Cuộc đời các thị trấn

Anne Carson

LỜI NGƯỜI DỊCH

Anne Carson (sinh năm 1950) – tác giả vừa được Viện Hàn lâm Thụy Điển trao tặng giải Nobel Văn học năm 2026 – là nhà thơ, nhà tiểu luận, dịch giả và nhà nghiên cứu cổ học người Canada.

Giới phê bình nhận định các tác phẩm xuất sắc của bà là sự giao thoa giữa thi ca, văn xuôi, dịch thuật, văn học Hy Lạp cổ đại, thần thoại, triết học, tình yêu, nỗi đau và những trải nghiệm đương đại. Văn phong của bà nổi tiếng với việc cố ý xóa nhòa ranh giới giữa các thể loại văn học.

Viện Hàn lâm Thụy Điển trao giải Nobel Văn học 2026 cho Anne Carson “vì một sự nghiệp táo bạo, giàu sáng tạo, đối thoại tinh nghịch với truyền thống cổ điển và kiến tạo những hình thức mới cho văn chương đương đại” (“for her bold and inventive oeuvre that, in playful dialogue with the classical tradition, has created new forms for contemporary literature”).

Anne Carson xứng đáng được vinh danh vì bà đã biến truyền thống cổ điển từ một kho tàng được bảo vệ thành một đối thoại sống, và từ cuộc đối thoại ấy, bà đã tạo ra những hình thức văn chương mà trước bà chưa tồn tại – nơi thơ có thể là chú giải, chú giải có thể là tình ca, dịch thuật có thể là sáng tạo, và sự đọc có thể trở thành một hành động đạo đức lẫn thẩm mỹ.

Trong The Life of Towns, Carson không mô tả các “thị trấn” theo lối miêu tả; bà biến “town” thành một khái niệm thi pháp: một vị trí quan sát, một cách liên kết “pear” với “winter”, một không gian mà ký ức, tội lỗi, tình yêu hay Kinh Thánh có thể được sắp xếp lại. Văn xuôi mở đầu vừa là lý thuyết, vừa là thơ; các bài Town of… vừa là thơ, vừa là những phép thử triết học.

Đây không phải một bài thơ đơn lẻ mà là một chuỗi thơ–tiểu luận (poem sequence) gồm nhiều “town” độc lập, mỗi bài thường kết thúc bằng dấu chấm.

Một phần của The Life of Towns đã xuất hiện trên tạp chí Grand Street năm 1989, trước khi được tập hợp và mở rộng trong tập Plainwater.

Plainwater xuất bản lần đầu năm 1995, giai đoạn Carson đã là cổ học gia và đang khẳng định “lối viết lai giống”: thơ, tiểu luận, kịch đối thoại, chú giải và dịch thuật cùng tồn tại trong một cuốn sách.

Tác phẩm gồm năm phần, trong đó The Life of Towns là phần thứ tư. Nhiều nhà phê bình sau này xem đây là một trong những tác phẩm sớm định hình danh tiếng của bà.

The Life of Towns là một chuỗi thơ–tiểu luận được tổ chức như một bản đồ của những “thị trấn” tinh thần: mỗi “town” là một đơn vị ngắn, gần như tự trị, nhưng tất cả cùng thăm dò cách con người tạo ra ý nghĩa, ký ức, tình yêu và sự tách biệt.

Cấu trúc của nó không tuyến tính mà là mạng lưới biến thể: một ý niệm trung tâm – “town” – được lặp lại, dịch chuyển và làm lệch qua các tên gọi, thể loại và hệ hình văn hoá khác nhau.

Chuỗi tác phẩm mở đầu bằng một đoạn văn xuôi dẫn nhập (Introduction), sau đó là hàng loạt bài thơ ngắn mang tên Town of…, Memory Town, Judas Town, Bride Town…

Sự chuyển từ văn xuôi sang thơ không phải là chuyển thể loại đơn thuần: đoạn mở đầu đã hoạt động như một lý thuyết thi pháp thu nhỏ, còn các bài thơ là những “thực địa” để kiểm nghiệm lý thuyết ấy.

