắng, hè phố bụi bặm. Các nhân vật phụ của chị trong một truyện chỉ có vài người, trẻ, nhưng sự xuất hiện của họ quan trọng với nhân vật chính: tương tác là rõ ràng. Có một số nhân vật chính và phụ có tên riêng như Liêm, Duyên, Liên, nhưng hầu hết họ chỉ được gọi là anh, chị, ông, chàng trai, cô gái, ông cụ, hay cô. Số phận nhân vật bề ngoài bằng phẳng, bên trong chứa những trải nghiệm kỳ lạ mà tự thân họ không nói ra, tác giả ít kể, người đọc phải suy đoán. Trong truyện của Ý Nhi có nhiều quãng lặng, như trong âm nhạc, như khe hở trên tường, khoảng trống trong phòng đợi. Công việc của người đọc là lấp đầy chúng. Theo quan điểm hậu cấu trúc và theo lý thuyết người đọc (reader-response), mà một ứng dụng nổi tiếng của nó là lý thuyết tiếp nhận, người đọc có vai trò quyết định đối với văn bản, làm đầy những khoảng trống văn bản ấy bằng sự dự đoán, sự kỳ vọng, sự tưởng tượng và quan điểm nghệ thuật của mình.
Bước qua bên kia đường, ông đứng vào đúng nơi ông nghĩ người kia đã đứng trong đêm. Kỳ lạ thay, ông nghe thấy hơi ấm dưới lòng bàn chân mình, như thể ta ngồi vào chỗ của một người nào đó vừa rời đi vậy. Ông thử dịch sang phải, dịch sang trái, lùi về phía sau, bước lên phía trước. Không nơi nào có cái hơi ấm lạ lùng đó. Ông khẽ đặt bước vào nơi ấy thêm một lần nữa, lại nhận ra hơi ấm từ ai đó, từ nơi nào đó.
(Người bên kia đường)
Truyện ngắn gần với thơ nhất, trước hết vì ngôn ngữ. Truyện Ý Nhi tiêu biểu cho nhận xét này: các câu văn đẹp, sự chuyển tiếp thú vị, mạch truyện rõ ràng, nghĩa cô đọng, nhiều hình ảnh, vì vậy, tuy nhiều truyện của chị khá dài, vẫn dễ đọc. Thế giới của chị không có cảnh bạo lực, cảnh làm tình, các bi kịch kinh động như thường gặp trong văn chương hiện nay. Truyện có sắc thu vàng hội họa. Nó đẹp, buồn, thơ mộng, được sắp xếp đi sắp xếp lại, không có những cú đánh bất ngờ chết người, nhưng có khi bỗng thoắt huyền ảo. Nói cách khác, thế giới của chị phảng phất siêu thực. Tuy vậy, nếu bạn có thể sống ở đó, thở, ăn uống, đi lại ở đó, thì bất kỳ một thế giới siêu thực nào vẫn có thật.
Ý Nhi bắt đầu viết truyện ngắn từ khoảng năm 1998. Chị là một trong số ít nhà thơ nữ vừa làm thơ vừa viết văn. Chị có những truyện đặc sắc, in trong tập Có gió chuông sẽ reo và Ngọn gió qua vườn. Chị còn viết chân dung văn học, trong Kỷ niệm không có mưa. Đọc chân dung, chúng ta biết Ý Nhi quen biết thân tình với nhiều văn nghệ sĩ: Dương Bích Liên, Nguyên Hồng, Bùi Giáng, Trang Thế Hy, Xuân Sách, Tô Thùy Yên. Ngoài cái tình đặc biệt đối với văn nghệ sĩ, chị cũng đọc văn chương của họ như nhà biên tập hay nhà phê bình. Thơ và chân dung văn học ảnh hưởng đến cách viết của Ý Nhi. Thơ làm câu văn trở nên sáng sủa, cô đọng, đẹp, ngầm chứa sức công phá. Trải nghiệm của chị đối với văn nghệ sĩ mang lại chất liệu sáng tác quan trọng, độc đáo. Các nhân vật là những người đàn ông trí thức, từ thế giới hoài niệm. Nếu trong thơ, chị có nhiều người nữ, trẻ, thì trong văn, chị có nhiều người nam, lớn tuổi. Các vấn đề thế sự không được thể hiện rõ nhưng chúng trôi bàng bạc ở hậu cảnh. Đối với nhà văn, chất liệu sáng tác chia làm hai nguồn, dù không hoàn toàn tách biệt: tưởng tượng và tiểu sử, không có cái nào tốt hơn cái nào, nhưng chất liệu tiểu sử có thể tự chúng làm mới lại, mỗi lần viết. Giữa các thể loại, không có ranh giới rõ rệt, như Ý Nhi từng nói. Thơ là câu chuyện được kể lại, trong khi truyện ngắn sử dụng một ngôn ngữ nhiều chất thơ.
