Bảo Chân dịch từ tập The Glass Essay của Anne Carson,
https://www.poetryfoundation.org/poems/48636/the-glass-essay

TÔI
Tôi nghe tiếng canh cách trong cơn mơ
Đêm rỏ giọt từ chiếc vòi bạc
xuống sau lưng tôi
Lúc ấy 4 giờ sáng. Tôi thức dậy. Tôi nghĩ
đến người đàn ông
đã bỏ tôi mà đi hồi tháng Chín.
Anh ấy là Law.
Trên mặt tôi, trong tấm gương nhà tắm
những vệt trắng chảy loang dài
Tôi rửa mặt và trở lại giường
Ngày mai tôi sẽ đi thăm mẹ.
BÀ ẤY
Mẹ tôi sống ở vùng hoang sơ miền Bắc
Mẹ sống một mình
Ở nơi mùa xuân buông xuống sắc lẹm như dao
Ở nơi tôi đi tàu đến, ngày ngày mang theo nhiều sách
vài cuốn mang cho mẹ, vài cuốn cho tôi
tôi mang cả tuyển tập Emily Bronté
Nữ văn nhân tôi yêu mến nhất.
hiện thân nỗi sợ lớn trong lòng, tôi hằng muốn đối mặt
Mỗi khi về thăm mẹ
Tôi thấy như mình hoá thành Emily Bronté.
Cuộc đời cô độc bủa vây tôi như đầm lầy
Tấm thân thô kệch, tôi lê dài qua bùn lầy, như hoá kiếp bà ấy
Rồi lập tức chết đi khi tôi đặt chân vào nhà bếp
Chúng ta cần thứ thịt gì, hỡi Emily?
CHÚNG TÔI
Ba người đàn bà thinh lặng bên bàn ăn.
Căn bếp mẹ u tối và chật chội nhưng ngoài cửa sổ
đầm lầy tê cóng hoá băng.
Dài miên man xa ngút tầm mắt
qua dặm đất phẳng lặng tới bầu trời trắng xóa đặc quánh.
Mẹ và tôi nhâm nhi món xà lách.
Đồng hồ treo tường vang tiếng trầm buồn, đứt quãng, giật nẩy
mỗi khi kim phút vượt qua vạch số mười hai.
Tôi đọc sách của Emily ở trang 216, tôi dựng sách tựa vào hũ đường
thi thoảng lén ngắm nhìn mẹ.
Trăm ngàn câu hỏi túa ra từ trong trí óc tôi.
Mẹ thì chăm chú vào đĩa xà lách của bà.
Tôi lật tiếp sang trang 217.
“Trong lúc tháo chạy sống chết qua nhà bếp, tôi xô ngã Hareton,
thằng nhỏ ấy đang treo ngược bầy chó con
lên lưng ghế ngay cửa ra vào. . . .”
Như thể tất cả chúng ta bị hạ xuống một khí quyển thủy tinh.
Thi thoảng, những lời kể xuyên vọng màng tinh thể.
Lô đất phía sau bị đánh thuế. Dưa hấu không ngon,
chưa đến mùa để ăn dưa.
Thợ hớt tóc trong trấn đi tìm Chúa, cửa tiệm đóng ngày thứ Ba.
Lại có chuột trong ngăn kéo đựng khăn lau tách trà.
Mấy viên phân nhỏ. Chúng gặm mất
mấy góc khăn giấy nhỏ, giá mà chúng biết
khăn giấy dạo này đắt đỏ thế nào.
Đêm nay mưa.
Ngày mai mưa.
Ngọn núi lửa Philippines bùng cháy lại. Bà ấy tên gì nhỉ
Anderson chết rồi, chứ không phải Shirley
cô ca sĩ opera. Người da đen.
Bị ung thư.
Con không ăn phần rau trang trí sao, không thích ớt chuông sao?
Ngoài cửa sổ tôi nhìn thấy lá khô chao đảo trên đồng bằng
và cặn tuyết bị hoen ố vì rác thông.
Ở giữa đầm lầy
có vạt đất lõm xuống thành một khoảng trũng,
băng đã bắt đầu chảy tan.
Dòng nước đen ngòm trải rộng
sủi bọt trào cơn giận dữ. Mẹ bỗng dưng lên tiếng.
