Nguyễn Đức Tùng

KHÚC HÁT CLIVE
Nếu tôi sống thời cổ xưa
Tôi sẽ đi tìm giới hạn của minh triết loài người
Bằng cách đến bên cây sồi linh thiêng
Hoặc tìm kiếm nơi người mù với đôi môi rực lửa.
Nhưng bây giờ là thời hiện tại. Và hơn nữa đây là Nữu Ước.
Tôi đến gặp Clive.
Chúng tôi gặp nhau trong quán ăn
Xếp hàng chờ món điểm tâm đặc biệt.
Clive là người Anh.
Anh cố làm cho chàng đầu bếp Hispanic cao lớn, chuyên nấu món nhanh,
hiểu ra thế nào là bánh mì Pháp nướng không quá chín. “Vợ tôi bảo tôi đừng nói là
loại mềm nhão” Clive nói.
Chúng tôi trả tiền. Currie cũng vừa tới.
Chúng tôi ngồi xuống và trò chuyện
Về chuyến đi sắp tới của Clive đến Guantánamo, nơi,
dù đã đến đó 56 lần, lần nào chữ ký của anh
cũng bị chất vấn.
Anh cười.
Thân chủ hiện tại, một người Ma-rốc,
đã được chấp thuận trả tự do
và đồng thời được thông báo
sẽ không bao giờ được ra đi.
Clive, một luật sư, chất vấn tính hợp lý của chuyện này.
“Lẽ ra tôi không nên cười.”
Anh kể thêm chuyện khác.
“Bằng chứng” ở Guantánamo thường đến từ bọn chỉ điểm.
Khi cùng một kẻ chỉ điểm đưa ra bằng chứng
chống lại 300 người khác nhau,
Clive tự hỏi về động cơ
và tiến hành tìm hiểu. Sự thật là,
mỗi lần chỉ điểm
gã ta được tự do vào “căn lều tình yêu”,
nơi người Mỹ chiếu phim khiêu dâm.
Clive dự định chất vấn
con số 300
trên cơ sở thống kê.
Các nhà nhân khẩu học nói rằng phần lớn chúng ta
chỉ quen biết 300 người
trên toàn thế giới.
Nếu bạn suy nghĩ như một luật sư,
bạn sẽ thấy giới hạn của minh triết loài người
trong những dữ kiện như thế.
Món bánh mì Pháp được mang ra.
“Không nướng chín quá, phải không?” tôi hỏi. Anh thở dài
và kể
về cậu con trai ở nhà, mê mẩn The Goon Show.
Tôi không suy nghĩ như một luật sư.
Tôi đang tìm cách nhìn thấy
những cây sồi linh thiêng thì thầm xuyên qua một người như Clive,
kẻ đã nỗ lực suốt 35 năm
vì những người bị án tử hình hoặc ở những nơi như Gitmo,
nhưng lại lo lắng
con trai mình không thấy được cái hay của Monty Python
hoặc không hiểu rằng chương trình ấy bắt nguồn từ The Goons.
Tôi hình dung một gia đình ồn ào, cãi cọ, xô đẩy nhau
ở quê nhà Midlands.
Clive nhìn đồng hồ.
Tôi cho mấy mẩu bánh mì thừa vào thùng rác.
Chúng tôi hẹn gặp lại nhau.
Anh ta thích ý tưởng ấy
(ý tưởng của Currie)
rằng sẽ đi vòng quanh Pakistan cùng một nhóm người nhảy square dance.
Bởi vì square dance là một điệu nhảy chào hỏi
và chúng ta cần chào hỏi nhau nhiều hơn nữa !
Clive mỉm cười
và đi lên phố
trong chiếc quần rộng thùng thình, trễ xuống phía sau,
trông chẳng giống một luật sư có nhiều quyền lực chút nào,
và những giới hạn của trí tuệ loài người vẫn còn đó
(như chúng ta, những kẻ làm cho lời chào của chó và lời chào của thần linh trở nên lẫn lộn,
vốn thích những giới hạn ấy,
vẫn còn)
ít hay nhiều
ở nguyên
chỗ cũ.
