Tàn Tuyết, 一个时代的记录 ngày 8.10.2026
Nguyễn Khắc Ngân Vi dịch

Theo tôi, nếu nhà văn Trung Quốc không thể chiến thắng thứ tự luyến dân tộc của chính mình, thì họ sẽ không thể tiếp tục theo đuổi lý tưởng văn chương. Bởi vậy, trong văn đàn đại lục, rất nhiều nhà văn đến khoảng bốn mươi tuổi đã bắt đầu thoái hóa, hoặc không còn viết nổi tác phẩm, hoặc dùng những thứ giả phẩm để đối phó, lừa dối độc giả. Căn nguyên của hiện tượng này nằm ở tâm lý tự đại dân tộc. Nền văn hóa của chúng ta đã hủy hoại, đầu độc những thiên tài của chính mình.
1. Tự phản tỉnh là phẩm chất mà con người hiện đại nhất thiết phải có
Người bình thường, kể cả một số người có trình độ văn hóa cao, rất ít khi chú ý rằng hoạt động tinh thần bên trong chính mình cũng có tầng bậc. Có thể nói, một người càng chú ý đến điều này thì các tầng bên trong anh ta càng phân minh, thế giới tinh thần càng phức tạp, và người ấy cũng càng có năng lực tự phản tỉnh. Ngược lại, những người càng bỏ qua điều này, mơ hồ sống qua ngày, thì tầng bậc nội tâm càng nông, càng thiếu khả năng tự quan sát chính mình.
Những điều một người thường ngày suy nghĩ, những phản ứng tình cảm trước sự vật thế tục vân vân, tôi quy chúng vào tầng thứ nhất của đời sống nội tâm. Những sản phẩm tinh thần thuộc loại này còn khá sơ cấp, thô ráp, chưa qua lọc, bên trong chứa rất nhiều tạp chất.
Giấc mơ ban đêm là tầng thứ hai. Ở đó, bản chất hiện thân, khiến con người phải thay một đôi mắt khác để nhìn lại dáng vẻ bên trong của thế giới, còn chính mình cũng biến thành một đối tượng, một “kẻ khác”. Bởi vậy, trong giấc mơ của con người tồn tại vô số khả thể, những khả thể ấy dưới dạng ám thị lan tỏa trong phong cảnh, thúc giục con người quay về với bản chất của chính mình. Nhưng giấc mơ ban đêm mới chỉ cung cấp khả năng phản tỉnh và quan sát, chứ chưa đưa khả năng ấy vào thực hành – bởi nằm mơ vốn là một hành vi bị động, không tự chủ.
Chỉ có hoạt động sáng tạo tinh thần của con người mới là tầng thứ ba của đời sống nội tâm. Khi con người tiến hành sáng tạo – âm nhạc, triết học, biểu diễn nghệ thuật, văn chương, vân vân – họ bước vào một chiều kích tinh thần hoàn toàn xa lạ. Ở đó, người chết cất tiếng nói, những hình ảnh hoặc sự kiện hoàn toàn ngoài dự liệu liên tục xuất hiện, mọi quy tắc thế tục đều mất hiệu lực, thay vào đó là những xung động bị chi phối bởi một thứ logic thần bí, không thể nắm bắt. Và chỉ trong loại sáng tạo này, con người mới có thể hiện thực hóa những khả thể của giấc mơ ban đêm, đạt đến sự phản tỉnh ở tầng sâu. Nếu không, giấc mơ mãi mãi chỉ là giấc mơ, tách rời khỏi đời sống tinh thần của con người.