Có thể mô tả cấu trúc theo ba tầng:

Tầng khái niệm: “town” là ảo tưởng rằng mọi sự vẫn “hang together somehow” – rằng thế giới, ngôn ngữ và con người có thể liên kết.

Tầng phương pháp: “scholar” là người chiếm một vị trí quan sát; từ vị trí đó, những đường nét – nghĩa là ranh giới, hình dạng, ý nghĩa – hiện ra.

Tầng thực hành: mỗi bài thơ là một “town” được dựng lên bằng một hệ hình riêng: hội hoạ, Kinh Thánh, thần học, cổ điển Đức, thơ Nga, triết học Trung Hoa, ký ức riêng tư hay tình yêu thất bại.

Điểm quan trọng là Carson không cho “town” một định nghĩa cố định. Bà cho nó một quy tắc sinh thành: cứ một vị trí đọc, một khác biệt phiên định, một nỗi sợ, một ký ức hay một cái tên văn hoá được đặt vào quan hệ với cái khác, thì một “town” xuất hiện.

Chuỗi này báo trước những đặc điểm sau này làm nên dấu ấn Carson: cú pháp đứt gãy, dấu chấm dày đặc, đối thoại với cổ điển, sự quan tâm đến dịch thuật như một hành động sáng tạo, và việc đưa thân phận, tình yêu, tôn giáo, tang chế vào khuôn khổ tri thức.

Đặc biệt, câu “Your separateness could kill you unless I take it from you as a sickness” (Sự tách biệt của bạn có thể giết chết chính bạn, trừ phi tôi gánh lấy nó như một căn bệnh.) cho thấy “town” cũng là một mô hình về quan hệ: người khác luôn tách biệt, và sự tách biệt ấy có thể trở thành bệnh tật, chết chóc, nếu không được chuyển hoá thành sự chăm sóc, tưởng tượng hoặc đọc-hiểu.

Đó là lý do chuỗi thơ mở đầu bằng Lão Tử và kết thúc ở “God’s woods”: từ sự khác biệt ngôn ngữ đến kinh nghiệm về cái tuyệt đối, Carson luôn hỏi làm thế nào con người có thể ở cạnh nhau mà không xoá bỏ nhau.

Sức mạnh nghệ thuật của The Life of Towns nằm ở chỗ nó biến một hành động trí tuệ – đọc, chú giải, dịch, phân loại – thành một hành động thơ. Carson không viết “về” các town; bà dựng chúng bằng cú pháp, tên gọi, liên văn bản và những khoảng lặng.

Một ví dụ: Cụm từ “Bathsheba’s Crossing” (đặt tên cho bài thơ thứ tư trong chuỗi The Life of Towns của Anne Carson) mang nhiều tầng ý nghĩa sâu sắc, giao thoa giữa Kinh Thánh, lịch sử nghệ thuật hội họa và tư duy thi pháp độc đáo của tác giả.

Tiêu đề này trực tiếp lấy cảm hứng từ kiệt tác hội họa năm 1654 của danh họa người Hà Lan Rembrandt van Rijn mang tên Bathsheba at Her Bath (Bathsheba tắm) (hiện đang được lưu giữ tại Bảo tàng Louvre, Paris).

Trong Kinh Thánh (Sách Samuel), Bathsheba là người phụ nữ xinh đẹp khiến vua David say đắm từ cái nhìn trên sân thượng, dẫn đến một câu chuyện đầy bi kịch về tội lỗi, sự phỉnh gạt và cái chết của người chồng Uriah.

Tuy nhiên, Rembrandt đã chọn một khoảnh khắc nội tâm vô cùng tĩnh lặng và phức tạp. Bathsheba ngồi đó một mình với thân thể trần trụi, trên tay cầm bức thư của vua David triệu tập bà vào cung, gương mặt bà thoáng buồn và chìm trong suy tư về định mệnh lẫn sự giằng xé đạo đức.

