Bốn bài thơ của Anne Carson

Ngu Yên dịch

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

TIỂU SỬ  NGẮN

Giải Nobel Văn học 2026

Viện Hàn lâm Thụy Điển trao giải Nobel Văn học 2026 cho tác giả người Canada Anne Carson, vì sự nghiệp sáng tác táo bạo và đầy sáng tạo, qua cuộc đối thoại tinh nghịch với truyền thống cổ điển, đã tạo ra những hình thức mới cho văn học đương đại. Giải được công bố tại Stockholm hôm thứ Năm (8/10/2026), kèm tiền thưởng 12 triệu krona Thụy Điển (khoảng 1,2 triệu USD). Thư ký thường trực của Viện, Ingrid Carlberg, cho biết khi được báo tin, bà Carson đang ở Iceland để “lắng nghe gió”. Bà là người phụ nữ thứ 19 trong số 122 người từng đoạt giải Nobel Văn học. Bà sẽ chính thức nhận giải tại lễ trao giải ở Stockholm vào tháng 12.

Tiểu sử tóm tắt

Anne Patricia Carson sinh ngày 21/6/1950 tại Toronto, Canada. Bà là nhà thơ, nhà tiểu luận, dịch giả, nhà nghiên cứu cổ điển học và giáo sư. Bà từng hai lần bỏ dở việc học ở St. Michael’s College (Toronto) và dành vài năm cho nghệ thuật thị giác. Năm 1985, bà công bố luận án về Sappho. Bà có bằng tiến sĩ ngôn ngữ cổ điển tại Đại học Toronto và từng giảng dạy tại Princeton, McGill và NYU. Văn phong của bà nổi bật nhờ sự hòa trộn thể loại và hình thức, đặc biệt là cách bà kết nối truyền thống Hy Lạp–La Mã, trung cổ và đương đại. Bà cũng hợp tác với đoàn múa Merce Cunningham, Laurie Anderson và Lou Reed.

Một số giải thưởng lớn trước Nobel:

– Giải T. S. Eliot 2001 cho tập The Beauty of the Husband. Bà là phụ nữ đầu tiên đoạt giải này.

– Giải Princesa de Asturias 2020, giải PEN/Nabokov 2021, và Giải Toàn quyền Canada (Governor General’s Award) cho Norma Jeane Baker of Troy

BỐN BÀI THƠ CỦA ANNE CARSON

 

Lời Người dịch:

Giải Noble văn chương 2026 trao cho Anne Carson không chỉ là ghi chứng giá trị thơ văn của bà, mà còn là một phần thưởng cho phái thơ New Sincerity (Tân chân thành.)

Phong trào thơ New Sincerity do Joseph Massey, Anthony Robinson và Andrew Mister khởi xướng. Tuy vậy, chữ “phong trào” phải dè dặt vì chính họ cũng thừa nhận New Sincerity chưa bao giờ là một khối thống nhất.

Phản ứng lại thơ hậu hiện đại thiên về trò chơi ngôn ngữ: đây là sự quay lưng với thơ Language (Language poetry) và thơ “elliptical”, cùng với lối thơ trữ tình công thức của các lớp MFA mà họ cho là làm ngôn ngữ trở nên chết.

Gạt bỏ sự mỉa mai (irony), đề cao cảm xúc trực tiếp, dễ đọc. Câu hỏi cốt lõi của họ là những thủ pháp nào ở đây và bây giờ tạo ra cảm giác trong suốt, mộc mạc, chân thành không qua trung gian.

Về hình thức, thường dùng phép hô ngữ (apostrophe), khổ thơ và độ dài dòng thường không đều.

Thơ của Anne Carson thuộc về phong trào này nếu xét về hình thức, trải nghiệm thật, ngôn ngữ bình thường, trung thực và đề cao cảm xúc.

ĐỜI SỐNG

Rạng rỡ như vệt sóng sau thuyền

chúng tôi hướng về Montreal,

đến nhà Will.

Sinh nhật Will.

Will đây rồi!

Chiếc sofa xanh lá cây mới,

ly Malbec,

đùa nghịch với con chó trên tấm thảm.

Tôi yêu tấm thảm.

Nó xanh dương như hồ bơi.

Will tặng áo thun từ Nhật.

Chúng tôi tặng anh bom tắm.

Ruben và Ed từ Buenos Aires bay sang.

Chúng tôi cùng nhau đi Parc X.

Lạc đường.

Tìm được Parc X.

Ngồi ngoài trời.