Từ thời thơ ấu, trong đời sống của tôi đã có hai loại giấc mơ, tức giấc mơ ban đêm và giấc mơ ban ngày. Những giấc mơ ban ngày thời thơ ấu rất trong trẻo, thường là một mình lặng lẽ nghĩ về những điều tốt đẹp, đẹp đẽ, mang màu sắc lý tưởng. Phần lớn là tưởng tượng từ hư không, đôi khi cũng lấy truyện kể, điện ảnh và sách vở làm môi giới. Cái “tôi” trong giấc mơ ban ngày khá mơ hồ, dường như là một cái bóng đa cảm, giàu lòng trắc ẩn. Còn chất liệu của giấc mơ ban ngày thì có thể là bất kỳ chuyện nhỏ nào trong đời sống. Mục đích của tưởng tượng là để thỏa mãn đủ loại dục vọng của bản thân. Có lẽ trong tiềm thức có một khuynh hướng rất mạnh muốn khiến mình trở nên hoàn thiện. Chẳng hạn tôi vô cùng thích nuôi những con vật nhỏ. Vào mùa đông lạnh giá, tôi từng tưởng tượng mình nhặt được một con dơi bị cóng trên mặt đường đóng băng. Tôi đem nó về nhà, đặt nó vào một búi bông thật ấm, rồi đặt búi bông ấy bên cạnh bếp lửa, sau đó nhìn nó từ từ tỉnh lại. Như vậy là tôi đã cứu sống nó. Nhưng mùa đông không có muỗi, cho nó ăn gì đây? Tôi sẽ huấn luyện nó ăn cơm. Nó lớn lên, lớn lên, lớn mãi thật to, đôi cánh khi xòe ra giống như một chiếc ô giấy dầu. Khi ấy tôi sẽ mang con dơi khổng lồ ấy đi khắp nơi để mọi người xem chuyện lạ. Tôi cũng từng tưởng tượng những hành động anh hùng để cứu cha, từng tưởng tượng đào một cái hang từ mặt đất xuống, đào mãi cho đến khi nước suối phun lên.
Những giấc mơ ban ngày thời thơ ấu đã gần với sáng tạo, nhưng vẫn chưa phải sáng tạo thực sự. Bởi những vai trò trong giấc mơ vẫn chưa phân tách, nên vẫn chưa biết tự phản tỉnh. Như tôi từng nói trong nhiều bài viết, tôi cho rằng sáng tạo thực sự cần một năng lực lý tính rất mạnh. Chỉ có lý tính mới có thể khiến con người lặn xuống tầng đáy tăm tối của ý thức, từ đó khuấy lên những cơn sóng vạn trượng. Cũng chỉ có lý tính mới có thể thông qua việc áp chế dục vọng của con người khiến nó bật ngược trở lại, từ đó tiến hành những màn trình diễn chưa từng có, khiến mâu thuẫn của nhân tính được phô bày một cách triệt để trong trình diễn. Nhưng từ những giấc mơ ban ngày kéo dài năm này qua năm khác mà tự nhiên chuyển sang sáng tác văn chương, đối với tôi dường như là một chuyện thuận lý thành chương. Dĩ nhiên, đó là một bước nhảy về chất.
Tôi không nhớ đó là ngày nào. Khi tôi ngồi bên bàn, tiện tay viết xuống vài dòng chữ, một thứ cảm xúc xa lạ bỗng phun trào từ bên trong tôi, cây bút của tôi đột nhiên có được một thứ thần lực. Có lẽ thói quen nhìn vào bên trong suốt mấy chục năm đã bất ngờ khởi động một cơ chế nào đó trong nội tâm tôi, cánh cửa địa ngục mở ra, những bóng ma chen nhau ùa tới?
Hình thành thói quen nhìn vào bên trong thông qua những môi giới ở tầng cao như nghệ thuật, triết học, âm nhạc, trình diễn, vân vân, là phẩm chất mà một con người hiện đại nhất thiết phải có. Không nhất thiết ai cũng phải viết triết học, làm nghệ thuật; thông qua đọc và thưởng thức, chúng ta có thể sống một đời sống gần với nghệ sĩ. Bởi triết học và nghệ thuật hiện đại cần một cách đọc và thưởng thức có tính sáng tạo. Nếu mỗi người đều giỏi phản tỉnh chính mình, thì dân tộc ấy sẽ là một dân tộc biết phản tỉnh, một dân tộc có lý tưởng, có sinh khí. Một dân tộc như vậy tất yếu sẽ có đời sống tinh thần sâu sắc, đồng thời sản sinh ra rất nhiều nghệ sĩ và triết gia.
2. Những tác phẩm vĩ đại đều hướng nội và tự phê phán
Trong quan niệm của tôi, những tác phẩm vĩ đại là những tác phẩm có tính vĩnh cửu. Nghĩa là tác phẩm của những nhà văn ấy dù trải qua bao nhiêu thế kỷ luân hồi vẫn không ngừng được người đời sau diễn giải, khiến người đời sau sản sinh những cảm nhận mới. Ở những nhà văn như vậy có một thứ “thần tính”, hơi giống những nhà tiên tri. Nếu xét về số lượng độc giả, những tác phẩm như vậy không thể được đo bằng phạm vi không gian trong một giai đoạn nhất định. Có khi thậm chí vì điều kiện hạn chế mà ban đầu bị chôn vùi. Nhưng cuối cùng, độc giả của họ vẫn vượt xa những nhà văn đại chúng. Nhân loại có một dòng sông dài bí mật của lịch sử văn chương, dòng sông ấy nằm dưới tầng đất sâu nhất, tối nhất, và được cấu thành bởi những nhà văn miêu tả bản chất. Nó là tấm gương phản chiếu hành trình theo đuổi tinh thần thuần túy của nhân loại suốt bao thế kỷ.
Tôi không thích cách nói “tiểu thuyết Trung Quốc vĩ đại”, bởi nội hàm của nó có vẻ nhỏ bé. Nếu tác phẩm của một nhà văn có thể phản ánh bản chất sâu sắc nhất, phổ quát nhất của con người – thứ ấy vừa giống lương thực, bầu trời, lại giống đá và biển – thì bất kể người thuộc chủng tộc nào cũng sẽ thừa nhận đó là một tác phẩm vĩ đại. Dĩ nhiên, sự thừa nhận ấy thường không thể được đo bằng hiệu ứng ngắn hạn. Đối với tôi, tính địa vực của tác phẩm không quan trọng. Ai lại đi chú ý đến đặc sắc Anh quốc của Shakespeare, hay đặc sắc Ý của Dante?
Nếu đã đạt đến một tầng thưởng thức sâu sắc, thì địa vực hay chủng tộc hoàn toàn có thể bỏ qua. Nói đến cùng, văn chương chẳng phải chính là một hoạt động ở tầng cao mà con người, với tư cách con người, tiến hành để nhận thức chính mình hay sao? Nhà văn có thể cất cánh từ trải nghiệm địa phương – có lẽ bất cứ ai cũng không tránh khỏi điều này – nhưng tuyệt đối không nên dừng lại ở kinh nghiệm bề mặt của địa phương. Một nhà văn có tham vọng phải có những theo đuổi sâu hơn, rộng hơn. Mà dừng lại ở kinh nghiệm bề mặt chính là tử huyệt của nhà văn Trung Quốc – và cả nhà văn Mỹ đương thời. Bởi quá đề cao truyền thống dân tộc của mình, họ không nhìn thấy, hoặc không đủ sức bước vào những khu vực tinh thần sâu hơn. Điều đó khiến tác phẩm dừng lại ở tầng gọi là “kinh nghiệm dân tộc”, “hiện thực chủ nghĩa”. Sức sống của những tác phẩm như vậy tất yếu là ngắn ngủi, còn sức mạnh phê phán của chúng cũng đáng ngờ. Chỉ cần nhìn vào sự thoái lui và sa sút phổ biến của giới văn hóa đại lục Trung Quốc ngày nay, nhìn vào sự cuồng nhiệt của phần lớn người Mỹ đối với chiến tranh Iraq, cũng như sự cuồng nhiệt đối với chiến tranh từ trước đến nay, là có thể tìm thấy bằng chứng. Những tác phẩm vĩ đại đều hướng nội, đều tự phê phán. Trong danh sách những ngôi sao của tôi có những nhà văn như Homer, Dante, Milton, Shakespeare, Cervantes, Goethe, Kafka, Borges, Calvino, Saint-Exupéry, Tolstoy, Gogol, Dostoevsky vân vân.
Dòng chủ lưu trong danh sách này là người phương Tây và những nhà văn có quan niệm phương Tây, bởi tôi cho rằng nguồn gốc của văn chương nằm ở phương Tây, còn tại Trung Quốc, ngay từ đầu văn chương đã không tồn tại như một sản phẩm tinh thần độc lập. Từ cổ đại, văn chương Trung Quốc đã thiếu đặc trưng căn bản nhất của văn chương – ý thức tự giác của con người đối với bản chất của chính mình. Nói cách khác, văn chương Trung Quốc hoàn toàn thiếu năng lực và kỹ thuật để mâu thuẫn với chính mình, rồi diễn giải mâu thuẫn ấy đến tận cùng. Văn chương truyền thống từ trước đến nay luôn là thứ phụ thuộc, hướng ra bên ngoài – tức dừng lại ở bề mặt. Theo nghĩa ấy, văn chương đại lục từ trước đến nay luôn ở trong khủng hoảng, những tác phẩm đào sâu nhân tính, nâng cao phẩm chất dân tộc vẫn còn rất xa mới hình thành được một dòng chảy.
Theo tôi, nếu nhà văn Trung Quốc không thể chiến thắng thứ tự luyến dân tộc của chính mình, thì họ sẽ không thể tiếp tục theo đuổi lý tưởng văn chương. Bởi vậy, trong văn đàn đại lục, rất nhiều nhà văn đến khoảng bốn mươi tuổi đã bắt đầu thoái hóa, hoặc không còn viết nổi tác phẩm, hoặc dùng những thứ giả phẩm để đối phó, lừa dối độc giả. Căn nguyên của hiện tượng này nằm ở tâm lý tự đại dân tộc. Nền văn hóa của chúng ta đã hủy hoại, đầu độc những thiên tài của chính mình. Sự thiếu hụt tinh thần trong văn hóa Trung Quốc khiến văn chương đại lục ngày nay không thể sinh trưởng và phát triển, giống như những ông già nhỏ thó mang gương mặt trẻ con, mãi mãi lão luyện thế sự, mãi mãi có thể tự biện hộ cho mình một cách trọn vẹn, sở hữu sự tinh khôn của những người thợ giỏi nhất thế giới, nhưng lại duy nhất không có tự phản tỉnh, không có phê phán chính mình. Trong tất cả những phương diện liên quan đến bản thân, phần lớn nhà văn đại lục hoặc dùng một vài giấc mơ ban ngày để mỹ hóa, hoặc dùng thứ chủ nghĩa hư vô mà văn hóa cổ đại đề xướng để hóa giải mâu thuẫn.
Văn chương không có theo đuổi tinh thần là văn chương giả. Văn chương miêu tả kinh nghiệm bề mặt là văn chương nông. Dường như đây là một vấn đề có tính toàn cầu trong sự phát triển văn chương ngày nay. Sự phát triển quá nhanh của thế giới vật chất đã khiến phần lớn nhà văn ngày càng lười biếng, ngày càng thỏa mãn với một vài kinh nghiệm bề mặt, còn người đọc sách cũng ngày một ít đi. Nghe nói tiểu thuyết thực nghiệm ở một đất nước như Nhật Bản giờ đã rất khó được xuất bản, trong khi những vụ tự sát tập thể ở đất nước ấy lại liên tiếp xảy ra. Lại nghe nói ngay cả ở Đức – đất nước được xem là cha đẻ của tư tưởng – người ta cũng không còn đọc tiểu thuyết thực nghiệm nữa. Cảm giác tan vỡ của lý tưởng giống như một bóng ma đen đang lang thang khắp thế giới. Nhưng tôi vẫn tin rằng dòng sông bí mật kia sẽ không ngừng chảy, dù lịch sử có lúc lên cao, có lúc xuống thấp. Ở bất cứ thời đại nào cũng luôn có một bộ phận rất nhỏ người lặng lẽ lao động, đưa một nguồn sinh lực mới vào dòng sông ấy. Lý tưởng đã kéo dài hàng nghìn năm vẫn sẽ tiếp tục kéo dài, để đối kháng với một thế giới xao động, nông cạn và ồn ào.
Những tác phẩm vĩ đại đều hoàn toàn mang tính cá nhân. Bởi con người chỉ có thể đạt đến tự do trong một kiểu viết thực sự cá nhân hóa. Nếu trong khoảnh khắc viết mà không vứt bỏ mọi gánh nặng vật chất, không vạch ranh giới với vật chất, thì cảm hứng sẽ không thể cất cánh. Và điều mà hoạt động ấy muốn đạt đến chính là sự độc lập của nhân cách cá nhân. Làm được điều này đối với một nhà văn đại lục Trung Quốc là việc đặc biệt khó khăn, đặc biệt cần dũng khí. Thực hành văn chương chính là một kiểu rèn luyện như vậy. Ở đại lục có quá ít người biết nhận thức, cứu lấy chính mình như Dante hay Goethe, và coi điều ấy là mục tiêu cao nhất. Hễ nói đến văn chương, người ta gần như mặc nhiên cho rằng nó chỉ liên quan đến kinh nghiệm bề mặt, đến thứ “hiện thực chung”. Tiếp đó đương nhiên chỉ còn chuyện làm thế nào hoàn thiện “kỹ thuật” biểu đạt, làm thế nào khiến những sáo ngữ có thêm chút “mới mẻ”. Trong văn đàn có không ít nhà lý luận lên giọng rất cao, đề xuất phải quét sạch ảnh hưởng của văn học thuần túy, mạnh mẽ đề cao cái gọi là “quan tâm hiện thực”. Chưa nói đến việc định nghĩa “văn học thuần túy” ở đây mơ hồ và buồn cười, riêng sáo ngữ “quan tâm hiện thực” chúng ta đã nghe suốt mấy chục năm, thực sự chẳng liên quan gì đến văn chương đúng nghĩa. Chỉ có một số rất ít nhà văn nhận ra rằng ngoài thế giới kinh nghiệm của chúng ta còn tồn tại một thế giới rộng lớn hơn rất nhiều, đang chờ chúng ta gặp gỡ và khai phá. Theo tôi, với tư cách người thừa hưởng một trong những nền văn minh cổ xưa nhất thế giới, nhà văn Trung Quốc lẽ ra phải có ưu thế đặc biệt ở phương diện này. Vấn đề chỉ nằm ở chỗ bạn có thể chiến thắng sức ì của chính nền văn hóa mình hay không, có thể từ một nền văn hóa khác lấy về những công cụ dùng để khai phá hay không. Nếu chúng ta không khai phá, miền rộng lớn vô biên ấy căn bản sẽ không thuộc về chúng ta. Một nhà văn, bất kể viết bằng phương pháp nào, chỉ cần còn sự hiếu kỳ muốn nhận thức chính mình, còn xung động muốn cải tạo bản thân, có một tâm thế rộng mở, thì nhất định sẽ bước vào khu vực sâu của việc khám phá nhân tính, diễn giải mâu thuẫn cổ xưa ấy theo một cách chưa từng có trong lịch sử của chúng ta, trong lúc tự cứu lấy mình đồng thời ảnh hưởng đến độc giả, cải tạo quốc dân tính.
Văn chương vĩ đại không phải thứ cao đến mức không thể với tới. Nó thuộc về những nhà văn thật sự kiên trì theo đuổi. Hạt nhân của nó chính là bản chất con người. Mỗi nhà văn có thể phát huy lý tưởng của mình đến mức cao nhất trong sáng tạo văn chương, ở khoảnh khắc viết ấy đều là một nhà văn vĩ đại; tác phẩm được viết ra theo cách ấy cũng là một tác phẩm vĩ đại. Dĩ nhiên năng lực bẩm sinh mỗi người khác nhau, có trở thành một ngôi sao hay không không quan trọng. Chỉ cần ở trong cảnh giới của một sự theo đuổi lớn lao để hoàn thành chính mình, đó đã là hạnh phúc lớn nhất. Tôi muốn dùng lời Shakespeare để kết thúc bài viết này:
“Thượng đế tạo ra chúng ta, ban cho ta ngần ấy trí tuệ,
khiến ta có thể nhìn về phía trước lẫn phía sau,
tuyệt không phải để chúng ta
để cho thứ trí năng ấy, thứ lý tính thần thánh ấy,
mốc meo mà không dùng đến.”
(Hamlet)
3. Vứt bỏ thứ tự tin mục ruỗng của chúng ta, trần trụi đối diện với nghệ thuật
Có một kiểu múa không xuất phát từ ý đồ của biên đạo, cũng không có cốt truyện được sắp đặt trước, cảm hứng của diễn viên hoàn toàn được khởi động thông qua sự dẫn dụ của một bầu không khí thần bí. Vậy mà kiểu múa ấy lại có thể tạo nên hiệu quả khiến người ta kinh ngạc, đồng thời lại đầy hòa điệu nội tại. Đây quả thực là một điều không thể tưởng tượng. Bản thân nghệ thuật vốn là thứ không thể tưởng tượng. Chỉ khi vứt bỏ thứ tự tin cũ kỹ, mục ruỗng của mình, trần trụi đối diện với nghệ thuật, chúng ta mới phát hiện ra rằng khoảng cách vô cùng xa ấy, dòng bùn đá đang cuộn chảy và gào thét trong bóng tối ấy, mãi mãi là câu đố không lời giải của con người. Tôi tin vào một thứ thần bí, và dùng một phương thức có phần thần bí để thực hành niềm tin của mình. Trong thế giới hôm nay, chuyện này đã không còn gì lạ. Ở bất cứ thời đại nào cũng có một nhóm rất nhỏ người vô cùng yêu đời sống thế tục đầy dục vọng vật chất, nhưng lại yêu hơn nữa cảnh giới tự do hư ảo và thuần khiết kia. Khi hai phía ấy xung đột, không thể quyết định lựa chọn bên nào, những người như vậy thường sẽ sa vào làm nghệ sĩ, dùng cả đời mình chạy đi chạy lại giữa hai cực.
Con người không chỉ có thể nghệ thuật vị nghệ thuật, mà còn có thể biến chính đời sống của mình thành nghệ thuật, trong lúc mất đi tất cả, lại thông qua những con đường quanh co mà giành lại tất cả. Theo nghĩa ấy, vũ điệu của linh hồn đen tối là một vũ điệu tinh thần vô cùng thanh thoát, nhưng sức mạnh của nó lại đến từ năng lượng mà sự sống hấp thụ từ thế tục. Trong cảnh giới như vậy, con người phải có khí phách để hai cực vừa phân tách vừa thống nhất, mới có thể sản sinh ra nhịp điệu kỳ dị ấy, tiếp tục vũ điệu mơ hồ đã được định sẵn trong bóng tối. Rõ ràng, kiểu vũ điệu ấy chỉ có thể thuộc về những cá thể có khả năng phân tách chính mình. Còn sân khấu thì rộng vô cùng, nó chính là đời sống thế tục của chúng ta. Chỉ cần con người vẫn chưa cam lòng để tinh thần của mình chết đi, thì vẫn có khả năng tham gia vào việc thưởng thức vũ điệu ấy. Có lẽ năng lượng mỗi người khác nhau, nhưng bất cứ ai tham gia cũng đều có thể lĩnh hội được phong cảnh đã lâu rồi không gặp lại ấy.
Một đời sống được nghệ thuật hóa là đời sống mơ hồ và ám muội nhất. Một khi con người mất đi sự che chắn và thân phận, thế giới rộng lớn sẽ phô ra sức hấp dẫn thần kỳ vô tận. Một câu chuyện trinh thám rối rắm bao quanh con người, con người đứng giữa trung tâm câu chuyện, mỗi giờ mỗi khắc đều đối diện với việc phá vây. Có lẽ câu chuyện âm u, ám muội ấy chính là sự hé lộ của linh hồn. Chỉ trong hết lần này đến lần khác liều chết phá vây, con người mới có thể không ngừng làm mới thời gian của câu chuyện. Còn độc giả, độc giả có thể làm gì? Khi lắng nghe câu chuyện ấy, mọi thứ xung quanh anh ta sẽ dần thay đổi, đến một ngày, cuối cùng anh ta phát hiện mình đã đứng ngay giữa trung tâm câu chuyện, và chỉ cần anh ta hành động, thời gian sẽ kết quả.
Một thế kỷ sắp trôi qua. Tôi khao khát trong thế kỷ mới có được một số độc giả mới, và ở đây tôi muốn nói đôi điều với họ trong tương lai. Rất nhiều người nói tiểu thuyết Tàn Tuyết khó hiểu; Tàn Tuyết muốn cung cấp ở đây một vài manh mối.