Trong cấu trúc thi ca của Anne Carson, từ “Crossing” không chỉ đơn thuần là tên một địa danh hay lối đi vật lý, mà mang tính biểu tượng cao. Carson biến bức tranh đứng yên của Rembrandt thành một không gian động (một “thị trấn” tinh thần). Nhân vật trong tranh dường như bước ra ngoài khung hình, vượt qua ranh giới giữa thế giới hội họa (trong phòng ở Amsterdam) và thế giới thực của người xem (“Đi ra từ một ý niệm để hướng về phía chúng ta”).

Trong bài thơ, Carson nhận ra sự đồng nhất tinh tế: Rembrandt dường như vẽ chính nỗi ngơ ngác, sự trải đời và hành trình nhọc nhằn của chính ông qua hình bóng người phụ nữ ấy.

“Crossing” là cột mốc bước ngoặt nơi cuộc đời Bathsheba thay đổi vĩnh viễn khi bức thư định mệnh được mở ra – một lằn ranh mong manh giữa sự ray rứt, đức tin, dục vọng và bi kịch nhân sinh. “Bathsheba’s Crossing” có thể được hiểu là “Lối rẽ/Điểm giao định mệnh của Bathsheba” – nơi Anne Carson mượn không gian thị giác của hội họa để thám hiểm ranh giới mong manh giữa ý thức con người, nghệ thuật và những ngã rẽ không thể quay đầu trong cuộc đời.

Chuỗi sáng tác này vì thế là một mẫu mực của thi pháp Carson: học thuật nhưng không khô khan, cá nhân nhưng không tự thuật theo nghĩa thông thường, tôn giáo nhưng không giảng đạo, và cực kỳ chặt chẽ về hình thức trong khi liên tục phá vỡ cú pháp. Chính sự căng thẳng giữa “scholar” và “poet”, giữa “position” và “emptiness”, giữa “town” và “no town”, tạo nên sức sống của tác phẩm.

Nguyễn Man Nhiên chuyển ngữ Lời nói đầu (Introduction) và một số bài thơ ngắn trong chuỗi The Life of Towns, in trong tập Plainwater: Essays and Poetry (New York: Alfred A. Knopf, 1995; tái bản Vintage, 2000) của Anne Carson.

LỜI NÓI ĐẦU

Các thị trấn vốn là những ảo tưởng rằng mọi thứ đâu đó vẫn gắn kết bằng cách nào đó, quả lê của tôi, mùa đông của anh.

Tôi là một học giả nghiên cứu các thị trấn, xin Thượng đế hãy tán thưởng điều ấy. Việc giải thích những gì tôi làm vốn dĩ rất đơn giản. Một học giả là người biết chọn cho mình một chỗ đứng. Từ vị trí đó, một số đường nét bắt đầu hiện hình. Ban đầu, hẳn bạn sẽ nghĩ chính tôi đang tự tay vẽ nên những đường nét ấy; sự thật không phải vậy. Tôi chỉ đơn thuần biết đứng ở đâu để nhìn thấy những đường vốn dĩ đã nằm ở đó. Và điều bí ẩn thay – một điều vô cùng bí ẩn – chính là cách những đường nét ấy tự khắc họa nên chính nó. Trước khi có bất kỳ ranh giới, góc cạnh hay đức hạnh nào – ai là kẻ đã đặt ra câu hỏi? Thôi nào, đừng để việc chú giải cuốn chúng ta đi quá xa. Một học giả là người biết cách giới hạn bản thân trong đúng vấn đề đang hiện hữu.

Chất liệu tự khắc họa mình trong các đường nét ấy tạo nên một thị trấn. Nhìn theo cách này, thế giới đối với chúng ta, như ta vẫn nói, chính là một cuốn sách mở. Nhưng còn những dị bản thì sao? Chẳng hạn, hãy ngẫm về thị trấn được Lão Tử định nghĩa cho chúng ta qua chương 23 của Đạo Đức Kinh: “Theo Đạo thì đồng với Đạo; Theo Đức thì đồng với Đức; Theo Mất thì đồng với Mất. Đồng với Đạo, Đạo cũng vui tiếp đó; Đồng với Đức, Đức cũng vui tiếp đó; Đồng với mất, Mất cũng vui tiếp đó.” Nghe giống như một thị trấn đầy sức nặng, nơi một con người có thể vươn ra khỏi giới hạn bản thân, hoặc chạm trán chính mình, tùy theo lựa chọn của họ.

Thế nhưng, một học giả khác (Cao) lại giữ một chỗ đứng hoàn toàn khác về Thị trấn của Lão Tử. “Từ được dịch là “thất” xuyên suốt phần này không mang lại nhiều ý nghĩa”, Cao nhã ý nhắc nhở. “Rất có thể đó là một lỗi đọc nhầm tự dạng của chữ “thiên”.” Giờ đây, để tôi hoặc bạn có thể từ bỏ việc sống ở đây và bước đến đó – dù là Thị trấn của Lão Tử hay Thị trấn của Cao – chúng ta buộc phải làm rõ một số chi tiết, chẳng hạn như giọng điệu của Cao. Liệu ông đang thiếu kiên nhẫn, mang một nỗi buồn sâu thẳm, hay chỉ đơn thuần là đang trào lộng? Chỗ đứng bạn chọn đối với vấn đề này có thể sẽ kéo bạn tách rời khỏi tôi. Cứ thế, các thị trấn hình thành. Và rồi, các học giả xuất hiện.

Tôi không hề nói những điều vụn vặt. Sự tách biệt của bạn có thể giết chết chính bạn, trừ phi tôi gánh lấy nó như một căn bệnh. Sẽ thế nào nếu bạn mắc kẹt trong thị trấn nơi quả lê và mùa đông là dị bản của nhau? Bạn có thể ăn mùa đông không? Không. Bạn có thể sống sáu tháng trời bên trong một quả lê đóng băng không? Không. Nhưng có một nơi, tôi biết rõ nơi ấy, nơi bạn sẽ đứng đó và nhìn thấy quả lê cùng mùa đông song hành bên nhau tựa như những bức tường đứng cạnh sự tĩnh lặng. Bạn có thể tự chấm câu chính mình thành sự tĩnh lặng không? Bạn sẽ thấy những ranh giới bị cắt lìa khỏi bạn, lùi sâu vào một thế giới mang bản chất khác – trở lại chốn trống rỗng thực sự, theo cách gọi của một số người. Vâng, chúng ta chỉ là những vật thể giữa một cơn gió đã ngừng thổi, theo quan điểm của tôi. Có những thị trấn có quy tắc và những thị trấn bất quy tắc, có những thị trấn mang vết thương, những thị trấn tỉnh táo và những thị trấn được khắc ghi bằng sự mãnh liệt dữ dội; có những thị trấn dẫu vô dụng nhưng vẫn đầy nhiệt thành tiếp tục chiến đấu, có những thị trấn mà tuyết trượt khỏi mái nhà với một sức mạnh phũ phàng đủ để tước đoạt sinh mạng nạn nhân, nhưng tuyệt nhiên không có thị trấn nào trống rỗng (mà chỉ có những học giả trống rỗng) và chẳng hề có chỗ cho sự tiếc nuối. Giờ thì, hãy bước tiếp.

THỊ TRẤN CỦA TIẾNG CÀNH CÂY GÃY

Khuôn mặt họ, tôi ngỡ những lưỡi dao.

Cách họ chĩa thẳng vào tôi.

Và đứng đợi.

Thợ săn là kẻ lắng tai nghe.

Chăm chú vào con mồi đến mức nó giật phăng vũ khí.

Khỏi tay anh ta và đâm xuyên.

Chính nó.

THỊ TRẤN TRÊN LỐI BĂNG QUA RỪNG CỦA THƯỢNG ĐẾ

Hãy nói tôi nghe.

Anh có bao giờ thấy cánh rừng nào.

Sâu thẳm đến mức.

Mỗi cái cây là một từ ngữ, khiến tim anh ngừng đập?

Có lần tôi thấy một đám mây trên bầu trời Bolivia sâu thẳm.

Những ngọn núi đang co rúm lại, anh có bao giờ?

Nhìn vào nhanh đến mức thấy được từ bí mật.

Nằm sâu bên trong từ ngữ?

Như trong một toa tàu bỏ hoang.

Một chiều mùa đông nọ tôi đã thấy.

Từ để chỉ “rừng của Thượng đế.”

THỊ TRẤN BÊN LỐI RẼ CỦA BATHSHEBA

Bên trong một căn phòng tại Amsterdam.

Rembrandt vẽ một giọt sự sống ẩn sâu.

Giọt màu ông vẽ là kẻ lạ mặt của Rembrandt.

Hóa dạng một người phụ nữ gợn sóng.

Với nét trần trụi cô ấy đang mang.

Trên tay là một bức thư cô đang.

Hành trình.

Đi ra từ một ý niệm để hướng về phía chúng ta.

Làn bọt của cô ấy đến nơi.

Trước cả khi ông.

Vẽ kẻ lạ mặt của Rembrandt.

Như chính Rembrandt, ông phơi bày.

Sự ngơ ngác và đầu tóc bù xù của chính mình.

Tựa như vừa mới đặt chân đến.

Sau những chuyến đi.

Trên đường ray và những lối rẽ.

THỊ TRẤN PUSHKIN

Nơi đây có những lề luật.

Và tình yêu.

Và luật lệ đầu tiên chính là.

Tình yêu dành cho sự may rủi.

Rất có thể một vài lời lẽ của bạn là quặng ở đó.

Hoặc sẽ thế nào khi đôi mắt chúng ta chỉ còn là than hồng.

THỊ TRẤN KÝ ỨC

Trong mỗi người các bạn tôi vẽ.

Tôi tìm thấy.

Một địa điểm chôn lấp vật liệu phóng xạ.

Bạn nghĩ chìm sâu 8 dặm là đã đủ ư?

15 dặm?

140 dặm?

THỊ TRẤN VỀ CÁI CHẾT CỦA TỘI LỖI

Tội lỗi là gì?

Bạn hỏi.

Vầng trăng nhói qua chúng ta.

Bỗng chốc tôi nhìn thấy bạn.

Buông bỏ tội lỗi và bước đi.

Đen thẫm như một ngọn gió lướt qua cánh rừng.

THỊ TRẤN HÖLDERLIN

Anh thật điên rồ khi ôm nỗi buồn một mình.

Khi những cái giếng đã cạn khô.

Ánh sao nằm lặng dưới đáy.

Như một mảnh âm thanh.

Những trụ chống lao vút qua anh.

THỊ TRẤN CỦA MÙA XUÂN MỘT LẦN NỮA

“Mùa xuân lúc nào cũng như nó từng là.”

Một cụ già người Trung Hoa nói thế.

Mưa rít mạnh trên những khung cửa sổ.

Những niềm khao khát từ chốn xa xôi.

Đã chạm đến chúng tôi.

THỊ TRẤN JUDAS

Không giờ muộn không hàng cây không ánh sáng.

Không rặng ô-liu không những ổ khóa không trái tim.

Không trăng không rừng tối.

Không miếng bánh không tôi.

THỊ TRẤN CÔ DÂU

Bấu víu vào sắc đen ban ngày.

Như chiếc áo măng-tô trống hoác người giữa một trưa lạnh lùng rực rỡ.

Kẻ-Đòi-Hỏi đang chờ tôi.

THỊ TRẤN CỦA TÌNH YÊU KHẬP KHIỄNG

(Nhưng mọi tình yêu vốn dĩ đều khập khiễng)

Nếu anh ấy thực sự yêu tôi, anh ấy đã nhìn thấy tôi.

Đang áp trán đập vào khung cửa kính từ một ô cửa sổ tầng trên.

Louise Bourgeois, New Orleans (1946)

This entry was posted in Nghiên cứu Phê bình, Thơ and tagged , . Bookmark the permalink.