Anh phục vụ hít hơi sửng sốt

khi tôi thả viên đá vào ly rượu,

nhưng rồi, khi biết

hôm nay, sinh nhật Will,

anh dọn hết món này đến món khác,

có cả bạch tuộc ướp hương lá thông.

Bữa tối kéo dài.

Cuối cùng là bánh ga-tô sinh nhật,

Tất cả người phục vụ đứng quanh hát,

Rót rượu Calvados cho cả bàn.

Trời mưa.

Nhưng chúng tôi ở dưới mái hiên.

Dường như thật hoàn hảo.

Đưa Ruben và Ed về khách sạn.

Mọi người ôm mọi người.

Trở lại nhà Will,

Will nói, sinh nhật này tuyệt nhất kể từ 1968.

Tôi có chút không hài lòng,
nhưng chúng mang tính ái kỷ:

chẳng hạn,

một lần nữa trời quá lạnh để mặc chiếc váy cam tuyệt đẹp.

Tôi vẫn luôn nói điều này,

nhưng quả thật, có quá nhiều thứ

tôi không hiểu,

Tôi không phải nói thịt bò tartare,

tôi nói đến trớ trêu, xác chết,

làm sao không so sánh khi nhìn mình khắp nơi.

Làm sao để thấy những gì khác ở đó.

Gần đây, học cách nhận ra cây sycamore,

tôi thấy chúng trong mọi khu rừng —

những thân cây như bị cày xới, tơi tả,

nhưng đồng thời

vươn thẳng vào sự sống,

như con chó của Will, đã già, chưa chắc sống hết năm nay,

tôi thấy nó kỳ ảo bay vụt qua hồ bơi.

Ghi:

– “Draws a breath of horror” là phản ứng hít hà, sững sờ, kiểu một người phục vụ sành rượu thấy khách làm điều “vi phạm bỏ nước đá vào rượu.”

– Calvados là rượu mạnh chưng cất từ táo, đặc sản vùng Normandie của Pháp.

– Steak tartare là thịt bò sống băm nhỏ.

– “Sycamore” ở Bắc Mỹ là cây tiêu huyền (còn gọi là ngô đồng Pháp).

– “On no feet” nhẹ và kỳ ảo, như thể nó bay mà chẳng cần chân.

LIFE

By Anne Carson

Bright as boatwash
we head for Montreal,
to Will’s house.
Will’s birthday.
Here’s Will!
New green sofa,

glass of Malbec,
roughhousing with the dog on the rug.
I love the rug.
It’s blue like a swimming pool.
Will gives us T-shirts from Japan.
We give him bath bombs.
Ruben and Ed show up from Buenos Aires.
We set off for Parc X.

Get lost.
Find Parc X.
Sit at outdoor tables.
Waiter draws a breath of horror
when I put an ice cube in my wine
but then, discovering
it’s Will’s birthday,

brings us course after course
including an octopus flavored with pine.
Dinner goes on and on.
Birthday gâteau to finish and all the waiters
standing round to sing, handing out Calvados.
It rains.

But we are under an awning.
That seems perfect.
Drive Ruben and Ed to their hotel.
Everyone hugs everyone.
Back at Will’s
Will says best birthday since 1968.
I have some reservations but they are narcissist:

once again too cold to wear my smashing orange dress,
for example.
I always say this but it’s true, there are
so many things
I don’t understand,
I don’t mean steak tartare,

I mean irony, corpses, how to not
see yourself everywhere in comparison.
How to see instead what’s there.
Recently having learned to recognize the type of tree called sycamore,
I see them in any forest—
the ones that look harrowed, in shreds, but
go also
straight up into life,

like Will’s dog who, although old and may not last the year,
I saw soar across the swimming pool on no feet.

KHỔ THƠ, GIỚI TÍNH, CÁM DỖ

Thật tốt khi được vô tính.

Tôi muốn có đôi chân vô nghĩa.

Có những điều không thể chịu đựng.

Ta có thể trốn tránh chúng thật lâu,

rồi ta chết.

Đại dương khiến tôi nhớ

căn phòng xanh của em.

Có những điều không thể chịu đựng.

Hãy kinh miệt đi, hỡi các ông hoàng, cái bé nhỏ này

của chết dần.

Thơ của riêng tôi là một thất bại.

Tôi không muốn làm một con người.

Tôi muốn mình không thể chịu đựng nổi.

Từ người tình đến người tình, màu xanh tình yêu.

