Giáo sư Phan Huy Lê và “bản án lật sử”

Tino Cao

Ngày 30 tháng 9 năm 2026, tại Hà Nội, trong khuôn khổ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ tám của Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam, thông tin về việc hoàn thành bộ Lịch sử Việt Nam gồm 30 tập, với khoảng 27.000 trang bản thảo, đã thu hút sự quan tâm của dư luận. Đây là một đề án khoa học cấp quốc gia được triển khai từ năm 2014 theo chủ trương của Ban Bí thư Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam và Chính phủ, huy động hơn 300 nhà khoa học trong nước cùng một số sử gia nước ngoài, với giáo sư Phan Huy Lê đảm nhiệm vai trò tổng chủ biên cho đến khi ông qua đời năm 2018. Công trình đã hoàn tất biên soạn và nghiệm thu, hiện đang chờ Chính phủ cho phép xuất bản.

Thông tin này lập tức khơi lại một cuộc tranh cãi kéo dài hơn một thập niên qua xoay quanh những quan điểm sử học của Phan Huy Lê. Chỉ ít ngày sau đại hội, trên mạng xã hội xuất hiện hàng loạt bài viết và video cáo buộc ông “lật sử”, “xuyên tạc lịch sử”, thậm chí quy kết ông có chủ ý phủ nhận những giá trị của lịch sử cách mạng. Một số người viện dẫn quan hệ gia đình giữa ông với người anh là Phan Huy Quát, người từng giữ chức thủ tướng Việt Nam Cộng hòa, để suy diễn động cơ chính trị đằng sau các công trình của ông. Có người kêu gọi ngăn chặn việc xuất bản, thậm chí đốt bỏ bộ sách mà công chúng chưa được tiếp cận. Một nhà sử học qua đời đã tám năm nhưng vẫn tiếp tục bị phán xét về lòng trung thành chính trị, trong lúc công trình cuối đời của ông vẫn chưa có điều kiện được thẩm định công khai.

Cuộc công kích mới đây, tháng 10 năm 2026, thực chất là sự tiếp nối những bất đồng và kết án đã xuất hiện từ nhiều năm trước. Tháng 10 năm 2008, việc Phan Huy Lê cùng các đồng nghiệp đề nghị đánh giá lại vai trò của các chúa Nguyễn và triều Nguyễn đã thu hút sự chú ý của giới nghiên cứu và công chúng. Tháng 10 năm 2009, bài viết của ông về nguồn gốc hình tượng Lê Văn Tám, dựa trên lời thuật lại của sử gia Trần Huy Liệu, tiếp tục gây tranh luận về sự khác biệt giữa nhân vật lịch sử và biểu tượng tuyên truyền. Đến tháng 4 năm 2015, trang Google Tiên Lãng đã công khai cáo buộc Phan Huy Lê xuyên tạc lịch sử trong câu chuyện Lê Văn Tám và yêu cầu ông xin lỗi. Tháng 8 năm 2017, những lời công kích gia tăng nhân cuộc tranh cãi về bộ Lịch sử Việt Nam 15 tập của Viện Sử học, một công trình do phó giáo sư Trần Đức Cường làm tổng chủ biên nhưng bị một số người quy trách nhiệm cho Phan Huy Lê. Chính trong đợt ấy, các bài viết sử dụng trực tiếp danh xưng “nhóm lật sử Phan Huy Lê”, phản đối việc đánh giá lại triều Nguyễn và sử dụng thuật ngữ trung tính để chỉ chính quyền Việt Nam Cộng hòa. Những lời cáo buộc tiếp tục xuất hiện sau khi ông mất năm 2018, cho thấy đây là một cuộc tranh chấp gay gắt và không khoan nhượng về quyền diễn giải quá khứ, với những bất đồng về phương pháp sử học bị chuyển thành sự nghi ngờ đối với nhân cách và động cơ của người nghiên cứu. Câu hỏi đặt ra là tại sao những kiến nghị kiểm chứng hoặc sửa chữa một số nhận định lịch sử, vốn thuộc phạm vi trách nhiệm chuyên môn, lại có thể trở thành căn cứ để kết tội chính trị một nhà sử học.

Xin trở lại quá trình hình thành và phát triển nền sử học Việt Nam từ năm 1945, đặc biệt trong bối cảnh miền Bắc xây dựng chế độ xã hội chủ nghĩa sau Hiệp định Genève năm 1954. Trong hơn bảy mươi năm, việc biên soạn lịch sử Việt Nam chịu ảnh hưởng sâu sắc của chủ nghĩa Marx-Lenin, những quan niệm về đấu tranh giai cấp, tính chính nghĩa của cách mạng và vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản. Những nguyên tắc tư tưởng ấy chi phối việc lựa chọn đề tài, tổ chức tư liệu, giải thích các biến cố và đánh giá các nhân vật lịch sử, đồng thời ảnh hưởng trực tiếp đến nội dung giảng dạy trong nhà trường. Tuy nhiên, chính trong môi trường ấy đã nuôi dưỡng trưởng thành nhiều nhà sử học có đóng góp quan trọng, từng bước nhận ra những bất cập của phương pháp luận lỗi thời và đề nghị sửa chữa bằng các kết quả khảo cứu mới. Phan Huy Lê thuộc thế hệ đó. Sự nghiệp của ông gắn bó mật thiết với những thành tựu cũng như các mâu thuẫn nội tại của nền sử học Việt Nam sau cách mạng. Bởi vậy, cuộc tranh cãi quanh di sản Phan Huy Lê cần được đánh giá như một trường hợp tiêu biểu cho quan hệ phức tạp giữa tri thức lịch sử và quyền lực chính trị, trong đó yêu cầu trung thực với chứng cứ thường xuyên phải đối diện gay go với những kết luận đã được xác lập bởi ý thức hệ. Cuộc tranh cãi đặt ra vấn đề về khả năng phát triển của nền sử học Việt Nam một khi mọi nỗ lực sửa chữa nhận thức về quá khứ đều phải tuân theo những tiêu chuẩn chính trị đã được ấn định từ trước.

  1. Sử học và những yêu cầu chính trị của cách mạng

Ngày 2 tháng 12 năm 1953, Ban Nghiên cứu Văn Sử Địa được thành lập trực thuộc Ban Bí thư Trung ương Đảng Lao động Việt Nam, với sự tham gia của Trần Huy Liệu, Tôn Quang Phiệt, Minh Tranh, Trần Đức Thảo và Vũ Ngọc Phan. Tháng 6 năm 1954, cơ quan này cho ra đời Tập san Văn Sử Địa, một diễn đàn có ảnh hưởng đối với đời sống trí thức miền Bắc trong những năm tiếp theo. Ngay số đầu tiên, Trần Huy Liệu đã công bố bài Khoa học lịch sử và công tác cách mạng, với nhan đề phản ánh mối quan hệ được xác lập giữa việc khảo cứu quá khứ và những nhiệm vụ chính trị của thời đại. Năm 1959, Viện Sử học được thành lập, tiếp nối các hoạt động chuyên môn trước đó, từng bước xây dựng đội ngũ nghiên cứu, tổ chức sưu tầm tư liệu và biên soạn những công trình lịch sử có quy mô quốc gia. Sự hình thành các cơ quan chuyên trách đã tạo cơ hội cho việc hệ thống hóa nguồn sử liệu, đào tạo nhiều thế hệ sử gia và phát triển những chương trình khảo cứu có tổ chức. Đồng thời, cơ cấu của các thiết chế này phản ánh một đặc điểm quan trọng trong quá trình xây dựng nền sử học miền Bắc sau năm 1954. Hoạt động nghiên cứu lịch sử ngay từ đầu đã gắn chặt với công tác tư tưởng của Đảng Lao động Việt Nam, trong đó việc lựa chọn đề tài, xác định những vấn đề cần ưu tiên và giải thích các biến cố quá khứ chịu sự chi phối của những mục tiêu chính trị đương thời. Mối quan hệ ấy ảnh hưởng đến cả phương pháp biên soạn lẫn những tiêu chuẩn được sử dụng để đánh giá nhân vật, sự kiện và các thời kì lịch sử.

Trong Postcolonial Vietnam: New Histories of the National Past (2002), sử gia Patricia M. Pelley khảo sát quá trình kiến tạo lịch sử quốc gia ở miền Bắc Việt Nam sau năm 1954, qua đó phân tích sự kết hợp giữa các nguyên lí của chủ nghĩa Marx-Lenin với tư tưởng dân tộc chủ nghĩa, đặc biệt là quan niệm về truyền thống đoàn kết và đấu tranh chống ngoại xâm. Sự kết hợp ấy chứa đựng một mâu thuẫn đáng chú ý về phương pháp. Trong khi học thuyết duy vật lịch sử xem đấu tranh giai cấp và sự biến đổi của các quan hệ kinh tế xã hội là động lực phát triển, nhiều công trình sử học Việt Nam lại lấy ý thức thống nhất dân tộc và truyền thống chống ngoại bang làm trung tâm giải thích quá khứ. Các cuộc khởi nghĩa, chiến thắng quân sự và nhân vật yêu nước được tuyển chọn, liên kết thành một tiến trình lịch sử liên tục, hướng đến thắng lợi của cách mạng trong thế kỉ 20 như một kết quả gần như tất yếu. Cách biên soạn này tiềm ẩn nguy cơ dùng kết cục đã biết của lịch sử để giải thích những sự kiện xảy ra trước đó, khiến nhân vật và biến cố được đánh giá chủ yếu theo mức độ phù hợp với một tiến trình chính trị đã được xác lập. Các chuyển biến kinh tế, đời sống thường nhật, xung đột nội bộ và kinh nghiệm của những cộng đồng dân cư khác nhau thường ít được chú ý nếu không trực tiếp phục vụ luận điểm về truyền thống đoàn kết và đấu tranh dân tộc. Nghiêm trọng hơn, việc xác định trước ý nghĩa chính trị của lịch sử có thể khiến hoạt động khảo cứu chuyển thành quá trình lựa chọn chứng cứ để xác nhận những kết luận đã được thừa nhận. Tuy nhiên, nhận định này cần được hiểu trong phạm vi một khuynh hướng chi phối việc biên soạn lịch sử ở miền Bắc thời bấy giờ, bởi trong chính các cơ quan nghiên cứu của nhà nước vẫn tồn tại những nỗ lực khảo chứng nghiêm túc, các cuộc tranh luận về sử liệu, niên đại và những bất đồng về phương pháp giải thích quá khứ.

Ảnh hưởng của ý thức hệ đối với nền sử học Việt Nam thể hiện rõ trong việc xác lập những tiêu chuẩn đánh giá nhân vật, sự kiện và các lực lượng chính trị. Các phạm trù chính nghĩa và phi nghĩa, cách mạng và phản cách mạng, tiến bộ và phản động được sử dụng để phân loại những hiện tượng lịch sử vốn phức tạp hơn nhiều so với ý nghĩa chính trị mà người viết gán cho chúng. Trong hoàn cảnh chiến tranh và đối đầu ý thức hệ, cách phân loại ấy góp phần củng cố quan niệm về tính chính đáng của cách mạng, nhưng cũng dễ dẫn đến sự giản lược quá khứ thành một chuỗi phán xét đạo đức và chính trị. Một nhân vật từng chống lại phong trào cách mạng có thể bị phủ nhận cả những đóng góp về kinh tế, văn hóa hoặc tổ chức xã hội. Một triều đại thất bại trước ngoại xâm có thể bị đánh giá chủ yếu qua trách nhiệm để mất chủ quyền, trong khi các thành tựu khác ít được khảo sát tương xứng. Hệ quả nghiêm trọng hơn xuất hiện khi tiêu chuẩn chính trị chi phối cả quá trình tuyển chọn và giải thích sử liệu. Thay vì xuất phát từ chứng cứ để tìm kiếm lời giải thích có sức thuyết phục nhất, người biên soạn có thể ưu tiên những tài liệu xác nhận quan điểm đã được thừa nhận, xem nhẹ các nguồn bất lợi hoặc diễn giải những sự kiện phức tạp theo một kết luận xác lập sẵn. Sự chi phối ấy cũng không nhất thiết biểu hiện qua các chỉ thị trực tiếp của cơ quan lãnh đạo. Khi những quan niệm chính thống đã thâm nhập vào hệ thống đào tạo, cơ chế xuất bản và tiêu chuẩn đánh giá chuyên môn, người nghiên cứu có thể tự điều chỉnh câu hỏi, lựa chọn đối tượng khảo sát và xác lập kết luận theo những yêu cầu mà bản thân đã tiếp nhận như một phần của nghề nghiệp. Điều đáng lo ngại trong hoàn cảnh ấy là khả năng tự kiểm duyệt trở thành một thói quen trí thức, khiến sự tuân thủ quan điểm chính trị được đồng nhất với phẩm chất khoa học, trong khi những phát hiện trái với nhận thức đã được công nhận có nguy cơ bị xem là sai lạc ngay từ trước khi chứng cứ được thẩm định.

Đặc điểm này cần được xem xét trong hoàn cảnh Việt Nam trải qua chiến tranh, chia cắt lãnh thổ, và sự đối đầu giữa hai hệ thống chính trị từ năm 1954 đến năm 1975. Tại miền Bắc, việc biên soạn lịch sử hiện đại chịu ảnh hưởng của chủ nghĩa Marx-Lenin và quan điểm chính trị của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, trong đó tiến trình đấu tranh giành độc lập và thống nhất đất nước được giải thích gắn liền với vai trò lãnh đạo của Đảng Lao động Việt Nam. Tại miền Nam, chủ nghĩa quốc gia chống cộng cũng ảnh hưởng đến các công trình lịch sử thuộc hệ thống giáo dục và những cơ quan nghiên cứu của Việt Nam Cộng hòa, mặc dù sinh hoạt trí thức tại đây tự do và đa dạng, bao gồm nhiều khuynh hướng tư tưởng, phương pháp khảo cứu và quan điểm chính trị khác nhau.

Trong khảo luận Vietnamese Historical Writing, công bố năm 2011 thuộc bộ The Oxford History of Historical Writing, sử gia Patricia M. Pelley nhận xét rằng cả hai chính quyền đều quan tâm đến chức năng chính trị của sử học, nhưng phát triển những quan niệm khác nhau về quá khứ dân tộc. Trong giai đoạn đất nước chia cắt, nền sử học miền Bắc chịu ảnh hưởng của tư tưởng Marxist và truyền thống sử học Đông Á; tại miền Nam, nhiều nhà nghiên cứu tiếp cận lịch sử Việt Nam trong không gian Đông Nam Á, đồng thời chịu tác động của chủ nghĩa quốc gia chống cộng. Những khuynh hướng khác biệt ấy phản ánh hoàn cảnh chính trị của mỗi miền và cho thấy việc biên soạn lịch sử có quan hệ mật thiết với nhu cầu xác lập tính chính danh của quyền lực. Sau năm 1975, sự thống nhất bộ máy nhà nước dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đã khiến quan điểm lịch sử của phía chiến thắng chiếm ưu thế trong hệ thống giáo dục, nghiên cứu và xuất bản trên toàn quốc. Nhiều thành tựu và truyền thống học thuật từng phát triển tại miền Nam trước đó không được tiếp nhận tương xứng, đặc biệt trong lĩnh vực lịch sử chính trị và chiến tranh. Hệ quả là những công trình viết về giai đoạn 1954-1975 thường thiếu sự phản ánh đầy đủ kinh nghiệm của những người từng phục vụ Việt Nam Cộng hòa, các lực lượng chính trị ngoài cộng sản và những thường dân không trực tiếp tham gia chiến sự. Để tái dựng lịch sử miền Nam trong thời kì này, cần đối chiếu hồ sơ lưu trữ, báo chí, hồi kí và các nguồn tư liệu từ nhiều phía, qua đó làm sáng tỏ đời sống kinh tế, giáo dục, văn hóa, những biến chuyển xã hội cùng các khuynh hướng chính trị khác nhau. Chiến thắng quân sự có thể quyết định kết cục của một cuộc chiến tranh và sự phân bố quyền lực sau chiến tranh, nhưng quyền lực ấy không đem lại cho bên chiến thắng thẩm quyền độc quyền xác lập sự thật lịch sử. Việc nhận thức quá khứ phải dựa trên chứng cứ và phương pháp khoa học, với sự thừa nhận rằng kinh nghiệm của cả người thắng trận lẫn người thất trận đều thuộc về lịch sử dân tộc.

Một phương diện khác của sự chi phối ý thức hệ thể hiện qua việc sử dụng lịch sử để xây dựng những hình mẫu đạo đức và củng cố niềm tin chính trị. Thông qua sách giáo khoa, bảo tàng, các ngày kỉ niệm, tượng đài và tên đường, những nhân vật và biến cố được lựa chọn để tôn vinh, trở thành biểu tượng của lòng yêu nước, tinh thần hi sinh và truyền thống đấu tranh dân tộc. Việc tưởng niệm người đã khuất, ghi nhận công lao và lưu truyền kí ức chiến tranh đáp ứng nhu cầu tinh thần chính đáng của xã hội. Tuy nhiên, khi các biểu tượng ấy được gán cho một giá trị gần như bất khả nghi vấn, sự tôn kính có thể trở thành trở ngại đối với việc xác minh sự thật. Một nhân vật được nhiều thế hệ ngưỡng mộ vẫn cần có lai lịch và hành trạng được chứng thực bằng sử liệu. Một chiến thắng từng được tôn vinh cũng phải được xem xét cùng những tổn thất, bất đồng và hậu quả mà cuộc chiến để lại cho con người. Trách nhiệm của nhà sử học đòi hỏi phải kiểm tra nguồn gốc tài liệu, độ tin cậy của lời chứng, hoàn cảnh hình thành các ghi chép và sự tương hợp giữa những nguồn tư liệu độc lập. Khi giá trị biểu tượng được xem là điều cần bảo vệ bằng mọi giá, việc nghi ngờ tính xác thực của một sự kiện có thể bị quy thành hành vi xúc phạm những người được tưởng niệm, thậm chí bị kết án về lập trường chính trị. Chính sự đồng nhất giữa lòng tôn kính và nghĩa vụ chấp nhận một nhận thức lịch sử đã được xác lập đã làm cho việc sửa chữa sai lầm trở nên khó khăn, ngay cả trước các bằng chứng có sức thuyết phục.

  1. Sự thật lịch sử và trách nhiệm của người chép sử

Ngay trong giới sử học Việt Nam, những bất cập của phương pháp biên soạn và sự lệ thuộc vào các quan niệm đã được thừa nhận từng trở thành đối tượng phê bình nghiêm khắc của chính những người làm nghề. Tháng 1 năm 1988, giáo sư Hà Văn Tấn công bố bài Lịch sử, sự thật và sử học trên Tạp chí Tổ quốc, đặt ra yêu cầu về tính trung thực và phẩm cách trí thức của nhà sử học trong một hoàn cảnh mà sức ép chính trị có thể ảnh hưởng đến việc xác lập sự thật. Mở đầu bài viết, ông dẫn hai câu thơ Nguyễn Trãi nhắc đến Sử Ngư, viên sử quan nước Vệ thời Xuân Thu nổi tiếng vì sự ngay thẳng, để gợi lên trách nhiệm của người cầm bút trước quyền lực và những quan niệm đang được xã hội tôn trọng. Từ vấn đề đạo đức nghề nghiệp, Hà Văn Tấn đi sâu vào các khiếm khuyết trong phương pháp sử học, đặc biệt là tình trạng sử dụng thiếu thận trọng hồi kí, lời thuật của nhân chứng và những văn bản chưa được thẩm định, khiến các giả thuyết hoặc suy đoán chủ quan được truyền bá như sự kiện đã xác minh. Ông viện dẫn trường hợp bài thơ Nam quốc sơn hà, lâu nay thường được gán cho Lý Thường Kiệt, mặc dù các nguồn sử liệu hiện biết chưa đủ chứng minh Lý Thường Kiệt là tác giả. Sử cũ ghi nhận việc quân sĩ nghe tiếng ngâm bài thơ trong cuộc kháng chiến chống Tống trên phòng tuyến sông Như Nguyệt, nhưng không xác định người sáng tác. Sự khác biệt giữa điều được sử liệu xác nhận và điều được suy luận từ sử liệu, theo Hà Văn Tấn, phải được tôn trọng tuyệt đối. Một giả thuyết, dù được nhiều thế hệ tin tưởng và truyền dạy, cũng không thể nghiễm nhiên trở thành sự thật chỉ nhờ uy tín của truyền thống. Điều đặc biệt là lời cảnh tỉnh ấy được đưa ra bởi một học giả đã dành phần lớn cuộc đời giảng dạy và nghiên cứu trong hệ thống đại học miền Bắc, giữa thời điểm Việt Nam bắt đầu công cuộc Đổi mới. Qua đó, Hà Văn Tấn cho thấy nhu cầu sửa chữa những nhận thức sai lầm đã hình thành ngay trong giới sử học chính thống, xuất phát từ ý thức rằng uy tín của một nền khoa học phải được xác lập bằng khả năng kiểm chứng và sự nghiêm cẩn của phương pháp, chứ không thể được bảo đảm bằng quyền lực của những người công nhận hoặc bảo trợ các kết luận lịch sử.

Trong cùng bài viết, Hà Văn Tấn phê bình khuynh hướng kéo dài nhiều thập niên của nền sử học Việt Nam, theo đó truyền thống chống ngoại xâm được dành sự quan tâm quá lớn, khiến lịch sử kinh tế và xã hội chưa được nghiên cứu tương xứng. Ông dẫn lời nhận xét của một sử gia Liên Xô về bộ thông sử Việt Nam, trong đó phần lớn bản đồ đều mô tả các trận đánh. Chi tiết tưởng chừng chỉ liên quan đến cách trình bày một công trình lại phản ánh sự thiên lệch trong quan niệm về đối tượng và nhiệm vụ của sử học. Chiến tranh giữ vai trò quan trọng trong tiến trình lịch sử Việt Nam, nhưng sự tồn tại và phát triển của một dân tộc qua nhiều thế kỉ được quyết định bởi cả những hoạt động kinh tế, quan hệ xã hội, tổ chức gia đình, đời sống tín ngưỡng và những thành tựu văn hóa. Ngay cả lịch sử chiến tranh cũng khó được giải thích thấu đáo nếu thiếu hiểu biết về những điều kiện vật chất, cơ cấu xã hội và đời sống của các cộng đồng đã tham gia hoặc phải gánh chịu hậu quả của chiến tranh. Hà Văn Tấn đồng thời phê phán khuynh hướng lí tưởng hóa quá khứ, đề cao quá mức một số thành tựu và sử dụng quan niệm của thời hiện tại để phán xét nhân vật thuộc các thời đại trước. Theo tinh thần lập luận của ông, lòng tự hào dân tộc chỉ có giá trị bền vững khi được xây dựng trên nhận thức trung thực về cả thành tựu, thất bại và những sai lầm trong lịch sử. Ý nghĩa của bài viết năm 1988 chính là ở sự tự phê bình xuất phát từ nội bộ một nền sử học chịu ảnh hưởng của chủ nghĩa Marx, trong đó yêu cầu tôn trọng sự thật được sử dụng để chất vấn những phương pháp và quan niệm từng được giới chuyên môn thừa nhận. Lời cảnh tỉnh của Hà Văn Tấn có giá trị không phải chỉ cho cuộc tranh luận về cách biên soạn lịch sử đương thời, bởi nó nhắc đến một trách nhiệm thường trực của người làm sử là phải nhận biết và sửa chữa cả những thiên kiến đã trở thành thói quen trong chính tư duy khoa học của mình.

Công cuộc Đổi mới do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng năm 1986 tạo điều kiện cho giới sử học Việt Nam xem xét lại nhiều quan niệm từng chi phối việc giải thích quá khứ trong suốt những thập niên trước đó. Sự gia tăng giao lưu khoa học quốc tế, khả năng tiếp cận thêm các nguồn tư liệu và việc kết hợp những phương pháp của nhân học, khảo cổ học, lịch sử xã hội và nghiên cứu văn hóa đã góp phần làm phong phú cách tiếp cận các vấn đề lịch sử. Một số nhân vật, triều đại và biến cố từng được đánh giá theo những kết luận chính trị cố định bắt đầu trở thành đối tượng của các cuộc tranh luận chuyên môn, với yêu cầu đối chiếu chứng cứ và xem xét lại những nhận định thiếu cơ sở. Dẫu vậy, quá trình đổi mới diễn ra không đồng đều, chịu ảnh hưởng của cơ chế quản lí nghiên cứu, chính sách lưu trữ và mức độ nhạy cảm chính trị của từng đề tài. Những vấn đề thuộc lịch sử cổ đại và trung đại thường có điều kiện tranh luận thuận lợi hơn các sự kiện liên quan trực tiếp đến vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản, những quyết định chính trị sau năm 1945 và các cuộc chiến tranh trong thế kỉ 20. Ngay tại những lĩnh vực đã có nhiều thay đổi về phương pháp, các quan niệm được truyền dạy qua nhiều thế hệ vẫn tiếp tục ảnh hưởng đến cách tiếp nhận những phát hiện mới của công chúng. Bởi vậy, mức độ trưởng thành của một nền sử học cần được đánh giá qua chất lượng chứng cứ, sự nghiêm cẩn trong phương pháp và khả năng tiếp nhận những kết luận khác với nhận thức đã được thừa nhận. Ý nghĩa thực sự của đổi mới khoa học nằm ở chỗ những tri thức từng được xem là xác thực vẫn phải chịu sự kiểm tra thường xuyên, và việc sửa chữa sai lầm được nhìn nhận như một biểu hiện của tiến bộ trí thức.

Giáo sư Phan Huy Lê thuộc thế hệ sử gia trưởng thành trong quá trình xây dựng nền sử học miền Bắc sau năm 1954 và trực tiếp tham gia những chuyển biến về phương pháp nghiên cứu trong các thập niên tiếp theo. Sinh năm 1934 tại Hà Tĩnh, ông tốt nghiệp ngành Sử Địa năm 1956, sau đó giảng dạy tại khoa lịch sử, Đại học Tổng hợp Hà Nội, dưới sự hướng dẫn trực tiếp của giáo sư Đào Duy Anh. Được đào tạo trong môi trường chịu ảnh hưởng của chủ nghĩa Marx, Phan Huy Lê khởi đầu sự nghiệp với các vấn đề về chế độ ruộng đất, quan hệ sở hữu, kinh tế nông nghiệp và cơ cấu xã hội thời phong kiến. Công trình Chế độ ruộng đất và kinh tế nông nghiệp thời Lê sơ, xuất bản năm 1959, thể hiện rõ sự quan tâm ấy, đồng thời cho thấy nỗ lực tìm hiểu những điều kiện vật chất và quan hệ kinh tế đã chi phối đời sống xã hội Việt Nam trong quá khứ. Từ nền tảng ban đầu, phạm vi nghiên cứu của ông ngày càng phong phú, bao gồm lịch sử chính trị, quân sự, văn hóa, tổ chức nhà nước và các cộng đồng cư dân qua nhiều thời đại. Sự phát triển ấy phản ánh quá trình trưởng thành về nhận thức của một nhà sử học đã dành hơn sáu thập niên giảng dạy và làm việc trong hệ thống khoa học do nhà nước xã hội chủ nghĩa xây dựng. Chính đặc điểm này có ý nghĩa quan trọng đối với việc tìm hiểu những tranh cãi chung quanh di sản của ông. Những đề nghị sửa chữa nhận thức lịch sử của Phan Huy Lê được hình thành từ kinh nghiệm chuyên môn, qua việc tiếp xúc với nguồn tư liệu ngày càng phong phú và nhận biết các khiếm khuyết trong những phương pháp từng được chính giới sử học thừa nhận. Sự nghiệp của ông vì vậy phản ánh một quá trình tự điều chỉnh về tri thức ngay trong môi trường đã đào tạo và trao cho ông những trách nhiệm khoa học quan trọng.

Một đóng góp có ý nghĩa đặc biệt của Phan Huy Lê là quan niệm về tính toàn bộ và đa tuyến của lịch sử Việt Nam, được trình bày trong công trình Lịch sử và văn hóa Việt Nam – Tiếp cận bộ phận. Theo ông, lịch sử Việt Nam phải bao gồm quá trình phát triển của tất cả cộng đồng dân cư từng sinh sống trên lãnh thổ quốc gia hiện nay, với những truyền thống văn hóa, thiết chế chính trị và quan hệ xã hội riêng biệt. Quan niệm ấy đòi hỏi phải xem xét lại cách biên soạn lịch sử lâu nay, vốn thường lấy sự phát triển của các nhà nước người Việt tại châu thổ sông Hồng làm trung tâm, sau đó trình bày lịch sử miền Trung và miền Nam theo tiến trình mở mang lãnh thổ về phía nam. Cách nhìn ấy không phản ánh đầy đủ sự tồn tại độc lập và những thành tựu của văn hóa Sa Huỳnh, Óc Eo, các vương quốc Chăm Pa, Phù Nam cùng những cộng đồng đã góp phần tạo nên diện mạo lịch sử và văn hóa của đất nước. Đáng chú ý hơn, việc lấy lịch sử một cộng đồng làm chuẩn mực để giải thích quá khứ của các cộng đồng khác có thể dẫn đến sự thiên lệch trong cách đánh giá những cuộc tiếp xúc, tranh chấp lãnh thổ và biến đổi dân cư qua nhiều thế kỉ. Tuy nhiên, quan niệm đa tuyến cũng đặt ra một yêu cầu nghiêm ngặt về phương pháp. Lãnh thổ Việt Nam hiện nay là kết quả của một quá trình hình thành lịch sử lâu dài, nên không thể lấy đường biên giới hiện đại để mặc nhiên quy thuộc các nền văn minh cổ đại vào cùng một quốc gia từ thời khởi thủy. Chăm Pa và Phù Nam từng phát triển trong những không gian chính trị, văn hóa và thương mại gắn bó mật thiết với thế giới Đông Nam Á, trước khi các vùng lãnh thổ tương ứng trở thành bộ phận của Việt Nam hiện đại. Tôn trọng hoàn cảnh lịch sử riêng của từng cộng đồng, kể cả những cộng đồng đã biến mất với tư cách một thực thể chính trị, là điều kiện quan trọng để tránh áp dụng quan niệm quốc gia và dân tộc ngày nay cho những thời đại mà các quan niệm ấy chưa tồn tại dưới hình thức tương tự. Giá trị của đề xuất Phan Huy Lê là việc mở rộng nhận thức về lịch sử quốc gia trên cơ sở thừa nhận sự đa dạng của các truyền thống đã cùng góp phần vào di sản Việt Nam.

Một trường hợp tiêu biểu khác cho sự thay đổi phương pháp đánh giá lịch sử là việc Phan Huy Lê tham gia thúc đẩy nhận thức mới về các chúa Nguyễn và triều Nguyễn, đặc biệt tại hội thảo quốc gia tổ chức ở Thanh Hóa tháng 10 năm 2008. Trong bản tổng kết hội thảo, ông thừa nhận những nhận định trước đây về triều Nguyễn đã chịu ảnh hưởng nặng nề của hoàn cảnh chính trị, khiến việc phê phán các chúa Nguyễn và vương triều Nguyễn có lúc dẫn đến phủ nhận gần như toàn bộ thành tựu của một thời kì lịch sử kéo dài nhiều thế kỉ. Theo ông, cần phân biệt vai trò của các chúa Nguyễn trong quá trình mở mang lãnh thổ, những thành tựu của phong trào Tây Sơn trong việc xóa bỏ tình trạng phân chia Đàng Trong và Đàng Ngoài, cùng sự nghiệp thống nhất quyền lực và xây dựng nhà nước của Nguyễn Ánh sau năm 1802. Cách đánh giá ấy cũng đòi hỏi phải nhận diện những sai lầm và hậu quả trong các quyết định của từng nhân vật. Việc Nguyễn Ánh cầu viện quân Xiêm, dẫn đến cuộc can thiệp quân sự bị Tây Sơn đánh bại tại Rạch Gầm – Xoài Mút năm 1785, là một sự kiện phải được xem xét nghiêm khắc. Trong khi đó, vai trò của giám mục Bá Đa Lộc (Pigneau de Béhaine), Hiệp ước Versailles năm 1787 và sự giúp đỡ của một số người Pháp dành cho Nguyễn Ánh cần được phân tích theo tình hình thực tế, phân biệt những cam kết ngoại giao với mức độ can dự quân sự đã xảy ra. Đối với triều Nguyễn trong thế kỉ 19, những thành tựu về cải cách hành chính, thiết lập hệ thống quản lí quốc gia, xây dựng pháp luật và phát triển di sản văn hóa phải được ghi nhận cùng trách nhiệm của triều đình trong việc không thực hiện được những cải cách cần thiết và để đất nước mất chủ quyền trước cuộc xâm lược của thực dân Pháp. Phan Huy Lê không đề nghị miễn trừ trách nhiệm lịch sử cho triều Nguyễn mà yêu cầu xác định trách nhiệm ấy trong mối quan hệ với hoàn cảnh, khả năng và những quyết định thực tế của từng thời kì. Điều có ý nghĩa về phương pháp luận trong đề xuất của ông là việc đánh giá một nhân vật hay triều đại phải xuất phát từ toàn bộ chứng cứ liên quan, thay vì sử dụng một kết luận chính trị có sẵn để quyết định giá trị của mọi hành động trong quá khứ. Một nhân vật lịch sử có thể để lại những thành tựu, và đồng thời phải chịu trách nhiệm về những sai lầm nghiêm trọng. Chính năng lực nhận biết sự phức tạp ấy phân biệt một công trình sử học với việc sử dụng lịch sử như phương tiện để tôn vinh hoặc kết án con người.

  1. Biểu tượng, danh xưng và tính trung thực của sử học

Trường hợp Lê Văn Tám là một trong những cuộc tranh luận tiêu biểu về quan hệ giữa việc xây dựng biểu tượng yêu nước và trách nhiệm xác minh các sự kiện lịch sử. Trong bài Trả lại sự thật hình tượng Lê Văn Tám, công bố trên Tạp chí Xưa và Nay tháng 10 năm 2009, Phan Huy Lê thuật lại những cuộc trao đổi với giáo sư Trần Huy Liệu vào đầu thập niên 1960. Theo lời thuật ấy, Trần Huy Liệu thừa nhận đã xây dựng câu chuyện về thiếu niên Lê Văn Tám tự tẩm xăng, biến mình thành ngọn đuốc sống để đốt kho xăng của quân Pháp tại Thị Nghè, Sài Gòn, năm 1945. Trong hoàn cảnh Nam Bộ vừa bước vào cuộc kháng chiến, Trần Huy Liệu, khi ấy giữ chức Bộ trưởng Thông tin Tuyên truyền trong Chính phủ lâm thời, muốn tạo dựng hình tượng một thiếu niên anh hùng nhằm cổ vũ tinh thần chiến đấu, lấy cảm hứng từ truyền thuyết Thánh Gióng và đặt tên nhân vật theo ý nghĩa tượng trưng cho Cách mạng Tháng Tám. Ông cũng căn dặn Phan Huy Lê và các đồng nghiệp cần công bố nguồn gốc câu chuyện vào một thời điểm thích hợp để tránh những ngộ nhận về sau. Từ lời chứng ấy, Phan Huy Lê tiếp tục tìm hiểu vụ cháy kho xăng hoặc kho đạn gần Thị Nghè, đồng thời trao đổi với giáo sư Trần Văn Giàu, người từng lãnh đạo cuộc kháng chiến tại Nam Bộ. Trần Văn Giàu xác nhận có vụ đốt kho của đối phương, nhưng không biết ai tổ chức và trực tiếp thực hiện. Đáng chú ý, những bản tin từ tháng 10 và tháng 11 năm 1945 trên các báo Quyết Chiến, Thời Mới và Cờ Giải Phóng mà Phan Huy Lê tìm được đã ghi nhận nhiều tình tiết khác nhau về địa điểm, thời gian và người tham gia hành động. Một số bản tin kể về người chiến sĩ tẩm xăng, nhưng không xác định danh tính Lê Văn Tám. Những khác biệt trong các nguồn tài liệu ấy khiến việc xác minh diễn biến thực tế trở nên phức tạp, đồng thời cho thấy cần phân biệt sự kiện đã xảy ra với câu chuyện được xây dựng và phổ biến trong hoàn cảnh chiến tranh.

Ý nghĩa của vấn đề nằm ở cách xác định giá trị chứng cứ và thái độ đối với những biểu tượng đã ăn sâu vào kí ức nhiều thế hệ. Lời thuật của Phan Huy Lê về cuộc trò chuyện với Trần Huy Liệu, dù xuất phát từ một nhân chứng có uy tín, vẫn thuộc loại chứng ngôn hồi cố, cần được đối chiếu với những nguồn độc lập. Các bản tin năm 1945 có giá trị vì được hình thành gần thời điểm xảy ra biến cố, nhưng những chi tiết thiếu nhất quán giữa chúng cũng đòi hỏi sự thẩm định thận trọng. Từ những tài liệu hiện được dẫn ra, có cơ sở để nghi ngờ tính xác thực của câu chuyện Lê Văn Tám như đã được truyền dạy, nhưng chưa đủ để tái dựng toàn bộ sự kiện hoặc xác định chắc chắn danh tính người thực hiện vụ đốt kho. Chính Phan Huy Lê cũng không chủ trương xóa bỏ việc tưởng niệm Lê Văn Tám. Ông đề nghị tiếp tục giữ tên các trường học, công viên và đường phố, với điều kiện giải thích trung thực về nguồn gốc và ý nghĩa của biểu tượng. Quan điểm ấy gợi nhắc vấn đề đạo đức của người làm nghề viết sử. Những phẩm chất được xã hội tôn vinh, như lòng dũng cảm, tinh thần hi sinh và ý thức bảo vệ đất nước, có thể được thể hiện qua một hình tượng văn hóa, nhưng việc giới thiệu hình tượng ấy như nhân vật có thật phải chịu trách nhiệm trước chứng cứ. Giá trị tinh thần của câu chuyện không tự xác nhận tính xác thực của những tình tiết tạo nên câu chuyện đó. Một nền giáo dục tôn trọng sự thật phải giúp người học nhận thức được sự khác biệt giữa nhân vật lịch sử, truyền thuyết và biểu tượng tưởng niệm, kể cả đối với những câu chuyện từng được xem là thiêng liêng. Sự trưởng thành trong nhận thức lịch sử đòi hỏi khả năng phân biệt giá trị tinh thần của một niềm tin với tính xác thực của những sự kiện làm nên niềm tin ấy, bởi thiện ý không thể thay thế chứng cứ và sự tôn kính không đủ để xác lập sự thật.

Một cuộc tranh luận khác, liên quan đến cách gọi Việt Nam Cộng hòa, cho thấy ngôn ngữ sử học có thể lưu giữ những định kiến được hình thành trong thời kì đối đầu chính trị. Các danh xưng “ngụy quân”, “ngụy quyền” từng được sử dụng phổ biến trong hệ thống tuyên truyền và nhiều công trình lịch sử tại miền Bắc cộng sản, phản ánh quan điểm phủ nhận tính chính danh của chính quyền miền Nam trong chiến tranh. Sau năm 1975, cách gọi ấy tiếp tục xuất hiện trong sách giáo khoa, báo chí và các văn bản chính thức, góp phần duy trì lối phân loại lực lượng chính trị theo quan điểm của bên chiến thắng. Về phương pháp, cần phân biệt ngôn ngữ được các bên tham chiến sử dụng để đánh giá đối phương với thuật ngữ mà người viết sử lựa chọn để mô tả một thực thể đã tồn tại. Việt Nam Cộng hòa là quốc hiệu chính thức của một chế độ được thành lập năm 1955 và chấm dứt ngày 30 tháng 4 năm 1975, với hệ thống hành chính, pháp luật, quân đội, các thiết chế xã hội và quan hệ ngoại giao riêng. Sử dụng danh xưng ấy là sự xác nhận một sự kiện thuộc lịch sử chính trị. Những tranh luận về tính chính đáng, chủ quyền, mức độ lệ thuộc vào Hoa Kì và trách nhiệm của các nhà lãnh đạo Việt Nam Cộng hòa phải được giải quyết bằng việc phân tích những quyết định và hành động trong từng hoàn cảnh lịch sử. Nếu ngay trong thuật ngữ mô tả đã chứa sẵn lời kết án, người viết sử đang biến quan điểm chính trị thành tiền đề chi phối toàn bộ quá trình lập luận. Sử dụng đúng quốc hiệu của một chính thể là yêu cầu của sự chính xác trong sử học. Tính chính đáng, những quyết định chính trị và trách nhiệm lịch sử của chính thể ấy phải được xem xét trên cơ sở chứng cứ, sử gia không thể tùy tiện phán quyết một cách tùy tiện thông qua lựa chọn danh xưng.

Trong bối cảnh ấy, cần làm rõ sự nhầm lẫn giữa hai bộ Lịch sử Việt Nam thường xuất hiện trong các cuộc công kích Phan Huy Lê. Bộ thông sử gồm 15 tập, do Viện Sử học thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam biên soạn, với phó giáo sư Trần Đức Cường làm tổng chủ biên, được công bố trọn bộ năm 2014 và tái bản có bổ sung, sửa chữa năm 2017. Chính lần tái bản này đã gây tranh luận công khai về việc sử dụng các danh xưng chính thức của Việt Nam Cộng hòa, cũng như những nhận định mới đối với nhà Hồ, nhà Mạc và triều Nguyễn. Trong cuộc phỏng vấn do Đài Tiếng nói Việt Nam thực hiện ngày 30 tháng 8 năm 2017, phó giáo sư Nguyễn Đức Nhuệ, khi ấy là Phó Viện trưởng Viện Sử học, giải thích rằng các thuật ngữ “ngụy quân”, “ngụy quyền” không phản ánh chính xác một chế độ chính trị từng tồn tại và được nhiều quốc gia công nhận. Ông cho biết việc thay đổi cách gọi nhằm bảo đảm tính khách quan, khoa học trong biên soạn lịch sử. Bộ quốc sử 30 tập do giáo sư Phan Huy Lê đảm nhiệm vai trò tổng chủ biên trước khi qua đời năm 2018 thuộc một đề án khác, có quy mô, tổ chức và quá trình thực hiện độc lập với bộ sách của Viện Sử học. Quy trách nhiệm cho Phan Huy Lê về toàn bộ những quyết định biên soạn của công trình 15 tập là sự nhầm lẫn về tác giả và trách nhiệm chuyên môn. Đối với bộ quốc sử 30 tập, việc phê bình nội dung cũng phải căn cứ vào văn bản được công bố, thay vì suy đoán từ những quan điểm từng gây tranh cãi của người tổng chủ biên. Đáng nói là một cuộc tranh luận nhân danh bảo vệ lịch sử lại có thể bắt đầu bằng sự thiếu chính xác về chính đối tượng bị phê phán. Nếu người kết tội không phân biệt được các công trình, tác giả và nguồn tư liệu liên quan, lời cáo buộc hoàn toàn không có cơ sở để được xem là một ý kiến phản biện nghiêm túc.

  1. “Lật sử” và sự kết tội tư tưởng

Những lời công kích Phan Huy Lê đầu tháng 10 năm 2026 là diễn biến mới nhất của một cuộc tranh chấp tư tưởng đã xuất hiện công khai từ nhiều năm trước, trong đó danh xưng “lật sử” được sử dụng để quy kết những nhà nghiên cứu chủ trương sửa chữa các nhận định lịch sử từng được thừa nhận. Như phần trên tôi đã nêu, ngay từ tháng 8 năm 2017, khi dư luận tranh luận về bộ Lịch sử Việt Nam 15 tập của Viện Sử học, một số trang mạng đã công kích Phan Huy Lê bằng những lời lẽ nặng nề, gắn các đề xuất chuyên môn của ông với nghi vấn về lòng trung thành chính trị. Đến tháng 10 năm 2026, thông tin bộ quốc sử 30 tập chuẩn bị được xuất bản tiếp tục khơi lên những cáo buộc tương tự. Tài khoản Facebook Én Bạc đăng video ngày 1 tháng 10 chỉ trích Phan Huy Lê xuyên tạc lịch sử, đặc biệt nhấn mạnh quan hệ gia đình giữa ông với bác sĩ Phan Huy Quát, cựu Thủ tướng Việt Nam Cộng hòa năm 1965. Ngày 5 tháng 10, tài khoản Phan Thuong gọi ông là “ông tổ của ngành lật sử”, cáo buộc ông tìm cách phục hồi danh dự cho người anh bằng việc đào tạo các học trò sửa đổi những nhận định về Việt Nam Cộng hòa, Lê Văn Tám, và triều Nguyễn. Một số người khác thậm chí kêu gọi tiêu hủy công trình chưa được công bố. Các phát biểu ấy cho thấy khuynh hướng chuyển những bất đồng về tư liệu và phương pháp thành lời kết tội con người. Dù chưa phải là quan điểm chính thức của nhà nước, nhãn hiệu “lật sử” đã bị sử dụng tùy tiện để biến những bất đồng về sử liệu và phương pháp thành lời kết tội chính trị, lấy sự trung thành với những nhận định đã được thừa nhận làm thước đo phẩm chất và uy tín của người viết sử.

Bản thân từ “lật sử” cho thấy cách những người sử dụng nó quan niệm về sự thật lịch sử. Đây là một lối nói có tính chất kết án trong ngôn ngữ tranh luận chính trị, thiếu nội hàm xác định về phương pháp luận sử học. Động từ “lật” gợi hành vi phá bỏ hoặc đảo ngược một điều đã được công nhận, khiến việc sửa chữa kiến thức dễ bị đồng nhất với chủ ý xuyên tạc. Cách sử dụng ấy ngầm giả định rằng những kết luận đang được phổ biến đã có giá trị chung quyết và mọi kiến giải khác đều cần được xem xét trước hết về động cơ. Chính giả định này làm thay đổi tính chất của cuộc tranh luận. Người bị cáo buộc phải chứng minh lòng trung thành của mình trước khi có cơ hội trình bày chứng cứ, trong khi người kết tội có thể viện dẫn những quan niệm chính trị được thừa nhận để khẳng định tính đúng đắn của lời buộc tội. Đáng chú ý hơn, một số người sử dụng danh xưng “chống lật sử” như biểu hiện của trách nhiệm bảo vệ lịch sử dân tộc, họ tự trao cho mình thẩm quyền phán xét những công trình chuyên môn. Thái độ bảo vệ một nhận thức đã có, xét về mặt tâm lí, có thể xuất phát từ niềm tin chân thành. Nhưng niềm tin ấy không giải quyết được câu hỏi liệu nhận thức được bảo vệ có phù hợp với chứng cứ hay chưa. Trong lịch sử phát triển của các ngành khoa học, việc sửa chữa kết luận từng được chấp nhận là hoạt động thường xuyên, bởi nhận thức của con người luôn chịu ảnh hưởng của nguồn tài liệu và phương pháp sẵn có ở từng thời kì. Sử học đòi hỏi sự nghiêm cẩn đặc biệt vì đối tượng của nó thuộc về quá khứ, chỉ có thể được tái dựng thông qua dấu tích và những lời chứng không phải lúc nào cũng thống nhất. Một phản bác có giá trị phải xác định được sai sót trong việc sử dụng tài liệu, lập luận hoặc giải thích sự kiện. Việc gán nhãn “lật sử” không cung cấp bằng chứng cho bất cứ sai sót nào trong số ấy.

Trường hợp Phan Huy Lê cho thấy một phương thức kết tội đáng quan tâm khác, sử dụng nguồn gốc gia đình để suy diễn động cơ trí thức. Bác sĩ Phan Huy Quát, người từng giữ chức thủ tướng Việt Nam Cộng hòa từ tháng 2 đến tháng 6 năm 1965, là anh cùng cha khác mẹ của Phan Huy Lê. Hai người trưởng thành trong những hoàn cảnh lịch sử khác nhau và lựa chọn các con đường chính trị, nghề nghiệp riêng biệt. Trong khi Phan Huy Quát hoạt động chính trị tại miền Nam, Phan Huy Lê dành phần lớn cuộc đời giảng dạy, nghiên cứu và tham gia tổ chức ngành sử học tại miền Bắc, sau đó tiếp tục đảm nhiệm những trách nhiệm khoa học quan trọng dưới chế độ hiện hành. Quan hệ huyết thống giữa họ là một sự kiện có thể xác minh, nhưng việc sử dụng sự kiện ấy để cáo buộc Phan Huy Lê âm thầm phục hồi danh dự cho người anh đòi hỏi những chứng cứ mà các lời công kích được dẫn không cung cấp được. Từ một dữ kiện thuộc tiểu sử, người kết tội suy ra một động cơ chính trị, tiếp đó sử dụng động cơ giả định để giải thích toàn bộ hoạt động chuyên môn của đối tượng. Đây là kiểu suy luận vòng tròn, trong đó kết luận về sự thiếu trung thực đã được chấp nhận trước khi hành vi bị cáo buộc được chứng minh. Đằng sau phương thức ấy là dấu vết của một quan niệm từng ảnh hưởng mạnh mẽ đến đời sống chính trị và trí thức tại các nước cộng sản, theo đó lí lịch gia đình, thành phần giai cấp và quan hệ thân thuộc có thể được sử dụng để xác định mức độ đáng tin cậy của một con người. Khi được áp dụng vào đời sống khoa học, quan niệm này khiến giá trị của một công trình có nguy cơ bị đánh giá qua xuất thân của tác giả. Một sử gia phải chịu trách nhiệm về những gì mình công bố, kể cả những sai lầm hoặc hành vi thiếu trung thực nếu được chứng minh. Trách nhiệm ấy thuộc về hoạt động khoa học của chính người đó và phải được xác lập bằng tài liệu, bằng chứng cùng những tiêu chuẩn chuyên môn có thể áp dụng bình đẳng cho tất cả mọi người.

Chính lối truy cứu lí lịch và quy kết tư tưởng ấy khiến người ta liên tưởng đến những phương thức đấu tố trí thức trong Cách mạng Văn hóa tại Trung Quốc từ năm 1966 đến năm 1976. Hồng vệ binh từng sử dụng xuất thân giai cấp, quan hệ gia đình và những lời cáo buộc phản cách mạng để công kích giáo viên, học giả, viên chức cùng nhiều thành phần xã hội khác. Trong môi trường chính trị cực đoan thời ấy, uy tín chuyên môn không bảo vệ được người trí thức trước các chiến dịch phê phán công khai; ngược lại, kiến thức và thành tựu của họ trở thành đối tượng bị nghi ngờ vì được xem là sản phẩm của tư tưởng tư sản hoặc những ảnh hưởng cần thanh trừng. Sự liên tưởng giữa hiện tượng “chống lật sử” hiện nay và kinh nghiệm hồng vệ binh có cơ sở ở phương thức kết tội, đặc biệt là việc dùng tiêu chuẩn chính trị để phán xét tri thức, huy động áp lực dư luận và truy tìm những dấu hiệu bị xem là bất trung trong tiểu sử cá nhân. Dẫu vậy, hai hiện tượng thuộc những hoàn cảnh hoàn toàn khác nhau. Cách mạng Văn hóa là một phong trào chính trị do Mao Trạch Đông phát động, với sự tham gia của các tổ chức quần chúng, các cuộc thanh trừng và tình trạng bạo lực trên quy mô lớn. Những vụ công kích Phan Huy Lê trên mạng xã hội chưa thể được xem là tương đương về tổ chức, mức độ cưỡng chế hoặc hậu quả. Điều có thể phân tích là sự tồn tại của một phương thức tư duy mang dấu ấn đấu tranh ý thức hệ, trong đó người bất đồng bị xem như đối tượng cần vạch mặt và loại trừ về tư tưởng. Cách ứng xử ấy đặc biệt bất lợi cho sinh hoạt trí thức vì nó tạo ra tâm lí e ngại trước những vấn đề có thể gây tranh cãi, khuyến khích sự tuân thủ các nhận định sẵn có, và làm suy yếu khả năng tranh luận độc lập.

Để hiểu sức hấp dẫn của những lời kêu gọi “chống lật sử”, cũng cần xem xét quan hệ giữa kí ức tập thể, tình cảm chính trị và những kiến thức được truyền dạy trong xã hội. Trong công trình Les Lieux de mémoire, sử gia Pháp Pierre Nora phân tích cách các cộng đồng duy trì kí ức qua biểu tượng, nghi lễ, địa danh và những hình thức tưởng niệm. Kí ức được hình thành từ kinh nghiệm sống, chịu ảnh hưởng của tình cảm và những nhu cầu tinh thần thuộc thời hiện tại. Trong La mémoire, l’histoire, l’oubli, triết gia Paul Ricœur tiếp tục tìm hiểu trách nhiệm đạo đức đối với quá khứ, những khả năng lạm dụng kí ức và quan hệ giữa việc ghi nhớ với yêu cầu xác minh sự thật. Những gợi ý ấy có thể giúp giải thích tại sao một nhận định mới về lịch sử, dù được trình bày bằng chứng cứ, vẫn có khả năng gây phản ứng dữ dội. Đối với những người trưởng thành qua chiến tranh hoặc được giáo dục trong môi trường đề cao một hệ thống biểu tượng chính trị nhất quán, lịch sử dân tộc thường gắn chặt với kí ức gia đình, lòng yêu nước và những hi sinh được xem là thiêng liêng. Các nhân vật anh hùng và biến cố được tưởng niệm trở thành một phần trong cách họ hiểu về cộng đồng và chính bản thân mình. Việc thay đổi một nhận định từng được tin tưởng có thể gây cảm giác bất an, đặc biệt nếu người tiếp nhận cho rằng sự sửa chữa ấy đồng nghĩa với phủ nhận những giá trị đạo đức đã gắn bó với họ suốt nhiều năm. Cảm giác ấy là một hiện tượng tâm lí và xã hội đáng được thấu hiểu. Tuy nhiên, trong trường hợp những biểu tượng được sử dụng để củng cố tính chính đáng của quyền lực chính trị, phản ứng bảo vệ kí ức chuyển thành yêu cầu kiểm soát cách người khác giải thích quá khứ. Ở đây, tình cảm tập thể có khả năng bị huy động thành phương tiện gây áp lực đối với hoạt động nghiên cứu. Người ta bắt đầu xác định lòng yêu nước bằng mức độ chấp nhận những kết luận được truyền dạy, và xem sự nghi ngờ khoa học như biểu hiện của thái độ thù địch. Lịch sử trở thành đối tượng của sự trung thành, thay vì một lĩnh vực tri thức luôn cần được bổ sung và sửa chữa.

Trách nhiệm của các cơ quan giáo dục và những thiết chế có quyền quyết định nội dung lịch sử được giảng dạy cần được xem xét trong hoàn cảnh ấy. Một xã hội có thể trải qua nhiều thế hệ được giáo dục bằng những kết luận tương đối thống nhất về các cuộc chiến tranh, nhân vật anh hùng và tính chính đáng của những lực lượng chính trị. Sự thống nhất ấy có khả năng củng cố ý thức cộng đồng, nhưng cũng khiến người tiếp nhận thiếu kinh nghiệm phân biệt kiến thức đã được kiểm chứng với cách giải thích chịu ảnh hưởng của hoàn cảnh chính trị. Khi một sử gia đề nghị sửa chữa những nhận định quen thuộc, phản ứng tiêu cực của công chúng phần nào phản ánh những thói quen tiếp nhận đã được hình thành từ hệ thống giáo dục. Vì vậy, đổi mới sử học không thể chỉ giới hạn trong hoạt động biên soạn những công trình mới. Việc giảng dạy cần giúp người học nhận biết nguồn gốc tư liệu, phân biệt chứng cứ với giả thuyết, hiểu rằng cùng một biến cố có thể được những người đương thời ghi nhận từ các kinh nghiệm khác nhau và học cách đánh giá độ tin cậy của từng nguồn. Sự trưởng thành của nhận thức lịch sử đòi hỏi khả năng tiếp nhận những sự thật gây bất an, kể cả các thất bại và sai lầm của những nhân vật được xã hội tôn kính.

  1. Sử học và trách nhiệm trước hậu thế

Một vấn đề đáng suy nghĩ trong lịch sử tư tưởng Việt Nam sau năm 1945 là cách chủ nghĩa Marx được tiếp nhận và sử dụng trong hoạt động nghiên cứu. Với học thuyết duy vật lịch sử, Marx đã đem đến những phương pháp phân tích về quan hệ sản xuất, mâu thuẫn giai cấp và sự biến đổi của các hình thái xã hội, góp phần thúc đẩy sự phát triển của nhiều trường phái sử học hiện đại. Tuy nhiên, việc nhà nước Việt Nam cộng sản xác lập chủ nghĩa Marx-Lenin là nền tảng tư tưởng chính thức đã tạo ra những điều kiện thuận lợi cho sự thao túng của tính giáo điều, đặc biệt trong các lĩnh vực trực tiếp liên quan đến lịch sử chính trị và tính chính danh của chế độ. Điều đáng lưu ý là một học thuyết xem sự vận động và mâu thuẫn như những động lực của lịch sử, qua quá trình thể chế hóa, lại có thể được sử dụng để duy trì những kết luận bất biến về quá khứ. Tính giáo điều bắt đầu từ lúc một phương pháp giải thích được trao địa vị chân lí, khiến mọi phát hiện khác biệt phải chứng minh sự phù hợp với những nguyên tắc đã được quyền lực chính trị thừa nhận. Chính sự chuyển hóa ấy giải thích phần nào tình trạng một số người được giáo dục bằng tư tưởng Marxist lại phản ứng gay gắt trước việc sửa chữa các nhận định lịch sử, ngay cả khi sự sửa chữa xuất phát từ những người cùng trưởng thành trong truyền thống trí thức ấy. Họ tiếp nhận kết luận của các thế hệ đi trước như một di sản cần bảo vệ, và sự xác tín về chính trị đã trở thành tiêu chuẩn phán xét những thành quả mới của khoa học.

Trường hợp Phan Huy Lê đặt ra câu hỏi về trách nhiệm của chính những thiết chế đã đào tạo, sử dụng và tôn vinh các nhà sử học Việt Nam trong hơn bảy thập niên qua. Bộ quốc sử 30 tập do ông làm tổng chủ biên là một công trình được thực hiện theo chủ trương của nhà nước, huy động nhiều thế hệ chuyên gia và đã trải qua quá trình nghiệm thu chính thức. Thế nhưng, sau nhiều năm chờ xuất bản, công trình lại trở thành đối tượng của những lời kết tội trong lúc giới chuyên môn và công chúng chưa được tiếp cận toàn văn. Sự chậm trễ trong việc công bố đã tạo điều kiện cho những suy đoán về nội dung tác phẩm phát triển thành các cáo buộc chính trị. Tình trạng ấy cho thấy một bất cập trong quan hệ giữa quản lí nhà nước và trách nhiệm công bố tri thức. Việc nghiệm thu thuộc thẩm quyền của những hội đồng được giao đánh giá chất lượng bản thảo, trong khi sự tiếp nhận và phê bình sau xuất bản quyết định triển vọng đóng góp của công trình đối với đời sống khoa học. Một nền sử học được đầu tư bằng nguồn lực quốc gia cần có các thiết chế đủ năng lực bảo vệ sự độc lập chuyên môn, khuyến khích tranh luận và chịu trách nhiệm công khai về những quyết định ảnh hưởng đến việc phổ biến tri thức. Uy tín của các cơ quan ấy sẽ được xác lập qua cách họ ứng xử với những công trình gây bất đồng, đặc biệt khi sự bất đồng liên quan đến những nhận định có ảnh hưởng trực tiếp đối với lịch sử chính trị của đất nước.

Nhìn từ kinh nghiệm lịch sử của chính Việt Nam, sự chi phối của quyền lực đối với việc biên soạn quốc sử cuối cùng cũng trở thành một phần quá khứ mà các thế hệ sau sẽ nghiên cứu và đánh giá. Những quyết định về việc công bố tài liệu, lựa chọn nội dung giảng dạy, tôn vinh nhân vật và kiểm soát tranh luận đều để lại dấu vết về quan niệm chính trị của từng thời đại. Chính những người đang nhân danh lịch sử để kết tội Phan Huy Lê cũng sẽ được hậu thế tìm hiểu như một hiện tượng của đời sống tư tưởng Việt Nam đầu thế kỉ 21. Các nhà nghiên cứu tương lai sẽ có cơ hội xem xét tại sao những vấn đề từng được giới sử học tranh luận từ nhiều thập niên trước vẫn có thể gây nên những phản ứng gay gắt, cùng vai trò của giáo dục và các thiết chế chính trị trong việc duy trì những quan niệm ấy. Phan Huy Lê, như mọi sử gia, thuộc về thời đại của mình và phải chịu sự đánh giá của hậu thế bằng chính những tiêu chuẩn khoa học mà ông từng đề cao. Các công trình của ông sẽ tiếp tục được bổ sung, phê bình và sửa chữa theo sự phát triển của tri thức. Còn đối với những người có thẩm quyền quyết định điều gì được công bố và truyền đạt về quá khứ, trách nhiệm ấy mang ý nghĩa đặc biệt. Họ đang tham gia viết nên lịch sử của chính thời đại mình bằng cách ứng xử với sự thật của những thời đại đã qua. Và hậu thế sẽ có đầy đủ lí do để phán xét sự ứng xử ấy.

Tham khảo

  1. Phan Huy Lê. Lịch sử và văn hóa Việt Nam – Tiếp cận bộ phận. Nhà xuất bản Giáo dục, 2007. Lời tựa tác giả được Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội công bố lại năm 2017.
  2. Phan Huy Lê. Về câu chuyện Lê Văn Tám. Tạp chí Xưa và Nay, tháng 10-2009.
  3. Hà Văn Tấn. Lịch sử, sự thật và sử học. Tạp chí Tổ quốc, tháng 1-1988. In lại trong Một số vấn đề lý luận sử học, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội, 2007.
  4. Patricia M. Pelley. Postcolonial Vietnam: New Histories of the National Past. Duke University Press, 2002.
  5. Patricia M. Pelley. Vietnamese Historical Writing. Trong The Oxford History of Historical Writing, tập 5, do Axel Schneider và Daniel Woolf chủ biên. Oxford University Press, 2011, trang 559-574.
  6. Marc Bloch. Apologie pour l’histoire ou Métier d’historien. Armand Colin, 1949.
  7. Pierre Nora, chủ biên. Les Lieux de mémoire. Gallimard, 1984-1992.
  8. Paul Ricœur. La mémoire, l’histoire, l’oubli. Éditions du Seuil, 2000.
  9. Nguyễn Quang Ngọc. Giáo sư Phan Huy Lê, chuyên gia hàng đầu về lịch sử Việt Nam. Tư liệu giới thiệu tại Bảo tàng Lịch sử Quốc gia, 2018.
  10. Báo Nhân Dân. 55 năm Ban Văn Sử Địa và Tập san Văn Sử Địa. Ngày 3-12-2008.
  11. Đài Tiếng nói Việt Nam. Đại diện Viện Sử học giải thích cách gọi ngụy quân, ngụy quyền. Ngày 30-8-2017.
  12. VnExpress. Bộ Quốc sử 27.000 trang sắp được xuất bản. Ngày 30-9-2026.
This entry was posted in Nghiên cứu Phê bình and tagged . Bookmark the permalink.