Anne Carson (*)
Anne Carson sinh năm 1950 tại Toronto. Sự nghiệp của bà bắt đầu với Eros The Bittersweet: An Essay, 1986, viết theo phong cách văn học Hy Lạp cổ đại. Tiếp theo sau, Glass, irony and God, 1995, Plainwater, 1995, Men in the Off Hours”, 2001, làm sáng lên nghệ thuật của Carson. Những tác phẩm quan trọng cho đến nay là các tiểu thuyết bằng thơ, đặc biệt là Autobiography of Red, 1998. Đây là tác phẩm viết từ cảm hứng về câu chuyện của Hercules, tức là Herakles, kẻ có nhiệm vụ giết quái vật Geryon có đôi cánh màu đỏ. Trong văn học cổ đại, Herakles giết Geryon, cướp đàn gia súc của chàng, còn trong cuốn tiểu thuyết của Anne Carson, Herakles làm tan nát cõi lòng của Geryon vì tình yêu. Đã có những cuộc tranh luận gay gắt xung quanh lối viết của bà, cho đến nay. Sự đón nhận của giới phê bình ban đầu cũng khá dè dặt. Có hai tác giả đương thời nổi tiếng bậc nhất ở Canada: Margaret Atwood và Anne Carson. Atwood là nhà văn lớn, có nhiều ảnh hưởng trên thế giới, trong khi Carson có một lớp độc giả chọn lọc, nhưng bà lại là kẻ tiên phong, thách thức các thể loại.
Decreation xuất bản năm 2005 tập hợp các tiểu luận trữ tình, thơ và opera. Khái niệm “decreation”, tôi tạm dịch là “giải sáng tạo”, là sự thoái lui của cái tôi, tác giả lùi vào bóng tối, nhường chỗ cho một vũ trụ viên mãn hơn lên tiếng. Khái niệm “decreation” không phải do Carson tạo ra. Trước đó “decreation” có thể đã từng được sử dụng bởi nhà triết học Pháp Charles Péguy (1873-1914). Sau đó Simone Weil (1909-1943) phát triển “decreation” thành một khái niệm trung tâm khi nghĩ về sáng tạo và Thiên chúa. Anne Carson là người tiếp nhận ý tưởng của Weil nhưng mở rộng hơn, áp dụng vào thơ, kịch, tiểu luận. Trong thơ bà, cái tôi không đứng ở trung tâm câu chuyện, nó lùi lại, nhận ra người khác, để cho những mối liên hệ giữa đời sống cá nhân, lịch sử và văn học cổ đại làm biến đổi cách nhìn. Tôi cũng từng được nghe Anne Carson nói về quan niệm về thơ của bà những lúc nhà thơ đến Vancouver. Đó là một người phụ nữ giản dị, sang trọng, hài hước. Trên bìa sau cuốn Wrong Norma, 2024, có in mấy dòng viết tay của tác giả:
Do not walk backwords
That is how the dead go
Backwords chứ không phải backwards. Anne Carson là người nghiên cứu văn học Hy Lạp cổ đại. Những bản dịch của bà là nghệ thuật xuất sắc của lối dịch thuật sáng tạo, nhưng chúng không ngớt tạo ra các tranh luận về dịch thuật. Bất chấp những tranh luận ấy, và những tiếp nhận dè dặt khác đối với các tác phẩm của Carson, Ủy ban Nobel đã chọn lựa sự khai phá, tiên phong trong sáng tạo. Ngày 8 tháng 10 năm 2026, Anne Carson nhận giải Nobel Văn chương năm 2026. Người đọc của Carson cũng cần biết rằng bà là một nghệ sĩ thị giác. Trong cuộc phỏng vấn với Stephanie Burt, bà cho rằng trong sâu thẳm mình là một nghệ sĩ thị giác, trước khi là một nhà văn. Nhân đây, tôi cũng nghĩ tới Bob Dylan, nhạc sĩ được giải thưởng Nobel về văn chương, từ phương diện này.
Bút pháp Carson là lối viết nặng tính tự truyện nhưng đó là một lối tự truyện đặt trong quan hệ với người khác, từ cổ đại đến đương thời. Kiến thức rộng rãi về văn học cổ điển kết hợp kỳ lạ với phong cách đương đại. Đừng quên rằng chồng của bà, Robert Curie là một nghệ sĩ thị giác, thường chuyển thể các vở kịch của bà trên sân khấu. Trong The Glass Essay, các chi tiết đời sống riêng tư của Anne Carson được đặt trong sự đối chiếu với tiểu sử Emily Brontë, tạo ra những ánh phản chiếu lạ thường, trong suốt, tựa như những hình ảnh của thủy tinh và nước đá.
Tôi nghĩ, Anne Carson ẩn giấu nhiều bí ẩn.
Bài thơ Clive Song là lời ca ngợi dành cho Clive. Clive là tên riêng, cách gọi thân mật, của người bạn. Anh được giới thiệu là một người Anh. Tuy vậy đây không phải là câu chuyện về tiểu sử Clive, thậm chí chúng ta không biết nhiều về anh. Clive xuất hiện trong bữa ăn sáng, với những mẩu chuyện trong khi chờ thức ăn mang ra, và anh thích ăn bánh mì kiểu Pháp. Có một nhân vật thứ ba xuất hiện hai lần là Currie. Trong tiếng Anh, Curie là cái họ. Mới đầu tới như một người không có gì đặt biệt, sau đó tác giả nói thêm rằng một số ý tưởng là do Currie đặt ra. Người đọc không biết rõ các nhân vật ấy vẫn thưởng thức được bài thơ qua cách “bày binh bố trận” của Anne Carson, xoay quanh bữa ăn sáng.
Trước hết, bài thơ mở đầu hơi lạ. Anh bạn Clive xuất hiện một cách giản dị, không phải một anh hùng, mà xuất hiện như sau: một người gốc Anh, cố gắng làm cho người đầu bếp Hispanic, vốn quen nấu thức ăn nhanh kiểu Mỹ, biết cách làm một món bánh mì Pháp. Tôi dừng lại đây. Ở Bắc Mỹ có hai thứ bánh mì Pháp, là French toast, món bánh mì nhúng trứng rồi chiên hay áp chảo, thành lát, hơi ngọt, và French bread, ổ bánh mì có lớp vỏ giòn tan. Trong nguyên tác, có một chữ là underdone tức là chưa chín tới hoặc chưa giòn. Chi tiết này hài hước. Có ít nhất ba loại: underdone là chưa chín tới, soft là nướng nhẹ hơn, còn soggy là mềm nhão. Liền đó Clive nói thêm: vợ tôi bảo tôi đừng có nói là soggy. Anh cố tìm một từ đúng đắn hơn để nói với người đầu bếp về món ăn mà anh muốn. Chú ý rằng người đầu bếp là người Hispanic, có thể không quen thuộc lắm với món Pháp. Sự vụng về có chút kỳ quặc của Clive biểu lộ tính cách của anh: anh muốn diễn đạt thật đúng điều anh muốn. Nhưng ngay sau đó chúng ta biết Clive là một luật sư. Trước khi biết điều ấy, chúng ta biết anh thường đến Guantánamo, mà lại đến 56 lần. Kế đó lại biết thêm rằng chữ ký của anh thường bị tra hỏi, và khách hàng mới nhất của anh là một người Ma-rốc. Sau đó chúng ta lại biết thêm người đàn ông Ma-rốc ấy vừa được trả tự do và đồng thời được thông báo rằng anh ta không được rời khỏi Guantánamo. Guantánamo là nhà tù nổi tiếng của Mỹ, giam các tội phạm đặc biệt như tù nhân bị buộc tội khủng bố. Clive tra vấn về tính hợp lý của điều này. Câu chuyện bắt đầu chậm lại ở đây, với tiếng cười của Clive, và khi anh tự nhủ lẽ ra không nên cười, mọi chuyện trở nên nghiêm trọng. Ở các nhà tù, trại giam, trại cải tạo, bất cứ thời nào, bất kỳ nước nào, thường có những tên chỉ điểm. Bên cạnh những kẻ hỏi cung và tra tấn. Clive phát hiện ra rằng có một gã chỉ điểm cung cấp bằng chứng để chống lại 300 người khác, và còn phát hiện ra rằng hắn ta được tưởng thưởng bằng cách cho coi phim con heo. Là một người quan tâm đến các vấn đề lý tính, Clive muốn chất vấn con số 300 này, xét về mặt khoa học. Tới đây chúng ta bắt đầu hiểu rằng vì sao bài thơ lại khởi đi với câu nói về giới hạn của sự khôn ngoan hay trí tuệ của con người. Vào lúc ấy thì món bánh mì Pháp được mang ra. Nhân vật của chúng ta liền quay lại với hiện thực. Người kể hỏi: Bánh mì không chín lắm, phải không anh?