Lạnh, lạnh dần…

STANZAS, SEXES, SEDUCTIONS

By Anne Carson

It’s good to be neuter.

I want to have meaningless legs.

There are things unbearable.

Once can evade them a long time,

Then you die.

The Oceans remind me

Of your green room.

There are things unbearable.

Scorn, princes, this little size

Of dying.

My personal poetry is a failure.

I do not want to be a person.

I want to be unbearable.

Lover to lover, the greenness of love.

Cool, cooling

LẠ THẬT BẠN LẠI HỎI

Bạn đi New York thế nào?

À,

chúng tôi ở nhà R. Anh ta đi vắng. Anh dặn đừng dùng ga giường — cũng phải thôi,

nhà không máy giặt, ai muốn trở về với chiếc giường bẩn?

Anh dặn mang theo ga giường, chúng tôi quên. Nhưng cố ngủ, cố nhấc người khỏi lớp ga.

C với cơn ho kinh niên, tôi với chứng thức trắng. Ba giờ sáng, lang thang từ phòng ngủ sang nhà bếp,

chẳng tìm thấy ấm trà, bị bỏng vì ấm đun nước. C vẫn ho, ho đến quặn người, gần như bật khóc.

Kinh niên nghĩa là không ai giúp được. Tôi lóng ngóng, làm rơi đồ đạc xuống sàn.

Cầm lên cuốn sách định đọc trên máy bay.

“Cơn điên của Hölderlin: Biên niên sử một đời sống cư ngụ, 1806–1843”, của Giorgio Agamben.

Sách mở đầu Agamben diễn giải lời phê phán của Hölderlin về cách Fichte hiểu câu “Tôi là tôi”.

Cả ba có nhiều điều để nói về câu đó,

bởi “Tôi là tôi”, cú pháp đầy phấn khích và mối quan hệ mặn chát giữa chủ thể với đối tượng,

chẳng xua được nước mắt của ai, cũng chẳng ngăn được những vụng về, nhưng nó tạo ra một thứ chốn nương thân.

Thú thật, tôi không rõ Fichte là ai,

còn phải tra từ Selbstbewusstsein, nhưng dù sao, vẫn có điều gì đẩy lùi nỗi tồi tệ.

Suy nghĩ. Cái điều cứu vớt. Cái điều vô dụng này.

Đêm

trôi qua, cuối cùng C cũng ngủ, Agamben tiếp tục vật lộn với lời phê phán của Hölderlin về Fichte cho đến rạng đông.

Hộp sọ tôi chao nghiêng. Câu “Tôi là tôi” vẫn chưa sáng tỏ.

Bỗng tôi nhận ra đã dành quá nhiều đời mình để chú tâm vào những câu chữ của người khác,

trong bình minh màu sắt gỉ, đo chứng mất ngủ của mình với những ý nghĩ vành mũ phớt.

Tôi chứng tỏ mình, kẻ vật lộn xứng đáng với phần diễn giải của Agamben

về phê phán của Hölderlin đối với Fichte chưa?

Không hẳn.

Trí óc tôi hơi nhỏ bé.

Nhưng nghĩ lại, chính cuốn sách này do học trò cũ gửi tặng,

người đã thay đổi đời mình khi đọc câu thơ “… trong sắc xanh đáng yêu…” (Hölderlin, một đoạn rời của thánh ca).

Tôi cũng (đổi khác) như thế, nhiều năm về trước, giờ mới nhớ ra.

Thật ra, dù tôi là ai, còn có thể đòi hỏi gì hơn, một đêm trong chuyến đi New York?

Ghi:

– “Snap-brim” là kiểu mũ phớt vành bẻ, loại mũ của các thám tử và trí thức thời thập niên 1940. Hình ảnh ở đây là những ý nghĩ chỉn chu, sắc sảo, điệu đà của người khác

– “In lovely blue” là bản dịch tiếng Anh của “In lieblicher Bläue”, bài thơ của Hölderlin có câu nổi tiếng “con người cư ngụ trên mặt đất một cách thi ca”. Đó chính là chữ “dwelling” trong tựa sách của Agamben.

FUNNY YOU SHOULD ASK

By Anne Carson

How was your trip to New York?
Well,

we stayed at R’s. He was away. Asked us to not use the sheets—quite reasonably,

he has no laundry and who likes coming home to an unclean
bed?

Instructed to bring sheets, we forgot. But try to sleep slightly
above

the sheets, C with his chronic cough, I my insomnia. Wandering 3 A.M. bedroom

to kitchen I find no teapot, scald myself on the kettle. C still coughing, racked, almost in

tears. Chronic means no one can help. I blunder about, spilling
things

on the floor. Pick up a book I’d thought to read on the plane.
“Hölderlin’s

Madness: Chronicle of a Dwelling Life, 1806-1843,” by Giorgio
Agamben.

It begins with Agamben’s exegesis of Hölderlin’s critique of
Fichte’s

understanding of the sentence “I am I.” All three have much to
say

about this sentence, for “I am I,” with its exhilarating syntax and
salty

relation of subject to object, does not dispel anyone’s tears or
blunder,

yet it makes a sort of refuge. Admittedly, I don’t quite know who
Fichte

is and have to look up Selbstbewusstsein, but still, there is a
staving

off of terribleness. To think. This saving thing. This useless thing.
Night

passes, C finally sleeps, Agamben goes on struggling with Hölderlin’s critique

of Fichte till dawn. My skull sways. “I am I” remains
unclarified.

It occurs to me I’ve spent too much of my life staring at someone else’s sentences

in a rebar dawn, measuring my insomnia against their
snap-brim

thoughts. Have I proved a worthy struggler with Agamben’s
exegesis

of Hölderlin’s critique of Fichte? Not
really.

My mind is
smallish.

Then again, this book of Agamben’s was sent me by a former
student,

whose life was changed when he read “ . . . in lovely blue . . . ”
(Hölderlin,

fragment of a hymn). So (changed) was mine, years ago, I now recall. And really,

what more can I ask, whoever I am, of a night on a trip to
New York?

LŨ CHIM ỒN ÀO

Chiều Chủ nhật, chiều xám. Suốt ngày, cơn bão chẳng ra bão. Mây vây kín, hờn dỗi, lắc rắc nhổ mưa. Chúng tôi hoãn buổi bơi. Thu ghế vào nhà. Cuối cùng, khoảng bảy giờ, một tiếng ì ầm trên cao. Gió lượn quanh những thân cây, hất mỗi cây một lần rồi buông xuống những dòng khí mát bất chợt, chẳng theo quy luật nào. Luồng gió ấy tan ra từng mảnh, những mảnh gió chao nghiêng, rơi xuống, va vấp khắp sân một lúc, chẳng theo nhịp điệu nào cho đúng. Rồi một hợp âm duy nhất, chạy ướt sũng qua mái, qua hiên rồi tắt. Tất cả chúng tôi cùng thở phào. Có lẽ thế là xong, có lẽ trời đã tạnh. Dạo này người dự báo thời tiết thường đoán sai, biết đâu chúng tôi vẫn còn bơi được (điểm danh? nắng lóe?), thì bất thần, các cửa xả mở tung, phá vỡ một nút thắt và đập nát bầu trời thành từng mảnh. Những mảnh trời rơi xuống, vẫn tiếp tục rơi ngay lúc này, khi bóng tối buông dần và đêm huyền thoại đang loay hoay chải chuốt bờm tóc và lũ chim, tôi nghe được qua tiếng ồn bé nhỏ của chúng, lũ chim đang cháy ngược cháy xuôi như những kẻ khờ thánh thiện, ở đâu trong đó, tít sâu bên trong, nơi người ta giữ vật tế, lấm lem, hôi hám. Bởi thế mới có lễ nghi rình rang này, bởi thế mới có những tiếng kêu đen đặc hắc ín, đừng cứ nói mãi là bạn không nghe thấy.

 

THE LITTLE RACKET

By Anne Carson

Sunday evening, evening gray. All day the storm did not quite storm. Clouds closed in, sulked, spat. We put off swimming. Took in the chairs. Finally (about seven) a rumbling high up. A wind went round the trees tossing each once and releasing arbitrary rivulets of cool air downward, this wind which came apart, the parts swaying out, descending, bumping around the yard awhile not quite on the count then a single chord ran drenched across the roof, the porch and stopped. We all breathed. Maybe that’s it, maybe it’s over, the weatherman is often wrong these days, we can still go swimming (roll call? glimpse of sun?) when all at once the sluices opened, broke a knot and smashed the sky to bits, which fell and keep falling even now as dark comes on and fabled night is managing its manes and the birds, I can hear from their little racket, the birds are burning up and down like holy fools somewhere inside it—far in where they keep the victim, smeared, stinking, hence the pageantry, hence the pitchy cries, don’t keep saying you don’t hear it too.

This entry was posted in Thơ and tagged . Bookmark the permalink.