Một góc khuất cuộc đời

Hồi ức Nguyễn Minh Kính

Tuổi già cô đơn vì không còn ai để chuyện trò, thôi thì ngồi gõ mấy dòng tự sự một góc khuất cuộc đời cho khuây khoả.

Không ai chọn nơi sinh ra cũng không ai chọn nơi nằm xuống. Tôi sinh ra ở một tỉnh miền bắc Trung bộ nằm dưới chân núi rừng Trường Sơn hùng vĩ. Học hết tiểu học, cha mẹ tôi cho tôi ra thị trấn cũng nằm dưới chân núi rừng Trường Sơn ở trọ để học tiếp. Học được bảy năm phổ thông thì chiến tranh nổ ra trên toàn cõi hai miền Nam-Bắc.

Như một chiếc lá non xanh, tôi bị cuốn hút vào cơn lốc chiến tranh. Tưởng rằng mình đã bị chết trong bom đạn và ốm đau bệnh tật, nhưng tôi đã được cứu sống để làm lại cuộc đời. Tôi được tuyển dụng vào làm việc một số nơi rồi lập gia đình. Tôi làm biên tập viên tin tức thời sự và văn nghệ cho một đài phát thanh, nhưng vì tình trạng quân dịch không hợp lệ nên phải nghỉ việc. Về nhà đang sống thấp thỏm phập phồng lo sợ vì tình trạng giấy tờ không hợp lệ quân dịch thì thấy anh Hiệu – Phó Ban biên tập đài phát thanh tìm đến nhà đề nghị tôi viết bài được trả tiền theo hợp đồng. Mỗi tuần lễ viết hai bài phát thanh. Tình trạng này không thể kéo dài được vì tôi có thể bị bắt bất cứ lúc nào do bất phục tùng theo luật định về quân dịch, bây giờ gọi là luật Nghĩa vụ quân sự.

Tôi không muốn cầm súng ra chiến trường bắn giết giữa hai phe nên chọn vào ngành Cảnh sát Quốc gia của chính phủ Việt Nam Cộng Hoà. Tôi làm cảnh sát xã Tam Hiệp, quận Đức Tu, tỉnh Biên Hoà. Cảnh sát là ngành bán vũ trang và gần gũi dân còn hơn là trực tiếp cầm súng bắn giết nhau.

Tôi làm cảnh sát viên được phân công trong bộ phận tiếp dân. Công việc không có gì nặng nề, tôi mua toàn bộ sách giáo khoa bậc trung học tự học. Năm đầu tiên tôi đậu Tú tài I khoa Toán, ban B. Năm thứ hai thi Tú tài II. Ngày thứ hai của khoá thi thấy bài thi dễ, tôi làm xong ngồi rung đùi, đầu gật gà gật gù. Một bạn thí sinh ngồi phía sau vỗ lưng tôi nói nhỏ, ê bồ, ê bồ, cứu giúp, cứu giúp. Tôi cho bạn thí sinh này coi bài. Giám thị phòng không thấy nhưng giám thị hành lang nhìn qua cửa sổ thấy vội chạy vào ký lên đầu bài thi của hai người. Bạn thí sinh ngồi sau đứng dậy nói, thưa thầy, không phải lỗi của anh này (chỉ vào tôi) mà lỗi của em. Giám thị hành lang nói một cách nghiêm túc, dứt khoát, tôi không cần biết, cả hai người cố ý gian lận trong phòng thi. Tôi và người bạn ngồi phía sau bị loại khỏi kỳ thi này. Về nhà kể sự việc với vợ, vợ vừa khóc vừa nói, công anh thức khuya dây sớm học một năm mà để xảy ra như thế. Tôi tự tin, an ủi nói với vợ, chẳng có gì phải lo phải vội vàng, năm sau thi lại. Anh sẽ thi đậu cho mà coi. Hứa với em anh sẽ thi đậu.