Clive thở dài.
Gần cuối bài thơ, nhân vật tôi lắng nghe tiếng thì thầm của những cây sồi thiêng qua nhân vật Clive, kẻ dành hết đời mình để bảo vệ tù nhân chịu án tử hình và tù nhân ở Guantánamo. Suốt 35 năm, trong khi vẫn lo lắng về con trai của mình, yêu vợ và nghe lời vợ, sống trong một gia đình rất thật với tất cả những va chạm lăng nhăng vợ chồng con cái, ở Midlands trên đất Mỹ. Carson sắp xếp gần bên nhau hai thế giới: bữa ăn sáng ở Nữu Ước và cuộc đấu tranh giành công lý cho những tù nhân bị án tử hình. Tôi nghĩ cần bổ sung một số yếu tố ngoài đời thực: Clive gợi ra hình ảnh về luật sư Clive Stafford Smith, có thật, người nổi tiếng về bảo vệ nhân quyền, người sáng lập các tổ chức bảo vệ tù nhân. Clive không chỉ là người đấu tranh cho con người, anh còn là người nghe lời vợ, biết kể chuyện và biết cười trước nghịch cảnh. Một luật sư đòi hỏi sự chính xác, nhưng một người đầu bếp và hệ thống các nhà tù không thể đáp ứng được. Cái bánh mì Pháp chưa chín tới được nướng không thành công lắm khiến Clive phải thở dài, cũng hệt như vậy, thế giới của chúng ta. Clive sinh năm 1959 ở Anh, có đồng thời quốc tịch Anh và Mỹ. Năm 1999 sáng lập các tổ chức thiện nguyện cung cấp dịch vụ pháp lý cho tù nhân chịu án tử hình trên thế giới. Bài thơ Khúc hát Clive tiêu biểu cho nghệ thuật thơ ca của Anne Carson: không tách rời các vấn đề chính trị và luân lý ra khỏi đời sống bình thường. Bà trộn lẫn đại tự sự vào trong những chi tiết nhỏ nhặt. Nghệ thuật hài hước của Carson rất sâu xa: kẻ chỉ điểm được tưởng thưởng bằng các buổi chiếu phim con heo. Hài hước cho phép các nhân vật được nói về những hoàn cảnh không thể chịu đựng được. Anne Carson không quan niệm rằng người ta cần phải lãng mạn hóa sự đau khổ hay hài hóa các bi kịch, bà chỉ đặt chúng cạnh nhau, cho chúng sống chung nhau, tựa như thời hiện đại sống chung thời cổ đại. Nhân vật Currie trong bài thơ cũng làm người đọc nghĩ đến Robert Currie, một người có thật, là chồng của Anne Carson, nghệ sĩ thị giác, hoạt động chung với bà trong nhiều dự án biểu diễn. Carson là một nghệ sĩ, vì vậy phương pháp văn học của bà có tính táo bạo, riêng biệt, độc đáo. Tiếng cười xuất hiện trước nghịch lý. Hài hước không làm cho sự bất công trở nên nhẹ nhàng, nó chỉ cho thấy sự phi lý của một hệ thống, một chính quyền.
Trong thơ, cái đẹp tạo ra vui thú. Cái đẹp là hình thức ở đó sự thật được mang trở lại. Niềm vui thú mà thơ ca đem tới luôn đi kèm với sự thật, thứ mà chúng ta đối diện như một phần của cuộc đời, vốn không phải lúc nào cũng vui, thậm chí không thể chịu đựng được. Có thể toàn bộ sự thật của cuộc đời là điều không thể chịu được, nhưng từng sự kiện, từng khía cạnh riêng lẻ của sự thật ấy lại có thể được tiếp nhận, và thậm chí đem đến vui thú. Trong bài thơ, Anne Carson hướng đến một con người có thật, một luật sư nhân quyền tận tụy đấu tranh bảo vệ tù nhân bị ngược đãi trong các nhà tù trên thế giới, trong đó có Guantánamo. Bài thơ không chỉ giúp chúng ta hiểu về một người mà còn tạo ra một mối liên hệ tình cảm giữa người đọc và nhân vật, họ cùng chia sẻ những giá trị nhân bản. Thơ dành cho mọi người, nhưng mỗi thời đại lại có một ngôn ngữ khác. Sau những tìm tòi của thơ hiện đại và hậu hiện đại, nhiều nhà thơ, trong đó có Carson, hướng đến một ngôn ngữ thơ có tính văn xuôi, gần với đời thường, trực tiếp, chân thật, nhưng vẫn hàm chứa những vấn đề triết học. Cách tạo hình ảnh, nhịp điệu, những xếp đặt ngôn ngữ, cách mở đầu và kết thúc bài thơ, đều góp phần tạo nên hiệu quả nghệ thuật. Người đọc của Carson đôi khi cần có một số kiến thức căn bản để nhận ra ý nghĩa dưới ngôn từ. Chính sự khám phá ấy tạo nên niềm vui của việc đọc thơ: bạn càng hiểu sâu, bạn càng nhận ra chiều kích mới của sự thật và con người.
Cuối bài thơ chúng ta bắt gặp ý tưởng của Currie về chuyện họ đi khắp Pakistan với đoàn khiêu vũ để chào hỏi mọi người. Có một sự dịch chuyển, thay vì chỉ nói về những chuyện luật pháp, Anne Carson kết thúc bằng ý tưởng có thể rủ nhau đi đến một nơi và chào hỏi với một điệu nhảy bình dân của Mỹ. Đặt cạnh những người tù bị án tử hình, ý tưởng ấy có vẻ ngây thơ, nhưng chính sự giản dị ấy làm bài thơ lay động. Carson không dùng điệu nhảy để giải quyết xung đột, bà chỉ mở ra một khả năng nhỏ bé cho con người. Clive cũng đồng ý với Currie, và khi từ biệt, còn để lại hình ảnh của một người đàn ông thông thái và tử tế mặc chiếc quần dài xệ xuống phía sau mông, trông rất buồn cười, và tác giả quay lại với ý tưởng ban đầu về những giới hạn của trí tuệ con người, và cũng như chính chúng ta, vẫn hiện hữu đâu đó, có thể cao nhỉnh hơn hoặc thấp đi một ít, nhưng vẫn là thế, trong cõi lầm than vui vẻ, trộn lẫn khổ đau và hạnh phúc của thế gian. Bài thơ của Anne Carson ngợi ca Clive không phải vì anh ta vượt qua được những giới hạn của trí tuệ con người, mà vì anh cố gắng làm hết sức mình bên trong vách tường của những giới hạn ấy.
Thanksgiving 10. 2026.
(*) Nguyên tác: Clive Song, trong tập Wrong Norma của Anne Carson, trang 23-25, Nhà xuất bản New Directions Publishing Corporation, 2024.