Tino Cao

“Những tiếng đàn bọt nước
Tây Ban Nha áo choàng đỏ gắt
li-la li-la li-la…”
(Đàn ghi ta của Lor-ca, Thanh Thảo)
Và:
“Mặt trời hồng trên cát nóng Es-pa-nha, là tiếng đàn ghi ta của Lorca. Giọt lệ nào ướt đẫm áo choàng đỏ thắm Es-pa-nha, hay giọt buồn ghi ta của Lorca…”
(Cây đàn guitar của Lorca, Thanh Tùng)
Thanh Thảo và Thanh Tùng cùng đưa Lorca vào trí nhớ người Việt bằng tiếng đàn, màu đỏ, nỗi buồn và một vẻ đẹp gần với huyền thoại. Một người dựng Lorca từ những mảnh hình ảnh giàu ám ảnh của thi ca, người kia gọi ông về bằng giai điệu tha thiết và sắc màu Tây Ban Nha của âm nhạc. Cả hai đều bắt đầu từ sự ngưỡng mộ chân thành dành cho Federico Garcia Lorca. Nhưng Lorca nào đã được giữ lại sau những lớp diễn dịch ấy? Lorca của Andalusia, của dục vọng, bất an, duende, tín ngưỡng và dự cảm về cái chết, hay một Lorca đã được sắp xếp lại theo cảm quan, kí ức và hệ giá trị của người Việt? Từ đây, hành trình của hình tượng Lorca trong đời sống văn hóa Việt Nam gợi ra một mô thức tiếp nhận nghệ thuật cần được nhìn nhận trong bối cảnh của lịch sử văn hóa và thẩm mĩ.
Văn hóa Việt từ lâu sống bằng năng lực thích nghi mạnh mẽ. Những luồng tư tưởng, tôn giáo và nghệ thuật từ bên ngoài đi vào đây thường được chuyển hóa khá nhanh để có thể sống trong môi trường bản địa. Nhờ năng lực ấy, người Việt đi qua nhiều thế kỉ biến động mà vẫn giữ được một tiếng nói riêng, không bị đồng hóa. Nhưng chính thói quen thích nghi lâu ngày cũng tạo nên một phản xạ thứ cấp. Ta thường chỉ thật sự yên tâm trước cái lạ sau khi đã tìm được cách đưa nó vào những phạm trù quen thuộc của mình. Người khác thường được nhìn qua những phẩm chất quen thuộc, những giá trị đã được coi trọng và những chuẩn mực giúp họ trở nên dễ hiểu hơn. Lorca bước vào trí nhớ của nhiều thế hệ người Việt trước hết như một nhà thơ yêu tự do, chống phát xít, bị sát hại bởi bạo lực chính trị và trở thành biểu tượng của người nghệ sĩ hi sinh cho nghệ thuật. Những điều ấy đều có thật, nhưng chỉ cho thấy một phần Lorca. Qua sách vở, bài giảng và những cách diễn giải được lặp lại suốt nhiều năm, phần ấy che lấp sự thật về một con người phức tạp hơn rất nhiều.
Lorca thuộc về một thế giới tinh thần nhiều ám ảnh hơn thế. Trong thơ ông, máu, trăng, dao, ngựa, tiếng khóc, dục vọng và cái chết xuất hiện như những hình ảnh gần như bản năng. Andalusia đi vào sáng tác của ông với vẻ đẹp dữ dội, thấm sâu dấu vết Công giáo, văn hóa dân gian, Gypsy, Ả Rập và Địa Trung Hải. Đời sống đồng tính cũng để lại trong ông một nỗi bất an dai dẳng giữa xã hội Tây Ban Nha bảo thủ, nơi ham muốn cá nhân xung đột với gia đình, tôn giáo và sự phán xét của cộng đồng. Chính những xung đột ấy làm nên một Lorca khó quy giản thành vài phẩm chất cao đẹp. Vì thế, mỗi nỗ lực thu Lorca vào một khuôn hình với cách diễn giải như vậy đều có nguy cơ làm mất đi những phần quan trọng nhất trong con người và nghệ thuật của ông. Lorca là một nghệ sĩ mà khi bạn càng cố giải thích, bạn càng dễ xa rời khỏi sự bất định vốn làm nên sức ám ảnh của ông.