Sự đời không lường trước được. Một đêm tôi đang ngồi trực làm việc trước cửa ra vào của Cuộc Cảnh sát Quốc gia xã Tam Hiệp, thấy chiếc xe Jeep của Ty Cảnh sát tỉnh Biên Hoà vào đậu trước sân. Một sỹ quan cảnh sát xuống xe đi thẳng đến chỗ tôi ngồi hỏi, có phải anh tên là Nguyễn Minh Kính không. Tôi trả lời, phải. Vị sỹ quan này bảo tôi lên xe và chở thẳng về Ty Cảnh sát Biên Hòa. Họ không nhốt giam tôi mà cho vào một phòng riêng chờ đợi. Sáng hôm sau, Đại uý Vân trưởng Cuộc cảnh sát đến làm việc biết tin tôi bị bắt, liền cho tài xế chở ông xuống Ty Cảnh sát để hỏi sự việc. Đại uý Vân nói với anh tài xế, thằng Kính không bài bạc, rượu chè, không cả cà phê thuốc lá, chỉ đọc sách tự học, nó cũng không bao giờ biết ăn hối lộ của ai, nó lại đã có bằng Tú tài I rồi, tương lai còn dài. Khi Ty Cảnh sát cho biết tôi bị bắt vì có tiền tích chính trị, đại uý Vân không dám can thiệp nữa mà bảo tài xế chở ông trở về. Sự việc này tôi được anh Thông tài xế lái xe cho Đại uý Vân kể lại sau mấy tháng về thăm lại anh em làm việc trong Cuộc Cảnh sát.

Sau khi tôi bị bắt, vợ tôi tìm đến Ty Cảnh sát Biên Hoà thì họ cho biết tôi đã được chuyển giao cho Trung tâm III Nhập ngũ Quang Trung huyện Hóc Môn huấn luyện để bổ sung vào quân đội. Sở dĩ họ giao trực tiếp tôi cho Trung tâm III Nhập ngũ vì họ sợ tôi sẽ bỏ trốn nếu được cho tự do.

Vợ tôi lên Trung tâm III nhập ngũ Quang Trung thăm tôi. Tôi bảo vợ về sao lại bằng Tú tài I đem nộp cho Trung tâm III Nhập ngũ. Tôi được Trung Tâm III chuyển sang diện chờ nhập học khoá mới trường Sĩ quan Trừ bị Thủ Đức. Từ khi nộp bản sao bằng Tú tài I, tôi được tự do thoải mái, cứ mỗi chiều thứ bảy lấy giấy nghỉ phép cuối tuần về thăm gia đình, sáng thứ hai vào trình diện Ban Chỉ huy trung tâm. Được nghỉ phép cuối tuần, tôi về dẫn vợ con đi chơi, xem xi-nê, đi ăn uống thoả thích.

Không ngờ đến ngày nhập học khoá mới trường Sĩ quan Trừ bị Thủ Đức đọc danh sách không có tên tôi. Một số dăm bảy người cùng trường hợp được chờ nhập học khoá mới Trừ bị Thủ Đức cũng không có tên như tôi. Người phụ trách thay mặt Ban Chỉ huy Trung Tâm III điểm danh lại nhóm người này rồi đọc, xướng lên rất to và rõ ràng rằng, “Các anh thuộc thành phần bất phục tùng sắc lệnh và quy định về quân dịch của chính phủ và Bộ Quốc phòng. Các anh bị chế tài theo luật định, phải học trường Hạ sĩ quan Đồng Đế Nha Trang. Khi hết thời gian chế tài, các anh mới được phép trở về học trường Sĩ quan trừ bị Thủ Đức. Các anh nghe rõ chưa.”

Tôi học khoá Hạ sĩ quan Đồng Đế, Nha Trang khoảng giữa năm 1973. Thời chế độ Việt Nam Cộng Hoà (VNCH), trong chiến tranh nhưng quân nhân vẫn được nghỉ phép về dự các kỳ thi tú tài nếu có số báo danh. Vợ tôi đang làm y tế xã Bửu Long, quận Đức Tu, Biên Hoà. Tôi nghỉ phép về dự thi tú tài tiếp theo tại Hội đồng thi Biên Hoà (thi tại trường trung học Ngô Quyền). Thi xong về chờ đợi rồi đi xem kết quả thấy mình đậu mừng quá là mừng. Tôi về nói với vợ anh thi đậu rồi. Vợ tôi reo lên, thế à, rồi chạy lại ôm cổ tôi, hai chân co lên phía sau đung đưa hôn tôi thành tiếng “chụt” một cái. Tôi học hành bị gián đoạn, không được suôn sẻ, chủ yếu là tự học mà thi cử được như thế này thì vợ cũng coi là thủ khoa rồi. “Thứ nhất thì đậu thủ khoa, thứ nhì chàng ở đường xa mới về”, niềm vui và hạnh phúc của những người vợ trẻ thương chồng.

Học xong Hạ sĩ quan Đồng Đế, tôi được điều động bổ sung lên tiểu khu Bình Long. Tiểu khu đưa tôi về tiểu đoàn 2 rồi đưa xuống đại đội 3 do đại uý Phước chỉ huy. Đại uý Phước thấy tôi có chút học vấn nên chọn tôi làm thư ký cho ông. Khoảng tháng 2 tháng 3 gì đó, năm 1975 tình hình chiến sự ác liệt, ông và các đơn vị bộ binh ở tiểu khu Bình Long phải hành quân đường bộ qua những cánh rừng để xuống tỉnh Bình Dương.

Trước khi mở cuộc hành quân rút lui này, ông phải chỉ huy đại đội tảo thanh các vùng phụ cận để bảo đảm an ninh trước. Doanh trại lúc đó chỉ còn hai người là anh trung sĩ truyền tin và tôi. Tôi giữ sổ sách thông tin cá nhân của đại đội để liên lạc khi có sự việc cần thiết. Đại uý Phước tảo thanh xong trở về, mặt mũi, quần áo, quân hàm, mũ sắt… phủ đầy bụi đất đỏ. Ông gọi tôi vào phòng riêng của ông nói, “Tôi sẽ chỉ huy đại đội rút lui băng rừng xuống Bình Dương bằng đường bộ. Tôi cho anh sang Bộ chỉ huy Tiểu khu đi máy bay trực thăng về hậu cứ Long Bình, Biên Hoà trước. Tôi giao cho anh bốn trăm ngàn.”

Tiền ông đã gói gọn từng xấp một. Ông đếm, một, hai, ba, bốn và mấy đồng tiền lẻ cũng giao cho tôi luôn. Ông giữ lại chiếc đồng hồ đeo tay, cởi chiếc lắc bằng vàng Tây khá nặng đang đeo trên cổ tay và lột luôn chiếc cà rá giao cho tôi luôn nữa. Ông nói tiếp, tên và địa chỉ của vợ tôi đang dạy trường tiểu học đây. Anh về hậu cứ Biên Hoà rồi về Sài Gòn ra bưu điện gửi ngay cho vợ tôi. Các thứ còn lại anh cất giữ cho tôi, khi về hậu cứ anh giao lại cho tôi sau. Anh chuẩn bị mà đi cho mau.

Tôi bỏ tất cả các thứ ông giao vào túi áo, túi quần nhà binh rộng thùng thình, cài khuy nút chắc chắn cẩn thận, mang ba lô quân trang, tay cầm khẩu súng M16 đi bộ qua mấy con đường tắt trong rừng cao su sang Bộ chỉ huy Tiểu khu. Tôi quên chào tạm biệt anh trung sỹ truyền tin.

Trên đường đi, tôi đoán chắc rằng anh trung sỹ truyền tin sẽ mang thiết bị lên xe theo Đại uý Phước. Máy bay trực thăng hạ cánh chuyến đầu tiên trên quốc lộ 13 tôi không thể lên được vì người đông. Rút kinh nghiệm, chuyến thứ hai khi máy bay đang chọn vị trí đáp, tôi chạy rất nhanh nên đã kịp lên máy bay.

Xuống Bình Dương tôi đi xe quân đội về hậu cứ Long Bình, Biên Hoà. Cất khẩu súng M16 vào kho, tôi ra cổng đón xe về nơi vợ tôi đang làm y tế tại xã Bửu Long, quận Đức Tu, tỉnh Biên Hoà. Một đêm hàn huyên kể chuyện trong thời gian xa cách rồi kể cho vợ nghe những việc phải làm do ông Đại uý Phước giao cho. Sáng hôm sau tôi đón xe về bưu điện Sài Gòn cạnh nhà thờ Đức Bà gửi tiền cho vợ ông đại uý Phước. Cầm tờ biên nhận gửi tiền mà lòng thảnh thơi nhẹ nhõm.

Vợ chồng tôi có ba đứa con, con gái lớn 6 tuổi, con trai kế 2 tuổi và con trai út sinh lúc tôi đang học ở quân trường Đồng Đế, Nha Trang nên chưa đầy 1 tuổi. Cả ba đứa con gửi cho bà ngoại ở Sài Gòn chăm sóc. Vợ tôi được ông xã trưởng Bửu Long cấp cho một gian nhà đầu tiên sát cổng ra vào của xã ngăn ra làm hai phòng, phòng ngủ phía sau và phòng trước để phát thuốc men, băng bó sơ cứu cho dân trong xã khi cần thiết.

Tôi trở lại gian nhà vợ tôi đang làm việc ở xã Bửu Long rồi hàng ngày vào hậu cứ Long Bình chờ tin đại uý Phước. Chờ gần cả tuần lễ vẫn chưa thấy tin tức ông, trong khi đó tôi đã có thư của vợ ông báo tin đã nhận được tiền do tôi gửi. Tôi rất thong thả không có gì phải lo lắng, cứ mỗi ngày đủng đà đủng đỉnh vào hậu cứ Long Bình chờ tin Đại uý Phước.

Rồi vào một buổi sáng như mọi ngày tôi vẫn đủng đỉnh nhưng nhìn xa trong khu hậu cứ thấy binh linh khá đông. Tôi nghĩ, hôm nay sẽ có tin tức ông Đai uý Phước. Không ngờ ông đã thấy tôi trước đang từ ngoài cổng đi vào. Ông tách đám đông rồi đi nhanh ra đón tôi. Đáp lại, tôi cũng đi rất nhanh để đón ông. Gặp ông tôi hỏi, Đại uý khoẻ không. Ông không trả lời mà ôm lấy tôi như người cha ôm con. Tôi đưa cho ông tờ biên nhận gửi tiền ở bưu điện Sài Gòn và đưa cả thư vợ ông gửi cho tôi rồi đưa tiếp các món tư trang cho ông. Ông là cấp trên, cấp chỉ huy của tôi mà xem chừng tôi lại là người chủ động trong giờ phút này vì ông vẫn im lặng không nói gì. Thời gian này là vào khoảng tháng 3, đầu tháng 4/1975 gì đó tôi không nhớ được chính xác. Lúc đó tôi nói với Đại uý Phước, xin chào Đại uý tôi về nhà.

Tôi về sống với vợ con và ở nhờ bên nhà vợ vì không có nhà riêng. Đêm 30/04/1975 có người trong khu phố dẫn hai anh mặc sắc phục bộ đội chính quy mang súng AK gõ cửa vào nhà. Một anh hỏi tôi, anh có phải con rể nhà này không. Tôi nói, phải. Họ bảo tôi mặc quần áo rồi dẫn tôi đi lúc đó khoảng hai, ba giờ sáng làm cả nhà vợ tôi ngơ ngác. Các con tôi đang ngủ không biết sự việc xảy ra. Vợ tôi lo lắm.

Người ta đưa tôi lên chiếc xe tải nhỏ bít bùng chạy lòng vòng trong thành phố để bắt người theo hướng dẫn của người chỉ điểm. Lên xe bít bùng đã thấy khoảng chục người đang ngồi trên sàn xe. Họ đưa tôi và nhóm người này vào một cái nhà kho bỏ trống mùi tanh tưởi nằm trong hẻm rộng đường Chi Lăng, tỉnh Gia Định, nay là đường Phan Đăng Lưu, TP.HCM. Có lẽ đây là xí nghiệp hải sản tư nhân vắng chủ.

Chừng dăm bảy ngày gì đó họ gọi tôi lên tầng trên nhà kho này thẩm vấn lấy cung. Người thẩm vấn còn rất trẻ, mặc áo sơ mi trắng dài tay bỏ trong quần nai nịt gọn gàng lịch sự. Anh ta ngồi trên chiếc ghế bề thế sau chiếc bàn to có lẽ là của văn phòng xí nghiệp hải sản để lại.

Tôi cúi đầu nói, xin chào anh. Nhìn thấy tôi, lạ thay anh lại tự giới thiệu anh với tôi. Anh nói, tôi là sinh viên Luật khoa Sài Gòn, phụ trách an ninh khu vực này. Anh hỏi tôi, trước đây tôi đã làm những công việc gì cho chính quyền VNCH Sài Gòn. Tôi trả lời tôi làm cảnh sát bị sa thải rồi đi lính địa phương quân cho đến khi chính phủ VNCH sụp đổ. Người thẩm vấn nói, thôi nha, tôi ký giấy cho anh về nhà chờ lệnh của Uỷ ban Quân quản thành phố.

Về đến nhà, cả nhà vợ tôi vui mừng, mấy gia đình cạnh nhà cùng khu phố cũng đến xúm xít thăm hỏi. Người nắm tay tôi, người sờ vào lưng tôi một cách trìu mến, ai cũng mừng cho tôi may mắn. Có người nói tên của một ông nào đó trong khu này cũng bị bắt trong đêm như tôi mà chưa thấy trở về. Mọi người mừng cho tôi là phải bởi vì khi tôi bị bắt dẫn đi, nghe vợ tôi kể lại, cậu em lớn nhất của vợ tôi nói, chị nhớ giờ phút này, đêm 30/04 sáng 01/05/1975 người ta bắt và dẫn anh đi. Ý nói, nếu tôi không trở về thì lấy ngày đó để làm đám giỗ hàng năm.

Theo lệnh của Uỷ ban Quân quản thành phố, tôi học tập ba ngày tại địa phương và được trả quyền công dân bình thường. Là người lính sau chiến tranh không có nghề nghiệp, tôi nộp đơn làm công nhân cho công ty xây dựng của nhà nước. Cũng có người bà con họ hàng bên vợ biết khả năng của tôi nên khuyên tôi nên đi dạy học và viết thư giới thiệu tôi với một vị Linh mục đang điều hành trường tư thục tại một nhà thờ Công giáo quận Gò Vấp thuộc tỉnh Gia Định.

Sau khi xem thư giới thiệu, vị linh mục gọi tôi bằng thầy, nói, các thầy ở đây đã qua lớp tập huấn của Sở Giáo dục thành phố cả rồi; bây giờ tôi sẽ viết thư giới thiệu thầy xuống Sở Giáo dục thành phố dự lớp tập huấn xong sẽ phân công lớp cho thầy dạy.

Xuống Sở Giáo dục thành phố, người phụ trách tiếp tôi có lẽ là một ông cán bộ miền Bắc mới vào tiếp quản vì thấy cách ăn mặc của ông. Sau khi tôi đưa giấy giới thiệu của vị Linh mục, ông cũng gọi tôi bằng thầy. Ông nói, thầy thông cảm, bây giờ chưa đủ số lượng các thầy cô để mở lớp tập huấn; thầy về chờ đợi ít hôm rồi ghé lại xem sao. Về chờ đợi thì bên công ty Xây dựng có giấy báo gọi tôi đi làm. Đắn đo suy nghĩ, làm thầy giáo nghề dạy học tiêu chuẩn mỗi tháng được mua 12 kg gạo, nửa ký thịt heo, nửa ký đường… làm công nhân mỗi tháng được mua 19 kg gạo, một ký thịt heo, một ký đường… Thôi, đi làm công nhân cho chắc ăn chắc bụng.

Tôi chịu khó học hỏi và lanh lẹ nên được cử làm tổ trưởng phụ trách một nhóm hơn mười công nhân của một xưởng cơ khí mà trước năm 1975 gọi là hãng Eiffel của Pháp. Xưởng cơ khí, công ty hãng Eiffel theo lịch sử cho biết đã hoạt động tại Sài Gòn từ năm 1872 chuyên về kết cấu sắt thép, làm nhiều công trình như cầu Mống, Bến Nhà Rồng…

Sau năm 1975, hãng Eiffel do bộ Xây dựng của nhà nước tiếp quản và giao cho Công ty Xây dựng số 8 quản lý mà trực tiếp điều hành là Xí nghiệp Xây dựng số II. Tôi làm việc ở đây liên tục gần ba mươi năm qua nhiều giai đoạn, từ một xí nghiệp rồi thành công ty có nhiều xí nghiệp và đơn vị trực thuộc.