Mấy buổi chiều sau, khi đã dịch chiếc ghế sang góc trái căn phòng, ông lại nhìn thấy con ngựa, đầu cúi xuống mặt cát, như đang tìm kiếm vật gì. Mặc dù đã chủ tâm chờ đợi, mắt chăm chăm nhìn ra hướng biển, đúng nơi con ngựa thường đứng, ông vẫn bỏ lỡ giây phút nhìn thấy nó xuất hiện, làm như nó bỗng dưng đội cát mà lên hoặc rẽ sóng mà hiện. Khi không còn đủ kiên nhẫn để chờ đợi nó đến, ông chuyển sang việc đón đợi lúc nó ra đi. Đặt hai tay lên thành ghế, ngồi thẳng người, ông dán mắt vào cái màn sáng đang ngày một sẫm lại để vào đêm. Con ngựa đứng đó, bình thản, chăm chú nhìn xuống mặt cát. Giữa cảnh trời nước vắng lặng, trông nó đơn độc như thể nó là sinh vật cuối cùng trên cõi này.
(Con ngựa trên bãi biển)
Trong truyện Dấu vết, nhân vật được gọi là anh trải qua nhiều ngày đi tìm một thiếu nữ nhỏ tuổi hơn, bị ám ảnh bởi cô, anh nhìn thấy, rồi đánh mất, anh gặp lại nhưng không phải gặp lại, cuối cùng anh gặp một lần nữa, cho đến một ngày người thiếu nữ biến mất vào đám đông, và từ đám đông mà nhìn lại anh, nhìn thấu suốt cuộc đời anh. Như thế, ký ức vừa là một phần làm nên đời sống vừa là tấm gương phản chiếu đời sống ấy. Tôi nghĩ, trong truyện ngắn, có một cái gì đó phải thay đổi, hoặc ở nhân vật hoặc ở người đọc.
Đọc xong bất kỳ truyện ngắn nào, tôi đều muốn nhận ra một điều gì mà trước đó, khi mới vào truyện, tôi không biết.
Cũng cần đọc Ý Nhi với cách đọc liên văn bản. Nhân vật của chị là những người cùng thời với chị, người đọc thấy họ phần nào trong chân dung văn học, trong thơ, trong tác phẩm của các tác giả khác. Đó là những người cô độc, chấn thương, tử tế nhưng buồn bã, đôi khi thất bại, đã đi gần hết con đường của mình. Thế rồi y bỗng gặp con ngựa tía trên bãi biển. Cuộc gặp dị thường. Con ngựa là giấc mơ. Giấc mơ thời tuổi trẻ hay giấc mơ về một xã hội mà lời hứa về chúng là hão huyền? Trong một thời đại mà các giá trị đảo lộn, phương tiện truyền thông lấn át văn chương, xã hội ngạt thở, con người không ngớt bị chấn thương, thì truyện ngắn phải mang được ý thức về sự cần thiết có tính khẩn cấp của nó: đây là câu chuyện mà tôi bắt buộc phải kể lại cho bạn, đây là câu chuyện mà bạn bắt buộc phải lắng nghe. Đó là yếu tố Sheherazade: người kể chuyện trong Nghìn lẻ một đêm, kể chuyện để đẩy lùi cái chết. Nhưng truyện ngắn có dạy tôi bài học gì không?