Việc đọc tiểu thuyết Tàn Tuyết cần những phẩm chất như sau: Người đọc nên từng được hun đúc phần nào bởi nghệ thuật hiện đại, đồng thời có cảm giác tương đối nhạy bén, nhờ vậy có thể phá vỡ sự kìm giữ của quan niệm thẩm mỹ truyền thống Trung Quốc đối với mình, bước vào một không gian tự do trong lúc đọc. Nói cách khác, anh ta là một người có cảm giác về hình thức nghệ thuật, anh ta nên có khả năng đảo ngược hoàn toàn phương thức đọc và thưởng thức truyền thống, thụ động, huy động tiềm năng bên trong mình, tham gia vào sáng tạo của tác giả, nói cách khác, anh ta là một người chưa đánh mất trí tưởng tượng, anh ta nên quét sạch khỏi đầu ảnh hưởng của lối văn chương cổ xưa “văn dĩ tải đạo”, phải nhìn tác phẩm giống như nhìn một bức tranh ba chiều, chăm chú nhìn thật lâu vào tác phẩm, và chỉ tác phẩm mà thôi, để trong quá trình nhìn ấy phát hiện cấu trúc vô cùng sâu xa được che giấu bên trong. Hoặc có thể nói, anh ta là một người có cảnh giới hư vô thuần túy, anh ta nên có tinh thần tự thẩm xét, nhờ vậy có thể thuận lợi phá bỏ định thế thẩm mỹ hướng ra bên ngoài, thử bước vào tác phẩm từ một hướng ngược lại, nói cách khác, anh ta là một con người hiện đại có mức độ tự ý thức nhất định; anh ta nên đọc bằng “tâm”, chứ không chỉ bằng mắt, như vậy việc đọc sẽ không dừng lại ở bề mặt của việc dùng từ đặt câu, mà sẽ xuyên qua từ ngữ để đi vào lõi. Khi ấy, anh ta sẽ phát hiện ngôn từ có những chức năng mà trước đó mình chưa từng nhận ra, những chức năng hoàn toàn khác với chức năng truyền thống; anh ta cũng sẽ nhận ra sự kỹ lưỡng trong cách Tàn Tuyết dùng chữ là một kiểu kỹ lưỡng phản truyền thống, nói cách khác, anh ta là người hiểu chức năng hiện đại của ngôn ngữ. Có lẽ tiêu chuẩn dành cho độc giả như vậy quá cao, cũng có lẽ hoàn toàn không cao.
Trong đời sống, tôi nhìn thấy rất nhiều người vốn đã có những tiềm năng nói trên, chỉ là chưa gặp đúng cơ hội để phát triển chúng, còn bây giờ tác phẩm của Tàn Tuyết cung cấp một cơ hội như vậy. Tiểu thuyết Tàn Tuyết, dù có lực bài xích rất mạnh, đồng thời lại mở ra trước tất cả mọi người. Bất cứ ai, bất kể cao thấp sang hèn, chỉ cần tham gia vào cách đọc biện chứng ấy, sẽ vừa cảm nhận sức đẩy ra của tác phẩm, vừa bị nó hấp dẫn mãnh liệt. Tàn Tuyết chờ đợi những kẻ đồng mưu xuất hiện.