Nói thêm lần nữa, không phải tôi khoe mà tôi thuộc típ người khôn vặt, đã có một số sáng kiến trong gia công kết cấu sắt thép nên được chọn làm chiến sỹ thi đua cấp thành phố hai năm liền. Tôi có giấy thông báo đi học đối tượng đảng hai lần mà tôi im lặng từ chối. Tôi nói với cán bộ tổ chức tôi cảm ơn họ mà thôi. Những năm cuối sau thời gian làm việc ở đây tôi được chọn làm quản đốc điều hành kiêm luôn kỹ thuật của xưởng cơ khí này cho đến ngày nghỉ hưu chính thức cuối năm 2003. Tôi làm việc cho chính phủ, cho nhà nước không có nhà ở nên được cấp đất xây dựng nhà ở. Căn nhà của tôi không to lớn nhưng là một căn nhà mặt tiền đường nhỏ của Sài Gòn TP.HCM.

Không ai ngờ được, không ai có thể biết trước được những gì sẽ xảy ra trong cuộc đời mình. Cậu em vợ tôi du học Mỹ trước năm 1975 bảo lãnh vợ tôi đi định cư. Tôi đi theo vợ, đến Mỹ năm 2005 nay đã hơn hai mươi năm. Con gái tôi theo chồng du học Mỹ, về nước làm việc một thời gian rồi trở lại Mỹ làm việc và sinh sống. Tôi đứng ra bảo lãnh cho hai con trai chờ đợi mười lăm năm, nay cũng đã sang Mỹ định cư. Cháu ngoại, cháu nội tôi đều đã hơn hai mươi tuổi đang học đại học ở Mỹ, có đứa đã xong đại học, có đứa trên đại học nữa và đang làm việc ở các bệnh viện.

Trong đời sống một số người thường có thú vui giải khuây khác nhau. Xem tướng, bói toán cũng là cách giải khuây tuỳ theo cách hiểu của mỗi người. Tôi không tin lắm việc bói toán và xem tướng nhưng không dám phủ nhận nó hoàn toàn.

Tôi kể thêm chuyện này cho vui. Hồi sống ở Việt Nam có người quen mời ông thầy tên Thuỷ đến nhà coi tướng số. Tôi cùng nhóm bạn rủ nhau đến coi cho vui. Ông Thuỷ mời tôi lại ngồi đối diện với ông. Quan sát một lúc rồi ông nói với tôi, tôi chỉ nói cho anh mấy câu thôi, không nói nhiều. Một, anh đang ở nhà mặt tiền đường; hai, anh sẽ chết trong nhà cao cửa rộng và ba, anh là người có căn tu. Tôi cười vui rồi trả lời lại, thầy nói tôi đang ở nhà mặt tiền, đúng. Thầy nói tôi chết trong nhà cao cửa rộng có lẽ cũng đúng luôn, vì bị bệnh tim mạch vào bệnh viện Chợ Rẫy nằm trên tầng bốn chết thì đúng là chết trong nhà cao cửa rộng. Còn thầy nói tôi có căn tu thì xin lỗi thầy, tu của tôi có mà tu… hú.

Các bạn tôi nghe tôi nói thế ai cũng cười ồ lên. Ông Thuỷ nói tiếp, tôi không biết, để rồi anh sẽ thấy. Nói thật, đã đứng tuổi nhưng chưa đủ kinh nghiệm hiểu biết, cứ tưởng căn tu là đi tu. Căn tu là căn tính tu tập, sửa mình và giữ mình trước mọi cám dỗ của cuộc đời. Trên đời không ai giống ai, trong gia đình, ngoài xã hội, trên thế gian cả hành tinh này cũng không ai giống ai cả. Mỗi người một số phận, nhưng không phải “cau khô nhúng nước vẫn khô, phận nghèo đi đến đất mô cũng nghèo” mà số phận do chính bản thân mỗi con người định đoạt.

Tuổi đời nay đã tám mươi lăm; “con chim sắp chết tiếng hót nghe bi thương, người già nói lời thành thật.”

Tôi ghi lại một góc khuất cuộc đời của tôi để chiêm nghiệm và có lẽ đây cũng là những lời trăng trối.

21-09-2026

This entry was posted in Văn and tagged . Bookmark the permalink.