Tôi nhớ thời sinh viên và nhiều năm sau đó, bạn bè tôi thường nhắc tới bài thơ “Đàn guitar của Lorca” của Thanh Thảo và “Cây đàn guitar của Lorca” của Thanh Tùng. Hai tác phẩm đã góp phần đưa Lorca đến với đông đảo người Việt bằng hai con đường, thơ và nhạc. Chúng đều đẹp theo cách riêng và đều xuất phát từ một niềm xúc động thành thật trước số phận một nghệ sĩ bị sát hại. Chính vẻ đẹp ấy khiến câu hỏi trở nên thú vị. Lorca nào đã đi vào hai tác phẩm ấy? Trong thơ Thanh Thảo, người ta gặp một Lorca được bao quanh bởi những tín hiệu giàu tính tượng trưng, áo choàng đỏ, vầng trăng, yên ngựa, tiếng guitar, máu và chuỗi âm “li-la li-la”. Ngôn ngữ thơ tạo ra một thế giới gần với huyền thoại. Lorca trở thành người nghệ sĩ mang vẻ đẹp của kẻ tử nạn. Cái chết của ông được nâng lên thành một biến cố tinh thần đầy ám ảnh. Cây đàn trở thành biểu tượng của nghệ thuật và tự do. Hình ảnh Lorca từ một đời sống riêng tư nhiều xung đột dần bước vào kí ức chung như một nghệ sĩ đã được huyền thoại hóa. Thanh Tùng tiếp nhận hình tượng Lorca bằng một sắc thái tình cảm mềm mại hơn. Qua âm nhạc, Lorca trở nên gần gũi, mong manh và dễ gợi thương cảm. Cái chết của ông mang một vẻ buồn đẹp, cây đàn trở thành nơi gửi lại nỗi tiếc thương, và người nghe đến với Lorca trước hết qua cảm xúc dành cho một nghệ sĩ tài hoa bị bạo lực tước đi sự sống.
Trường hợp Lorca cho thấy một quán tính trong cách văn chương được tiếp nhận ở Việt Nam. Tác phẩm thường được đánh giá qua tư tưởng, đạo đức, trách nhiệm xã hội hay ý nghĩa giáo dục. Lâu ngày, cách nhìn ấy biến thành một hệ quy chuẩn chỉ ưu ái những gì có thể diễn giải thành những ý nghĩa quen thuộc, từ sự hi sinh, lòng nhân ái đến tự do, phẩm giá và tinh thần đấu tranh. Những giá trị ấy đều có ý nghĩa, nhưng nếu dùng chúng như thước đo, chúng sẽ tước mất phần cảm nhận trực tiếp và phức tạp hơn của nghệ thuật. Vấn đề nảy sinh từ lúc chúng trở thành bộ mã gần như mặc định để tiếp cận tác phẩm. Trải nghiệm thẩm mĩ bị chuyển thành thao tác truy tìm ý nghĩa, biểu tượng được quy về thông điệp, bi kịch được nâng thành bài học, cái chết được yêu cầu phải chứng minh cho một giá trị. Nghệ thuật bị ép vào những khuôn nghĩa có sẵn, như thể một tác phẩm chỉ thật sự được hiểu khi phần bất định của nó đã bị loại bỏ và những gì còn lại có thể đóng gói thành một kết luận.
Thói quen luôn tìm một ý nghĩa rõ ràng trong tác phẩm dễ làm người ta quên rằng nghệ thuật trước hết là một kinh nghiệm. Một bài thơ, một bản nhạc hay một bức tranh có thể gây xúc động trước khi người thưởng thức tìm được lời lẽ để giải thích cảm giác ấy. Có tác phẩm phải nhiều năm sau mới hiểu thêm một phần bởi ý nghĩa của nó thay đổi cùng tuổi tác, kí ức và kinh nghiệm sống. Chính vì thế, giá trị của nghệ thuật không nằm hết trong thông điệp mà người ta rút ra từ tác phẩm. Một tác phẩm lớn thường để lại nhiều hơn điều có thể nói thành lời, và phần dư ấy mới khiến người ta trở lại với nó sau nhiều năm. Một khi mọi hình ảnh đều phải quy về biểu tượng, mọi nỗi đau đều phải dẫn đến bài học, tác phẩm trở thành một thứ nghệ thuật minh họa cho những điều đã được tin sẵn từ trước. Người thưởng thức lúc ấy không thực sự đi vào tác phẩm mà chỉ tìm trong đó những bằng chứng xác nhận cho cách hiểu đã có sẵn của mình.