Tôi nghĩ, điều đó không tùy thuộc vào tác giả mà tùy thuộc vào người đọc. Truyện ngắn đương đại ngày càng xa rời các giai thoại, các bài giảng luân lý. Có những truyện không có nhiều sự kiện, ít có hành động hay xung đột, nhưng mang lại cho người đọc sự tỉnh thức. Điểm quan trọng bậc nhất của các truyện ấy là chúng thành thật, có tính thuyết phục vì nói về sự thật. Sự thật cũng như nước, tự tìm thấy đường đi của mình. Các truyện ấy là đương thời, nhưng sẽ không dừng lại trong những năm tháng này. Trong truyện, không phải trung tâm bao giờ cũng là cái tốt đẹp, đôi khi đó là sự sầu muộn dai dẳng, sự mất mát không vãn hồi, những chấn thương đau đớn. Không phải khi nào chúng ta cũng gặp tin lành trong truyện Ý Nhi. Tôi cũng không nghĩ trong xã hội chúng ta bây giờ có quá nhiều niềm vui. Tuy vậy, ngay cả trong những truyện mà phép lạ và sự tốt đẹp không xuất hiện, thì ý thức về sự tốt đẹp ấy, ý thức về phép lạ ấy, vẫn có mặt. Các nhân vật của chị ở trong những khuôn mẫu hẹp, khá giới hạn: tôi muốn chị mở rộng ra hơn nữa, từ những kinh nghiệm gặp gỡ trong đời thật, vì chị có một nhạy cảm đặc biệt của phụ nữ. Trong một hội nghị văn học, tôi được nghe Magaret Atwod kể rằng các nhà văn nổi tiếng ở Bắc Mỹ khi được hỏi ai là người trong gia đình ảnh hưởng nhiều nhất đến việc cầm bút của họ, hầu hết trả lời, đó là người mẹ. Ý Nhi cũng là người mẹ, và tôi nghĩ rằng từ góc độ ấy, cách viết của chị cũng khác so với nhiều người cùng thời: nữ tính, giản dị, đầy tình yêu, nhưng không kém phê phán đối với các nhân vật.
Viết là bước chân vào một cái gì lớn hơn chính mình.
Trung tâm của truyện Ý Nhi không phải là gút thắt của cốt truyện, như bí mật của vụ án, mà nằm ở điểm chói sáng, người ta gọi là khoảnh khắc nhận thức, hay giây phút giác ngộ (epiphany). Trong truyện của chị, nhân vật là động lực. Bất kỳ chọn lựa nghệ thuật nào cũng mang theo ưu điểm và khuyết điểm; các nhân vật có tên gây cảm giác gần gũi và cụ thể, sống động, trong khi các nhân vật không có tên dẫn người đọc vào sâu thế giới nội tâm, bỏ qua thế giới bên ngoài. Nhưng sự phân biệt giữa cốt truyện và nhân vật cũng không có tính tuyệt đối. Henry James, người khai sinh tên gọi bút pháp “dòng ý thức”, từng viết: “Nhân vật là gì nếu không phải là yếu tố quyết định sự kiện? Sự kiện là gì nếu không phải là minh họa của các nhân vật?”.
Tôi nghĩ, nếu cuộc đời của bạn đầy ắp sự kiện, bạn sẽ viết về các sự kiện, nếu bạn lớn lên giữa những con người thú vị, bạn sẽ viết về các nhân vật.
Ý Nhi không bỏ qua đối thoại. Tác giả sử dụng đối thoại như sự tương tác giữa các nhân vật và giữa họ với thế giới bên ngoài. Truyện chị không hoàn toàn độc thoại; chị chú ý đến nhân vật phụ; họ góp phần thúc đẩy câu chuyện, làm tăng sự tươi mới, chất hiện thực. Ý Nhi kính trọng nhân vật phụ của mình, không biến họ thành những “típ” người xấu hay người tốt, họ có đời sống riêng, động cơ riêng. Các nhân vật của Ý Nhi mang nhiều chiều kích. Khi đọc, tôi có ấn tượng là họ tự kể lại câu chuyện đời họ. Họ không bị điều khiển bởi nhu cầu của cốt truyện, nhưng bởi tính cách. Những sự kiện khách quan xảy ra ngoài ý muốn, con người không làm chủ được nhưng họ có thể làm chủ phản ứng của mình đối với các sự kiện ấy. Cuộc đấu tranh giữa con người và thế giới bên ngoài, như chiến tranh, bạo lực, các biến động lịch sử, sự nghèo đói và tội ác, không phải là không có mặt trong truyện Ý Nhi, nhưng chị quan tâm nhiều hơn đến số phận một nhân vật. Không phải số phận, tôi muốn nói là một khoảnh khắc bên trong của số phận ấy, một nhát cắt, trong một không gian không xác định và thời gian không xác định, như có như không. Nhân vật càng có nhiều chiều kích, nhân vật ấy càng trở nên hấp dẫn. Tôi nghiêng về quan điểm tảng băng trôi của Ernest Hemingway. Bề mặt của một truyện ngắn là chỉ dấu cho chiều sâu bên dưới. Một tác giả phải biết rõ ngày sinh và nơi sinh của nhân vật của mình, trình độ học vấn, thậm chí cha mẹ và anh em, người chồng cũ vợ cũ, tình yêu đầu đời, sự phản bội, những tội lỗi không được kể lại. Tất nhiên tác giả không nhất thiết phải kể ra mọi thông tin như thế, trừ những nhà văn vụng về. Nhưng toàn bộ kiến thức ấy của tác giả, sự suy nghĩ về chúng, sự ám ảnh, tôi muốn nói thế, gây ra sức giao cảm của truyện Ý Nhi mà người đọc cảm nhận được. Trong truyện, một người thích nói, trong khi một người khác chỉ thích quan sát, lắng nghe, một người tỏ ra yếu đuối, một người thì táo bạo.
Chị ngồi xuống, để yên cho các nhân vật ấy tự mình trò chuyện.
Đối với một nhân vật, câu hỏi mà tôi đặt ra cho tôi là họ muốn điều gì và điều gì ngăn cản họ đạt được điều ấy. Đó không phải là câu hỏi dễ trả lời. Truyện ngắn hôm nay càng vận động mau lẹ, vượt qua quy ước, thì câu hỏi càng nhiều hơn và câu trả lời càng ít hơn, từ phía tác giả và từ phía truyện ngắn. Ưu điểm của điều này, mà tôi cũng nhìn thấy trong truyện Ý Nhi, là dành nhiều chọn lựa hơn cho người đọc. Người đọc hôm nay tham gia tích cực vào việc đọc. Trong luồng suy nghĩ này, tôi muốn nhìn thấy các nhân vật của chị được mô tả một cách chi tiết và khách quan nhiều hơn nữa, vì mô tả khách quan dành cho một người đọc như tôi nhiều cơ hội quan sát. Trong đời sống thường ngày, thực ra chúng ta không biết nhau nhiều như chúng ta tưởng. Tôi không biết bạn ăn như thế nào khi ngồi ăn một mình, la hét như thế nào khi tức giận, sung sướng như thế nào khi giao hoan, đau xé ruột như thế nào khi đánh mất. Tôi không được chứng kiến điều ấy. Chúng ta chỉ nhìn thấy nhau một lát bên ngoài, quần áo, mồ hôi đọng giọt thái dương, khuôn mặt đẹp nhưng nhiều mụn, bàn tay nhiều gân xanh. Những dấu hiệu. Những ẩn dụ. Nhưng các nhân vật trong truyện ngắn được chúng ta thấu hiểu nhiều hơn thế, qua sự quan sát lâu dài và gợi ý của tác giả. Các nhân vật của Ý Nhi không có một căn cước cố định, cái ngã (self) của họ có thể thay đổi. Phân tâm học cho rằng hầu hết các ứng xử của một người được quy định bởi tiềm thức. Một nhân vật bỗng nhiên biến mất, bỗng nhiên trở lại, hay có một hành xử kỳ khôi, không nhất thiết phải từ hoàn cảnh trực tiếp mà có thể do những yếu tố chúng ta không biết, như giấc mơ thời trẻ, chấn thương chiến tranh, xung đột gia đình, thất vọng thế sự, sự đề kháng bị bẻ gãy bởi một xã hội bạo liệt và không ngừng bạo liệt. Một cái ngã có thể thay đổi và khi đã thay đổi một lần thì dễ thay đổi lần nữa. Các nhân vật có nhiều chiều kích tâm lý thì bản ngã của họ có thể trở thành đa ngã. Trong hướng quan sát ấy, tôi đọc truyện Ý Nhi với sự thích thú đặc biệt.
Đời sống mỗi người là một tập hợp các truyện ngắn. Chúng khác nhau. Những truyện của Ý Nhi, vì vậy, thường có nhiều hơn một chủ đề. Có những truyện ngắn có chủ đề rõ ràng, không nhầm lẫn. Trong truyện ngắn đương đại, chủ đề không xuất hiện rõ như vậy. Chúng không phải chỉ là thông điệp. Tóm tắt một câu chuyện thì dễ hơn là tóm tắt chủ đề của truyện ngắn. Đối với các truyện xuất sắc của Ý Nhi như: Dấu vết, Có gió chuông sẽ reo, Con ngựa trên bãi biển, Xiêm Riệp, Đợi tàu ngược, Phòng chờ, Gió, Người đứng bên kia đường, chủ đề là trung tâm, lực vận động, nguyên lý đồng nhất. Chủ đề không phải là nhân vật, không phải là các sự kiện trong truyện ngắn, không dễ dàng được gọi tên. Nếu cần gọi tên chủ đề của một số truyện ngắn của Ý Nhi tôi có thể đề nghị: cô đơn, tình bạn, tuổi già, tình yêu, mất và tìm kiếm, hy vọng.
Ngoài ra, đặc sắc của Ý Nhi còn ở giọng của truyện ngắn. Giọng của truyện ngắn cũng tựa như giọng của một người, biểu đạt thái độ, và không những thế, còn là hỗn hợp của nhiều thứ. Sự hiểu biết đối với giọng của một truyện ngắn giúp chúng ta đi sâu hơn vào trung tâm của câu chuyện, nhưng cũng hiểu hơn về bút pháp. Bút pháp là hình thức biểu hiện, là ngôn ngữ của tác giả. Truyện ngắn đương đại dung chứa nhiều bút pháp, có tác giả nặng về việc làm mới ngôn ngữ, có tác giả giữ cách viết khuôn mẫu cổ điển. Giọng của truyện ngắn, giọng của người kể chuyện, khí hậu, bút pháp, làm nên nhân cách văn học của Ý Nhi.
Từ khi internet xuất hiện, truyện ngắn và tiểu thuyết ngày càng ít người đọc hay ít mang lại lợi nhuận, như trong thời kỳ hoàng kim của nó, vậy ngày nay người viết chỉ có động cơ duy nhất là đam mê. Ngày nay người viết và đọc truyện ngắn cảm thấy được sự khẩn thiết của thể loại này. Truyện ngắn không khoan nhượng cho tác giả của nó. Giữa cuộc sống bộn bề, rung chuyển, ồn ào, chạy xuôi chạy ngược, bỗng có một lần bạn dừng lại, khoảng tối nơi ánh điện không chiếu được vào, giữa hai bức tường gạch cao vút, trong khoảng không gian hẹp ấy có lần bạn ngẩng đầu lên, vầng trăng mười sáu. Có lần, bạn ngồi xuống giữa những người khác, lắng nghe câu chuyện của họ và ngạc nhiên nhận ra kẻ mà bạn chơi thân nhiều năm hóa ra có một cuộc đời thú vị đến thế.
Cái gì thú vị, cái đó gần với sự thật.
Đối với tôi, truyện ngắn giống như những thú vật hoang dã, xinh đẹp, lanh lẹ, khó khăn, nồng nhiệt, đáng yêu. Bạn cần đọc chúng một cách sáng tạo. Mấy năm gần đây, tôi ít đọc truyện ngắn, vì nhiều lý do. Bây giờ được đọc một mạch các truyện trong tuyển tập này của Ý Nhi, tôi tin rằng truyện ngắn đã yêu tôi trở lại.
Các nhà văn ngày nay viết truyện ngắn rất nhiều, tay nghề của họ ngày càng cao, cách dùng chữ ngày càng điêu luyện. Nhưng tôi cần một điều gì khác trong truyện ngắn. Một điều gì không thể gọi tên được. Như vẻ hoang dại của người phụ nữ, sự kỳ lạ của một buổi chiều, cái vạch nâu vô lý trên bức tranh không hoàn hảo, nỗi vang thầm mặt nước. Những thứ lạ lùng, kỳ quái ấy làm tôi nhớ đến tác giả và truyện ngắn của họ, hơn là sự hoàn hảo. Có những truyện của Ý Nhi có điều ấy, nếu bạn đủ kiên nhẫn, đọc nhẩn nha, chăm chú. Cái thứ lạ lùng ấy chỉ có thể tìm thấy ở nghệ thuật. Nghệ thuật là chủ quan, nhưng không sinh ra từ chân không, nó sinh ra từ nhiều năm tháng khổ đau và hạnh phúc, bạn đi qua chúng, lững thững hay gào thét, tha thứ hay nhất định không tha thứ cho một tình yêu đã chết.
Bởi, truyện ngắn của Ý Nhi nửa hư nửa thực.
Tại sao tôi đọc truyện ngắn?
Có nhiều lý do, một trong những lý do là sự nhận ra một điều gì, hay sự an ủi, khích lệ mà chúng mang lại. Nhiều truyện ngắn của Ý Nhi có điều ấy. Tuy vậy, người đọc là người quyết định cuối cùng, không phải tác giả hay nhà phê bình. Một truyện ngắn cũng như một tiểu thuyết không tồn tại cho đến khi người đọc bắt đầu cầm nó lên, đọc nó và đọc lại bằng chính đôi mắt của mình, kinh nghiệm sống của mình, bằng một tâm hồn sâu sắc và cao quý. Tôi được quyền tin là độc giả hôm nay của chúng ta có những phẩm chất ấy, đúng không?