Khi giới văn chương trong nước vào cuối thế kỷ đang hô hào khẩu hiệu “trở về”, khi tâm lý thiên triều khiến một bộ phận người ta choáng váng, thì dòng tư tưởng nghệ thuật hiện đại vẫn lặng lẽ dao động ở tuyến đầu của tinh thần nhân loại. Đó là thứ nước vĩnh cửu, gột rửa và thanh lọc linh hồn con người. Những người đã mất chỗ dựa tinh thần cũ, nhưng vẫn không cam tâm sa xuống, vẫn muốn tiếp tục theo đuổi sự tồn tại tinh thần, sẽ không ghét việc có duyên với thứ nghệ thuật ấy; những người như vậy sẽ đến gần Tàn Tuyết. Có lẽ ban đầu sẽ hơi khó, bởi thói quen của con người là chướng ngại đáng sợ nhất đối với việc đọc, bởi con người phải chống lại chính những quan niệm của mình, để cảm giác xuyên qua từng lớp sương mù mà hiện ra, cũng bởi trong lúc đọc, con người không tìm được vật tham chiếu quen thuộc, thứ duy nhất có thể tham chiếu chính là “tâm” của mình, càng bởi những tác phẩm như vậy không đem lại thứ khoái cảm phù hợp với kỳ vọng thẩm mỹ truyền thống. Thần kinh của người đọc không được vuốt ve, ngược lại, nó sẽ vô cùng hoang mang, thậm chí đau đớn. Nhưng phá bỏ quán lệ cũ, làm nổi bật cảm giác nghệ thuật, phát huy sức sáng tạo của “tâm”, thông qua sự hoang mang và đau đớn của tự thẩm xét để giải phóng linh hồn – chẳng phải đó chính là sự tu dưỡng cần thiết để trở thành một con người hiện đại hay sao? Tôi tin rằng đối với những độc giả coi trọng tinh thần, tiểu thuyết Tàn Tuyết tuyệt đối sẽ không khiến họ thất vọng.
Con người hiện đại là gì? Con người hiện đại chính là người luôn luôn chú ý đến linh hồn, lắng nghe tiếng nói của linh hồn. Tiểu thuyết Tàn Tuyết là những ghi chép được viết ra trong quá trình chú ý và lắng nghe ấy. Những ghi chép này ở giai đoạn đầu còn chưa hoàn toàn thuần túy, vẫn phải mượn một vài ẩn dụ bên ngoài, nhưng trong quá trình phát triển, chúng dần trở nên thuần túy theo một cách không còn do ý chí con người quyết định, từ đó mọi ẩn dụ đều xuất phát từ bên trong. Thuần túy không đồng nghĩa với đơn giản; linh hồn lại phong phú vô hạn, không thể dự đoán, những tầng sắc độ của nó đôi khi khiến người ta không khỏi kinh ngạc, còn hình thức cấu trúc của nó lại càng kỳ dị đến mức khó tưởng tượng. Chỉ cần độc giả ở lại trong thế giới tiểu thuyết, những liên tưởng bất ngờ sẽ không ngừng xảy ra. Con đường nghệ thuật phía trước Tàn Tuyết còn rất dài. Tôi tin rằng kiểu tiểu thuyết này, bằng sự kiên định của nó, tính nhất quán của nó, thứ hài hước sâu xa mà người Trung Quốc chưa mấy quen nhưng vẫn có thể lĩnh hội, sự phong nhiêu của hình tượng, tư thế nổi loạn đối lập với thứ “hiện thực” thông thường, cùng văn phong độc nhất và không thể bắt chước, sẽ giành được trái tim độc giả.
Khi một nền văn hóa cổ xưa có lịch sử lâu dài đã đi đến chỗ cùng đường, khi việc đóng cửa tự thủ và cận huyết chỉ có thể sản sinh ra hàng loạt đứa trẻ đần độn, khi những khuyết tật chí mạng của chính nền văn hóa ấy đã khiến rất nhiều người hoàn toàn phỉ nhổ nó, nhưng bản thân lại rơi vào trạng thái man rợ, thì truyền máu, ghép cành và cấy chuyển trở thành những việc vô cùng cấp bách. Hữu ý hay vô ý, tiểu thuyết Tàn Tuyết đã trở thành một ví dụ thành công của sự cấy chuyển – một loài thực vật ngoại lai mọc lên trên lớp đất dày năm nghìn năm lịch sử. Loài thực vật này rất kỳ lạ, không Trung không Tây, không thể phân loại. Ngay cả người nước ngoài nhìn thấy cũng cảm thấy mới lạ, bởi trên đất nước của họ cũng không thể mọc ra nó. Vậy ưu thế của loài thực vật này rốt cuộc nằm ở đâu? Sức sống của nó có mạnh hơn cây bản địa hay không, có chống bệnh tốt hơn không? Thời gian sẽ tự đưa ra câu trả lời, độc giả cũng sẽ đưa ra những câu trả lời khác nhau. Dù thế nào, hãy để thực tiễn kiểm nghiệm những tác phẩm ấy.