Lorca là một trường hợp điển hình của kiểu tiếp nhận ấy. Khái niệm duende mà ông từng khai triển đưa nghệ thuật vào một không gian ý nghĩa khác, nơi cảm xúc, thân xác, bản năng, đau đớn, nỗi sợ và ý thức về cái chết cùng tồn tại mà không thể gộp lại trong một lời giải duy nhất. Duende không phải một tư tưởng có thể tóm tắt thành vài câu mà gần với một trạng thái tinh thần và thể xác bị lay động đến tận cùng. Nếu người thưởng thức chỉ tìm xem tiếng đàn tượng trưng cho điều gì, Lorca đại diện cho điều gì, hay cái chết của ông để lại bài học nào, nghệ thuật Lorca sẽ mất chính độ bất định làm nên sức ám ảnh của nó. Lorca sống giữa nhiều xung đột chưa bao giờ được giải quyết trọn vẹn, giữa dục vọng và sợ hãi, niềm tin và hoài nghi, ham muốn sống và ám ảnh về cái chết. Những xung đột ấy nằm ngay trong trung tâm sáng tạo của ông. Một khi chúng được sắp xếp lại để tạo thành một hình tượng nhất quán và dễ tiếp nhận, Lorca có thể trở nên quen thuộc hơn, nhưng cũng xa con người thật của ông hơn.
Từ Lorca có thể nhìn sang Nguyễn Du, Trịnh Công Sơn và nhiều nghệ sĩ khác. Qua thời gian, mỗi người thường được ghi nhớ bằng vài phẩm chất dễ nhận diện nhất, Nguyễn Du với lòng nhân đạo, Trịnh Công Sơn với tình yêu và hòa bình, Lorca với tự do và cái chết dưới bạo lực. Những cách hiểu ấy đều có cơ sở, nhưng sự lặp đi lặp lại mãi dễ biến cái một phần thành cái toàn thể. Con người thật bao giờ cũng phức tạp hơn hình tượng lưu truyền về họ. Họ có lựa chọn, do dự, ham muốn, sợ hãi, mâu thuẫn, thỏa hiệp và những vùng tinh thần khó lí giải. Chính những phần ấy làm cho nghệ thuật mang dấu vết của một đời sống thực sự. Một nghệ sĩ được lưu truyền chỉ bằng những phẩm chất cao đẹp được lựa chọn cố ý cuối cùng sẽ gần với tượng đài hơn con người.
Quá trình huyền thoại hóa thường diễn ra ngay trong lòng ngưỡng mộ. Một cộng đồng có xu hướng giữ lại ở nghệ sĩ những gì phù hợp với kí ức và hệ giá trị của mình, đồng thời làm lu mờ những gì gây khó chịu hoặc khó dung hòa. Qua nhiều lớp tiếp nhận, người nghệ sĩ trở thành một ý niệm văn hóa. Đây cũng là điểm đáng suy nghĩ trong khái niệm tiếp biến, bởi tiếp biến luôn bao hàm sự lựa chọn, biến đổi và tái tạo ý nghĩa. Giá trị của sự gặp gỡ nằm ở chỗ hai thế giới vẫn giữ được phần khác biệt của mình. Một Lorca mang Andalusia, Công giáo, dục vọng, duende và nỗi ám ảnh cái chết sẽ cho người Việt nhiều hơn một Lorca đã được chuyển hóa hoàn toàn theo hệ cảm xúc quen thuộc. Chính khoảng cách ấy làm cho cuộc gặp gỡ với ông trở nên đáng giá.
Sức sống của Lorca có lẽ nằm chính ở phần cuộc đời không thể khép lại bằng một định nghĩa mang màu sắc ý thức hệ. Tiếng đàn ấy đi qua gần một thế kỉ mà vẫn mang theo cảm giác bất an, cô độc, dục vọng, và dự cảm về cái chết, những gì khiến nghệ thuật của ông tiếp tục lay động người nghe ở những thời đại khác nhau. Lorca không cần thêm một lớp hào quang cao cả để tồn tại trong trí nhớ người đời. Chính phần người nhiều mâu thuẫn, nhiều bóng tối và không thể giải quyết dứt điểm đã giữ ông trong văn chương và âm nhạc đến hôm nay.
Link: Bản thu năm 1931 của Nana de Sevilla, với La Argentinita hát và chính Federico Garcia Lorca đệm piano, là một trong những tư liệu hiếm hoi cho phép người nghe chạm được hồn mình vào thế giới âm nhạc của Lorca: