(Viết về hội họa Nguyễn Thanh Bình nhân triển lãm cá nhân tại La Haye, 2026.)
Phạm Thị Điệp Giang

Nguyễn Thanh Bình, 11/10/2026 tại La Haye, 2026. Photo: Hanh Do, Điệp Giang crop lại.
1.
Tôi được anh Bình chia sẻ về triển lãm cá nhân lần này tại La Haye (The Hague, Hà Lan) từ những ngày đầu chuẩn bị. Với tôi, đó là một điều đặc biệt, bởi La Haye là nơi tôi đã từng theo học chương trình Thạc sĩ Quản trị Truyền thông Quốc tế bằng học bổng của Chính phủ Hà Lan, khi còn ở độ tuổi đôi mươi. Chính tại nơi đó, niềm đam mê hội họa và nghệ thuật của tôi đã được nhen nhóm. Và khi kết thúc chương trình học, tôi đã ứng tuyển học bổng thạc sĩ Hoàng gia ngành Nhiếp ảnh tại Đại học Leiden, với sự khuyến khích của anh Bình: “Nếu Z đỗ, N sẽ hỗ trợ đi học!”
Tôi đã vào đến vòng cuối cùng, vòng thứ năm, phỏng vấn trực tiếp với Hội đồng tuyển chọn, trước khi thất bại vì một lý do khá thú vị: năm đó tôi đã 29 tuổi. Các vị trong Hội đồng nói rằng sau tuổi 30, một người sẽ rất khó phát triển sự nghiệp nghệ thuật, nên họ quyết định dành cơ hội cho những người trẻ hơn.
Tôi không biết những vị giám khảo ấy bây giờ có còn giữ quan điểm đó không. Chỉ biết rằng, gần hai thập kỷ sau, ở tuổi ngoài 70, anh Bình vẫn tiếp tục vẽ, tiếp tục thử nghiệm những điều mới trong hội họa, và lại có một triển lãm cá nhân ở chính nơi mà tôi đã từng bắt đầu nghĩ đến việc theo đuổi nghệ thuật một cách nghiêm túc.
2.
Triển lãm lần này của anh Bình tại Vietnam Art House, La Haye, là một triển lãm cá nhân ở nước ngoài sau một thời gian dài. Tuy chưa thực sự vẽ nên hết chân dung sự nghiệp của anh, nhưng có thể nói, nó đã điểm danh được những dấu ấn quan trọng trong khoảng bốn thập kỷ sáng tác.
Từ những thiếu nữ áo dài làm nên tên tuổi anh vào đầu những năm 1990, tới các đề tài đã gần như trở thành “huyền thoại” của Nguyễn Thanh Bình như múa ba lê, trẻ em, mẹ con, chơi nhạc cổ điển; rồi những phong cảnh sáng tác khoảng một thập kỷ trở lại đây, và đặc biệt, gần nhất là loạt tranh trừu tượng mới hoàn toàn lấy cảm hứng từ những chi tiết Phật giáo.
Những người bạn của tôi ở La Haye đến thăm triển lãm. Khi trở về, họ đều nói với tôi rằng họ cảm thấy “hạnh phúc” và nhẹ nhõm khi chiêm ngắm những tác phẩm ấy. Họ không lý giải được cảm giác đó đến từ đâu. Từ màu sắc, bố cục, đề tài, hay một điều gì khác? Họ không biết. Chỉ có cảm giác nhẹ nhõm, thư thái, dễ chịu là thứ đã theo họ ra khỏi phòng triển lãm.
3.
Còn tôi thì hiểu.
Cảm giác ấy, với tôi, chính là thứ cảm giác của người vẽ, trạng thái của người vẽ, thứ mà người vẽ luôn có, luôn chứa đựng và mang tới tấm toan.
Một thứ tâm trong vắt, không vướng bận, dù thực tế cuộc sống có thể chẳng nhẹ nhàng, thoải mái gì cho cam.
Thứ thực tế mà mỗi ngày anh vẫn “tự sự” trên Facebook, nhưng chẳng mấy ai tin: nợ tiền nhà, chán nản không muốn vẽ, vẽ vì tiền chứ chẳng vì cảm hứng gì, vẽ vì bị thúc bách bởi những món nợ cần trả, những khoản chi tiêu thường nhật…
Người ta có thể nghĩ anh đùa. Nhưng tôi biết rất rõ, anh hài hước nhưng không đùa.
Có điều, những thứ ấy dường như không bước vào tranh anh theo cách người ta vẫn thường hình dung: những khó khăn phải được diễn tả bằng sự khốn khổ, những bất hạnh phải được chuyển thành những hình ảnh đau đớn, và những trải nghiệm bi kịch phải để lại dấu vết của bi kịch.
Anh vẫn vẽ những thiếu nữ áo dài, những người mẹ và đứa trẻ, những vũ công, những người chơi đàn, những bình hoa, những khoảng không gian vắng lặng… Đúng hơn là, chừng nào “người ta” còn mong muốn trong nhà có một tranh anh Bình như thế, thì anh còn vẽ như vậy.
Và người xem, giữa bộn bề cuộc sống, vẫn thấy bình yên.
4.
Hai thập kỷ là bạn của anh Bình, vừa là người sưu tập tác phẩm lẫn “bình phẩm”, vừa là người hỗ trợ anh ít nhiều trong công việc và đời sống, tôi chưa bao giờ thực sự quan tâm tới “background” của anh, về những thăng trầm trong cuộc sống, hay những câu chuyện cá nhân có thể khiến người ta yêu thương, cảm thông hoặc ngưỡng mộ một nghệ sĩ.
Tôi luôn cố giữ thái độ của một người xem thật bình thường: không quen biết, không tình cảm, không những câu chuyện phía sau… để mà thấy tác phẩm nào tốt, tác phẩm nào chưa; điều gì khiến mình tâm đắc, thứ gì khiến mình xúc động, điều gì hay và tạo ra giá trị cho mình học hỏi.
Tôi cũng không để những “tự sự” của anh tác động đến cảm nhận thẩm mỹ của mình.
Bởi xét cho cùng, một tác phẩm nghệ thuật phải có đời sống riêng của nó, độc lập với những lời giải thích của tác giả, với tiểu sử của người vẽ, hay những tình cảm riêng tư của người xem dành cho họ. Tôi có thể rất trân quý một người mà không thích tác phẩm của họ. Cũng có thể không biết gì hoặc không đồng thuận về nhân sinh quan của nghệ sĩ nào đó mà vẫn bị tác phẩm của họ làm cho xúc động và thầm ngưỡng mộ tư duy sáng tác của họ.
Với anh Bình, tôi nghĩ mình đã có đủ thời gian để phân biệt hai điều ấy.
5.
Với tôi, Nguyễn Thanh Bình luôn là một trong những người đầu tiên góp phần tạo ra một hình ảnh Việt Nam, một thứ dấu ấn hình ảnh, mỹ cảm về Việt Nam sau Mở cửa 1986, với loạt tranh nữ sinh áo dài đã làm say mê biết bao nhà sưu tập quốc tế từ đầu những năm 1990.
Đó cũng là thời kỳ mỹ thuật Việt Nam bắt đầu có sự hiện diện đáng kể hơn trên thị trường quốc tế, đặc biệt tại các trung tâm giao thương nghệ thuật châu Á. Nguyễn Thanh Bình tham gia triển lãm “Gợi nhớ Việt Nam” tại Paris năm 1991; “Lễ hội Việt Nam” tại Hong Kong năm 1994; các triển lãm “Giữ ấm, Bóng và ánh sáng” tại phòng tranh Lã Vọng, Hong Kong năm 1995, cùng Hội chợ Mỹ thuật quốc tế Art Asia 95. Tiếp đó là triển lãm tại Osaka năm 1996, “Tiếng vọng” tại Hong Kong và “Gương mặt mới của Việt Nam” tại Seoul năm 1997, trước khi có triển lãm cá nhân tại Hong Kong năm 2001.
Những triển lãm ấy không chỉ đưa tranh Nguyễn Thanh Bình ra nước ngoài, mà còn góp phần đưa đến công chúng và những nhà sưu tập quốc tế một hình ảnh Việt Nam khác với những hình ảnh chiến tranh vốn đã chiếm lĩnh trí tưởng tượng của thế giới trong nhiều thập kỷ. Trong cuộc gặp của tôi với nhà gallery, giám tuyển Judy Hughes Day vào tháng 7/2025 tại nhà riêng ở New York, bà vẫn nhắc tới hội hoạ Nguyễn Thanh Bình với niềm tha thiết yêu mến và hình ảnh Việt Nam “gây thương nhớ”, dù bà đã trực tiếp đưa hàng trăm tác phẩm của anh tới các nhà sưu tập quốc tế từ hơn ba thập kỷ qua.
Một Việt Nam của những thiếu nữ áo dài, của màu trắng, của những cử chỉ dịu dàng, những khoảng không gian thanh nhã và yên tĩnh. Một hình ảnh Việt Nam không cần những biểu tượng hay chứng tích lịch sử lớn lao hay những tuyên ngôn về bản sắc dân tộc.
Có thể nói, chính loạt tranh và đề tài này đã làm nên tên tuổi Nguyễn Thanh Bình trên thị trường mỹ thuật quốc tế.
Rồi tiếp đến là những vũ nữ, ballerina, mẹ con, trẻ em, nhạc cổ điển… Những đề tài được anh vẽ đi vẽ lại hàng trăm, thậm chí hàng ngàn lần, đến mức chỉ cần nhắc tới chúng, nhiều người đã nghĩ ngay đến Nguyễn Thanh Bình.
Nhưng câu hỏi là: với một người đã vẽ hàng ngàn bức họa cùng đề tài trong gần bốn thập kỷ qua, tại sao tranh của anh vẫn quyến rũ người mua, vẫn vẽ bức nào hết bức ấy? Trong khi tranh anh cũng đã bị làm giả cả trăm, ngàn lần?
Tất nhiên, có thể giải thích bằng thị trường, bằng thương hiệu cá nhân, bằng sự nhận diện phong cách, hay bằng thói quen thẩm mỹ của những nhà sưu tập. Nhưng những điều đó, theo tôi, vẫn chưa đủ.
Bởi không phải cứ vẽ đẹp là bán được tranh. Không phải cứ có kỹ thuật tốt, đề tài dễ xem, màu sắc dễ chịu là người ta muốn mang tác phẩm ấy về nhà. Và cũng không phải cứ lặp lại một công thức đã thành công thì có thể tiếp tục thành công mãi.
6.
Như vậy, lại phải quay về với cái Duyên của người nghệ sĩ, như cái Duyên của người bán hàng; hay ngày nay người ta gọi mỹ miều bằng “năng lượng” mà người xem có thể cảm nhận được ngay, đôi khi trước cả khi họ kịp hiểu mình đang xem cái gì.
Nghệ thuật đương đại cần nhiều diễn giải. Bởi khi trình độ tri thức và khả năng tiếp nhận của công chúng ngày càng cao, người ta cũng quan tâm nhiều hơn tới những thứ đòi hỏi tư duy và nền tảng tri thức. Nghệ thuật đương đại tàng ẩn nhiều tầng tri thức, lịch sử, chính trị, xã hội, triết học… Nhìn nó càng đơn giản, đôi khi nó lại càng phức tạp, đa nghĩa.
Trong khi đó, nghệ thuật hiện đại, ở một phương diện, giản dị và trực tiếp hơn trong cách tiếp cận hình ảnh, khi nó rời xa những quy phạm hàn lâm, những ẩn ý hay điển tích cổ điển của tôn giáo, thần thoại, triết học, để hướng tới thực tại, cảm giác và sự tự do biểu đạt của người nghệ sĩ.
Dĩ nhiên, không phải nghệ thuật hiện đại không cần tri thức, hay nghệ thuật đương đại nhất thiết phải phức tạp. Nhưng xét về ngôn ngữ hội họa, tôi vẫn cho rằng Nguyễn Thanh Bình thuộc về truyền thống nghệ thuật hiện đại, ngay cả khi anh đang sống và sáng tác trong thời kỳ nghệ thuật đương đại.
Hội họa của anh không đòi hỏi sự quá sức ở người xem, cũng chẳng cần những diễn giải dài dòng, rối rắm; ngay cả trong loạt tranh trừu tượng mới nhất ở tuổi “thất thập cổ lai hy”, lấy cảm hứng từ những chi tiết Phật giáo như vạt áo lam, ngọn nến…
Nhìn những tác phẩm được trưng bày tại La Haye lần này, có thể thấy rất rõ sự nhất quán trong cách anh sử dụng màu sắc, hình thể và không gian, và dù vẫn cùng loạt đề tài đã trở thành “thương hiệu”, nhưng người ta không có cảm giác nhàm chán.
Trong serie thiếu nữ áo dài, những tà áo gần như tan vào nền tranh, những chiếc nón lá trắng, những mái tóc đen và vài điểm màu nhỏ được bố trí như những nhịp điệu.
Trong tranh phong cảnh, đôi khi chỉ có một con thuyền rất nhỏ giữa mặt nước mênh mông, một đường bờ đất sẫm, một khoảng trời màu kem gần như chiếm trọn bức tranh. Không gian trống không phải là phần còn lại sau khi đã vẽ xong đối tượng. Nó là một phần quan trọng của bố cục, của tương quan màu sắc và của chính cảm giác mà bức tranh tạo ra.
Ở những bức khỏa thân với những mảng đỏ lớn, những khối cơ thể chắc và đường viền rõ, tuy màu đỏ mạnh, tương phản lớn, nhưng bố cục không rối loạn, không có những chi tiết phụ thừa thãi. Điều đó cũng cho thấy sự nhẹ nhõm trong tranh Nguyễn Thanh Bình không đơn giản đến từ những màu nhạt hay những đề tài êm dịu.
Và trong những bức trừu tượng mới, khi hình tượng gần như đã được lược bỏ, chỉ còn những dải màu, những chuyển sắc, những khoảng trống và tương quan giữa chúng, người ta vẫn có thể nhận ra một thứ ngôn ngữ hội họa đã được anh sử dụng suốt nhiều thập kỷ.
Người ta thấy bông hoa là bông hoa, con cá là con cá, người mẹ là người mẹ, đứa trẻ là đứa trẻ…
Thực tại ấy giản dị và hiển hiện.
Như – nó – là.
7.
Bởi vậy, với tôi, hội họa Nguyễn Thanh Bình như “mưa rơi không cần phiên dịch”(Trần Dần.)
Đừng cố định nghĩa hay gán ghép nó cho thứ gì: Tây hay Đông, Thiền hay triết, haiku hay thất ngôn tứ tuyệt…
Nó là thứ nghệ thuật đi thẳng vào tâm người, như ánh sáng, như màu trắng trong tranh anh.
Cái thứ màu đặc biệt mà anh chẳng cần giấu công thức. Trong một bài viết về màu trắng, anh từng kể rằng để vẽ được cái “trắng ngọc, trắng ngà”, người vẽ không chỉ cần trắng titan và trắng kẽm, mà còn cần một màu trắng tổng hợp, cùng với vàng, xanh, hồng và nâu cháy. Bởi giấy trắng, vải trắng, tường trắng, mây trắng… đều khác nhau, do chất liệu và môi trường chiếu sáng.
Nghĩa là, để vẽ được màu trắng, người ta phải thấy được cả những màu không trắng trong nó.
Đơn giản thế thôi. Nhưng để nhìn và thấy được như thế, có khi phải mất cả một đời người vẽ.
Vì thế, khi đọc bài viết Elegance as a Refuge for the Pains of Life (Sự thanh nhã như một nơi nương náu trước những nỗi đau của cuộc đời) của Erik Lips, một nhà nghiên cứu nghệ thuật người Hà Lan, viết về triển lãm lần này, tôi thấy thú vị, nhưng không hoàn toàn đồng tình với cách ông lý giải nghệ thuật Nguyễn Thanh Bình.
Erik Lips cho rằng, thoạt nhìn, tác phẩm của Nguyễn Thanh Bình dường như hoàn toàn phù hợp với hình dung phổ biến của người nước ngoài về mỹ thuật Việt Nam: thanh nhã, duyên dáng, đẹp đẽ, bảng màu dịu nhẹ và tiết chế, những đề tài truyền thống không mang dấu hiệu chính trị, phảng phất tinh thần phương Đông nhưng vẫn mở ra khả năng đồng cảm đối với người xem phương Tây.
Nhưng theo ông, điều khiến tác phẩm của Bình trở nên đặc biệt không nằm ở việc anh vẽ gì, mà ở lý do anh lựa chọn những đề tài ấy và cách thể hiện ấy. Ông viết rằng vẻ đẹp bình dị trong tranh Bình là “nơi trú ngụ để ông đối diện và vượt qua những chấn thương cùng sự tàn khốc mà ông từng trải qua trong tuổi trẻ”. Và rằng “sự thanh nhã, hài hòa và cái đẹp” là cách nghệ sĩ biểu đạt “khát vọng về một thế giới tốt đẹp hơn”.
Với tôi mà nói, cách diễn giải ấy rất Tây. Nghĩa là nó rất chuẩn mực theo kiểu người phương Tây nhìn về, đánh giá nghệ sĩ và nghệ thuật châu Á. Nó rất “stereotype”, xếp người nghệ sĩ vào một kiểu loại, một khuôn mẫu có sẵn. Và khi xét về Việt Nam, thì dường như cứ phải đưa bối cảnh chiến tranh, đất nước, những tổn thương lịch sử vào để giải thích nghệ thuật.
Dù có ý đồ gây thiện cảm, thương cảm hay không, đó vẫn là một cách nhìn mang dấu vết của nhãn quan phương Tây da trắng đối với những nền nghệ thuật không nằm trong chủ lưu của trục Paris – New York.
Điều thú vị là, chính người viết đã nhận ra sự thanh nhã, duyên dáng, tiết chế, những đề tài không mang dấu hiệu chính trị… nhưng ông lại tìm cách giải thích nó bằng một câu chuyện khác rất quen thuộc: chiến tranh, chấn thương, sự chịu đựng và khát vọng chữa lành.
Tôi không phủ nhận chiến tranh, lịch sử hay những trải nghiệm cá nhân có thể ảnh hưởng đến người nghệ sĩ. Nhưng từ đó mà cho rằng những thiếu nữ áo dài, những vũ công hay những bình hoa của Nguyễn Thanh Bình là một hình thức nương náu trước chấn thương chiến tranh, thì có lẽ đã đi quá xa so với những gì bản thân tác phẩm cho thấy.
Tại sao cái đẹp nhất thiết phải là nơi trú ẩn của đau thương? Tại sao sự tĩnh lặng nhất thiết phải được giải thích bằng một quá khứ bất an? Và tại sao một nghệ sĩ Việt Nam không thể đơn giản vẽ một bông hoa vì anh thấy bông hoa ấy đẹp, một người mẹ vì anh yêu hình ảnh người mẹ, hay một vũ công vì anh thích sự chuyển động của cơ thể?
Trong một bài viết hồi đáp tôi năm 2024 khi tôi viết câu chuyện về tác phẩm Ni cô (2009-2024), anh Bình từng nói về việc mình bắt đầu vẽ các đề tài Phật giáo: “Thật sự, nó chỉ đơn giản là ‘đổi đề tài’, không có mục đích vẽ về chủ đề Phật hay thiền.”
Anh cũng nói: “Theo thời gian, tính cách không đổi nhưng tâm thức đổi.”
Và tôi nghĩ, một chữ “tâm thức” thôi, điều ấy đủ để gợi mở về những thay đổi trong hội họa anh, mà không cần cố đặt nó vào một hệ thống diễn giải nào khác.
8.
Không biết có ngẫu nhiên không, năm 2009, trước nhiều biến cố cuộc sống sau này của anh, tôi dường như đã nhìn thấy màu trắng trong tranh anh mang nhiều nghĩa vô cùng.
Tôi đã viết một bài thơ về màu trắng ấy, vào ngày sinh nhật mình, 22/4/2009:
“Trắng trời trắng đất trắng mưa
Trắng tuổi thơ, trắng những trưa mẹ về
Trắng trong là những hẹn thề
Trắng vành trăng của đam mê thuở nào
Trắng phai ngọn tóc cỏ lau
Những người xưa đã héo nhàu nếp da
Trắng tay chẳng cửa không nhà
Nửa đêm thức giấc canh ba giật mình
Trắng tỉnh tinh một chữ tình
Trắng hoang mang hết mình mình ta ta
Trắng nhân gian trắng nhạt nhòa
Người ngay kẻ xấu chẳng là một ai
Trắng thẳm sâu thước đất dày
Rồi tan thành hết bụi bay vào trời
Trắng dã tâm nhất con người
Làm nhau đau đớn mà cười như không
Từng trong như một đóa hồng
Từng trao nhau cả tấm lòng lặng câm
Đường xa mưa đổ đầm đầm
Mình ai đất trắng mưa thâm đi về…”
(22/4/2009)
Mười bảy năm sau, khi nhìn lại những bức tranh ấy, tôi vẫn thấy màu trắng của anh Bình có thể chứa đựng tất cả những điều đó. Nó không chỉ là màu của sự tinh khiết, nhẹ nhàng, của những tà áo dài nữ sinh hay những chiếc váy ba lê. Nó còn có thể là màu của thời gian, của những mất mát, của những gì đã qua, của cả những điều người xem tự mang đến trước bức tranh.
Nhưng đó là cảm nhận của tôi. Không nhất thiết là điều người vẽ đã nghĩ khi đặt màu lên tấm toan.
Và tôi cũng hiểu, anh Bình, dù thế nào, trước tấm toan trắng, vẫn cứ giữ một cái tâm trong vắt như sắc trong trong tranh anh, mà đối đãi với cuộc đời và nghệ thuật của mình.
Có thể cuộc sống chẳng nhẹ nhàng. Có thể vẫn còn những khoản nợ phải trả, những ngày không muốn vẽ, những bức tranh phải hoàn thành vì một lý do chẳng hay ho gì. Nhưng khi đứng trước tấm toan, anh vẫn cứ vẽ, bằng cái cách của anh, với những thứ anh nhìn thấy và cảm thấy.
Và người xem, ở một phòng triển lãm nào đó tại La Haye, chẳng cần biết gì về những chuyện ấy, vẫn có thể ra về với một cảm giác hạnh phúc, nhẹ nhõm mà chính họ cũng không giải thích được.
Tôi nghĩ, thế là đủ.
Thứ còn lại, chỉ là tạo niềm vui thôi, chứ không có gì mà phải “quan trọng hóa” nghệ thuật cả!
12/10/2026
*Thơ Trần Dần




Tác phẩm trưng bày trong triển lãm “Tâm hồn phương Nam”, Vietnam Art House, The Hague, NL, 10/2026