Việc trị liệu tâm lý không giúp gì nhiều cho con, phải không?
Con vẫn chưa quên được hắn.
Mẹ là vậy luôn biết cách tóm gọn câu chuyện.
Mẹ chưa từng quý mến Law cho lắm
nhưng mẹ vui vì biết tôi có một người đàn ông và sống tốt cuộc đời.
Thì thôi, hắn là kẻ chỉ nhận còn con là người cho, mẹ mong con an ổn,
đó là những điều mẹ nói sau khi đã gặp anh ta.
Cho và nhận với tôi chỉ là những ngôn từ trống rỗng
khi ấy. Tôi chưa từng yêu ai dạo trước.
Chuyện giống như chiếc bánh xe lao xuống dốc.
Nhưng sớm mai này khi mẹ còn ngủ
và tôi ở tầng dưới đọc đến một cảnh trong Đồi gió hú
khi Heathcliff bấu chặt lấy khung cửa sổ giữa trời bão tố
Hãy vào đi! Hãy vào đi! với hồn ma tình yêu trong tim hắn,
tôi khuỵu gối quỳ trên thảm, nức nở bật khóc.
Bà ấy là vậy, giỏi treo ngược lũ chó con,
bà Emily ấy.
Không giống như uống một viên aspirin đâu mẹ, tôi đáp lời yếu ớt.
Bác sĩ Haw bảo nỗi đau là một hành trình dài.
Mẹ nhíu mày. Điều đó thì giúp được gì
tất cả sự khuấy động quá khứ này?
Ôi – tôi chìa ra hai tay –
Để con trấn áp được nó! Tôi nhìn thẳm sâu trong mắt mẹ.
Mẹ nhoẻn cười. Ừ, con sẽ thắng mà.
KẺ NHÌN
Kẻ nhìn,
Emily là vậy, luôn phát âm sai từ này[1]
Kéo theo bao nhầm lẫn
Ví như
dòng đầu tiên của thi khúc Nói cho em có phải mùa đông về[2]?
trong ấn phẩm Shakespeare Head
Bà lại viết thành có kẻ nhìn
Kẻ nhìn, cũng chính là bà ấy
Bà nhìn Chúa và con người, nhìn đồng hoang nổi gió và đêm mời gọi
Bà nhìn những mắt sâu, những ngôi sao, bên trong, bên ngoài, thời tiết thực tại
Bà nhìn những thanh thời gian nát tan
Bà nhìn những cơ hàn giữa lòng thế giới,
rộng mở
Làm người nhìn không phải là chọn lựa
Mà bởi vì không thoát được tình thế
Như người bơi không tìm thấy mõm đá
để bước ra khỏi biển nước lúc chiều mơ
rồi giũ nước tung toé khắp bờ
Là người nhìn, không gì buồn chẳng gì vui
cho dẫu bà viết những từ ấy thành câu
như đã viết cảm xúc và hoan lạc trong tiểu thuyết
như đã kể việc của kẻ nhìn bằng uyển ngữ
Thì hắn không được gọi tên
Hắn hoàn toàn trong suốt
Đôi khi bà gọi hắn là Ngài
“Emily quét thảm trong phòng khách.”
Charlotte đã kể như vậy năm 1828.
Dù ở nhà bà ấy vẫn kín đáo
Và không thể mắt nhìn mắt với người lạ ở ngoài kia
Emily đã sống đời vụng về e ngại
sống qua năm tháng trống trải làm sững sờ các tiểu sử gia
Có người nói cuộc đời bà cằn cỗi u buồn
Không hào hứng, không nổi bật, gặm nhấm niềm thất vọng
có người nói, đời tuyệt vọng.
Có người nói, giá là nam nhân, bà đã là nhà hàng hải đại tài,
Mặc kệ đời
Emily tiếp tục quét những thị phi vào tấm thảm,
Tại sao vứt bỏ cả thế giới.
Với một người có kết nối với Ngài
thế giới giống như một câu văn dang dở
Nhưng, xen giữa những người hàng xóm thường kể
khi bà trở về sau cuộc đi bộ quanh đồng hoang
với gương mặt “rạng ngời thần sắc”
và chị gái bà thì kể
rằng Emily chưa từng người bạn nào trong đời
là một khoảng trống cho linh hồn nhỏ chân thật
lén xuyên qua.
Nó lượn sát sống thuyền – phần chìm sâu trong nước,
không nhìn thấy được
Linh hồn nhỏ chân thật không bị kìm giữ
Không bạn bè, con cái, luyến ái, tôn giáo, hôn nhân, thành đạt, thu nhập,
không nỗi lo sợ cái chết. Bà đã làm việc
cả thảy là sáu tháng trong đời (tại trường học tỉnh Halifax)
và chết trên sofa ở nhà lúc hai giờ chiều, một ngày đông
ở tuổi ba mươi mốt. Bà đã dành
hết thảy thời gian trong đời để quét thảm,
rong ruổi quanh đồng hoang đầm lầy
hoặc để nhìn. Bà nói
làm như thế, bà thấy thanh thản
“Mọi thứ an lành đâu vào đấy, chúng ta sẽ thanh thản trong an lành đâu vào đấy
ngày này 4 năm sau”
bà đã viết trong Nhật Ký năm 1837
Nhưng, thơ bà từ khởi đầu đến tận cùng, đều trăn trở về ngục tù,
hầm tối, những chiếc lồng, song sắt, sự kềm toả, hàm thiếc, chốt khoá, xiềng xích
khung cửa sổ khoá kín, khung hẹp, bức tường đau đớn
Có phê bình gia hỏi, “tại sao viết những thứ khủng khiếp?”
“Bà khao khát tự do. Bà chẳng phải đã tự do sao?
Một đời sống gia đình mãn nguyện,
một cuộc đời an ổn như mơ – sao bà ấy đập cánh mãnh liệt?
có chiếc lồng nào chúng ta không nhìn thấy,
chiếc lồng khiến bà bị giam cầm bên trong?”
Thật ra, có nhiều cách bị giam cầm kìm hãm
Tôi suy nghĩ khi rảo bước quanh làng
Như thường lệ sau bữa trưa lúc mẹ tôi chợp mắt
còn tôi ra ngoài đi dạo
những thân cây xanh trơ, bầu trời tháng tư bạc thếch khô cằn như gỗ
cứa vào tôi lưỡi dao sáng loé
Điều gì đó trong tôi nhắc nhớ thời thơ trẻ
đó là ánh sáng của khoảnh khắc lắng đọng sau buổi trưa
khi đồng hồ đổ chuông
và những trái tim đập nhịp
những người cha quay lại làm việc
những bà mẹ đứng bên bồn rửa chén trong bếp, suy tư
về điều họ chưa từng kể.
Con nhớ nhiều thứ quá
mẹ nói tôi như vậy gần đây
Sao lại ôm mang hết mọi điều? Tôi đáp,
Con có thể buông chúng xuống ở đâu?
mẹ chuyển sang hỏi về các sân bay
Những đám băng tan thành bùn quánh quanh đây
khi tôi rảo bước qua đồng đầm lầy
dưới làn gió ấm và mặt trời xanh nhạt
Ở rìa đồng hoang, những cây thông làng chúng tôi
ngả nghiêng lướt theo làn gió nhẹ
thổi từ phương khác.
Có lẽ điều đau nhất khi mất đi một người tình
là phải nhìn những ngày lập lại hằng năm
Cứ như thể tôi nhúng đôi tay mình
xuống thời gian rồi vốc lên
những viên nắng màu lam và lục của tháng Tư
của một năm trước trên một đất nước khác
Tôi cảm nhận được ngày hôm ấy chảy qua ngày hôm nay
như một cuộn phim cũ – xe chúng tôi lao nhanh đến khúc cua cuối phố
đường lên đồi đi đến nhà anh, những bóng hình
của chanh và hoa hồng xao động ngoài cửa kính
tiếng nhạc tuôn trào từ radio, còn anh
vừa hát vừa hôn lên bàn tay trái tôi
Law sống trong căn phòng màu xanh trên cao, từ đó anh nhìn biển.
Những vòng thời gian trong suốt chảy xuyên tôi
vọng về âm thanh điện thoại từ căn phòng ấy
và tiếng ồn xe cộ xa xăm, chim câu gù bên cửa sổ
tiếng khúc khích trong trẻo, giọng anh nói
Người đẹp của anh. Tôi nghe thấy tim người đẹp
đập trong ngực mình khi cô nép trong vòng tay anh trong căn phòng xanh trên cao –
Không, tôi hét lên. Tôi xiết chặt hai cánh tay mình
Đi băng qua làn khí lạnh dần đè nặng tôi như dòng nước
cuộn phim cũ bỗng ngưng bặt
đột ngột như giọt máu nhỏ xuống lam kính
Tôi đứng lại, xoay người, ngửa đầu đón gió
gió ào ạt qua tôi trên đồng hoang
Khi Law ra đi tôi u uẩn chỉ muốn chết
Chuyện chẳng hiếm lạ gì.
Và tôi bắt đầu thiền định
Mỗi sớm mai tôi ngồi trên sàn trước bộ sofa
Tụng niệm bài kinh cầu tiếng La-tinh xưa.
De profundis clamavi ad te Domine[3]. (Từ vực sâu con kêu cầu lên Chúa)
Mỗi sớm mai một hình ảnh hiện trước mắt tôi
Tôi dần nhận ra những khoảnh khắc ấy tôi nhìn trần trụi hồn mình
Tôi gọi tên những hình ấy Loã Ảnh
Loã Ảnh #1. Người đàn bà một mình trên đồi
Cô đứng trước gió
Cơn gió mạnh thổi xiên từ phương Bắc.
Những dải thịt dài xơ xác xé toạc khỏi cơ thể người đàn bà
bay tung toé trong gió, chỉ còn lại
một cây thần kinh, máu và cơ thịt trần trụi
cố kêu không thành lời, miệng không còn môi
tôi đau đớn ghi lại cảnh tượng này
Tôi không phải kiểu người ưa thống thiết
Nhưng linh hồn “bị đẻo gọt trong một xưởng hoang dã”
như Charlotte Bronté viết lời tựa cho Đồi gió hú
Lời tựa ấy cho Đồi gió hú một quảng bá khéo léo
Như một người cố tình không nhìn thấy con bọ cạp[4]
đang bò trên tay ghế sofa, Charlotte
viết với giọng kiên định và bình tĩnh
về những đồ nội thất khác trong xưởng viết của Emily –
về tinh thần bất kham (mạnh mẽ hơn đàn ông, đơn thuần hơn trẻ nhỏ)
về căn bệnh tàn nhẫn (“nỗi đau không từ nào tả xiết”)
về cái chết đã biết trước (“cô suy kiệt rất nhanh, vội vàng rời bỏ chúng ta”)
về sự phục tùng hoàn hảo của Emily
với sáng tác mà cô không thấu hết, không kiểm soát
vậy nên cô không đáng nhận thêm khen chê nào nữa
hơn là việc nếu cô mở miệng
“thở ra một tia sét.” Con bọ cạp lại từ từ bò xuống
tay ghế sofa khi Charlotte
còn mãi nói cặn kẽ về tia sét
và một kiểu thời tiết khác chúng ta mong được trải qua
khi ta đi vào khí quyển sấm sét của Emily
ta gặp phải “bóng đêm dài kinh hoàng” ôm lấy chúng ta
nhưng Emily không có lỗi. Emily bị kìm kẹp
“Sau khi tạo ra những nhân vật này, cô ấy không biết mình đã làm gì”
và Charlotte bình luận – về Heathcliff, Earnshaw và Catherine.
Thật ra có nhiều cách giam giữ một tù nhân.
Lúc này con bọ cạp đã búng nhẹ đậu xuống đầu gối trái chúng ta
Trong khi Charlotte vẫn cứ kết luận, “Cô ấy không hề thương xót chính mình”
Càng không thương xót những ngọn Đồi, nơi Emily gọi là Gió Hú
Bởi vì trên đó “gió gào thét”
bởi đó là “ngọn gió bắc thổi xiên mép vực”
Nhìn cơn gió bắc nghiền nát đồng hoang
thổi ào tứ phía ngôi nhà cha cô,
nhà xây bằng đá grit mài,
đã dạy cho Emily tất cả những gì cô biết về tình yêu và những nhu cầu của nó –
giáo dưỡng khắc nghiệt ấy đã nhào nặn nên cách các nhân vật của bà
lợi dụng lẫn nhau. “Tình yêu của tôi dành cho Heathcliff,” Catherine nói,
“Như những tảng đá vĩnh cửu ẩn dấu
niềm vui ít khi nhìn thấy, nhưng là thiết yếu.”
Thiết yếu ư? Tôi nhận ra mặt trời đã mờ đi
và không khí buổi chiều trở nên sắc lạnh.
Tôi quay người và đi ngược qua đồng đầm lầy để về nhà.
Những mệnh lệnh trói buộc nào
đã giữ những người như Catherine và Heathcliff
gần nhau và xa nhau, như những lỗ trống khắc trên tảng đá nóng
và rồi bị mắc kẹt ngoài tầm với
của nhau khi đá khô cứng lại? cái gì là thiết yếu?
Lần cuối tôi gặp Law là một đêm đen thẫm tháng Chín.
Mùa thu đã bắt đầu,
đầu gối tôi tê cóng trong lớp quần áo.
Một mảnh trăng lạnh lẽo treo lên.
Anh đứng trong phòng khách nhà tôi và nói
mà chẳng nhìn tôi. Không nhìn xoáy vào tôi,
anh nói về năm năm tình yêu chúng tôi.
Bên trong lồng ngực, tôi thấy tim mình chia hai mảnh
trôi dạt khỏi nhau. Đến lúc này tôi đã quá lạnh
có gì đang ngùn ngụt. Tôi đưa tay với
để chạm vào tay anh. Anh lùi lại.
Anh không muốn làm tình với em nữa, anh nói. Mọi thứ trở nên điên rồ.
Nhưng bấy giờ anh đang nhìn tôi.
Phải, tôi nói, khi bắt đầu cởi bỏ quần áo.
Mọi thứ trở nên điên rồ. Khi đã khỏa thân
Tôi quay lưng lại vì anh ấy thích phía sau.
Anh ấy chuyển động tiến vào tôi.
Mọi điều tôi biết về tình yêu và những thứ cần thiết của nó
tôi đã học được trong chính khoảnh khắc ấy
khi tôi thấy mình
chìa bộ mông bé nhỏ hằn đỏ nóng bừng, như khỉ baboon
cho người đàn ông không còn trân trọng tôi nữa.
Chẳng có vùng nào trong tâm trí tôi
chẳng kinh hoàng bởi hành động ấy, không phần nào trên cơ thể tôi
có thể làm khác đi.
Nhưng nói đến tâm trí và thể xác là né tránh vấn đề.
Linh hồn mới là nơi chốn,
nó trải rộng như bề mặt đá mài giữa cơ thể và tâm trí,
nơi những thiết yếu ấy nghiến nát chính nó.
Linh hồn là thứ tôi đã canh giữ suốt đêm đó.
Law đã ở lại với tôi.
Chúng tôi nằm trên chăn như thể đó không thực là đêm của giấc ngủ và thời gian,
vuốt ve nhau và hát cho nhau bằng ngôn ngữ của riêng chúng tôi
như những đứa trẻ chúng tôi từng là.
Đó là đêm của Thiên Đường gặp Địa Ngục,
như Emily sẽ nói. Chúng tôi đã cố gắng làm tình
nhưng anh ấy vẫn mềm nhũn, dù hạnh phúc. Tôi lên đỉnh
lần này đến lần khác, mỗi lần lại thêm tỉnh táo,
cho đến khi cuối cùng tôi bay bổng lên sát trần nhà nhìn xuống
hai linh hồn ôm lấy nhau trên chiếc giường
với những ranh giới phàm trần chia cắt họ
được vẽ ra xung quanh như những đường trên bản đồ.
tôi thấy những đường nét hằn rõ.
Anh bỏ ra đi vào buổi sáng.
Trời đã rất lạnh
tôi bước đi trong cơn gió dài tháng Tư gào thét.
Vào mùa này trong năm không có hoàng hôn
chỉ có vài chuyển sắc trong dòng ánh sáng, trời lịm dần đi.
(Còn tiếp)
[1] Emily Brontë có thói quen viết sai chính tả từ watcher (người nhìn / người quan sát) thành whacher. Carson giữ nguyên cách viết này và biến nó thành một khái niệm triết lý – thơ ca đặc biệt qua thuật ngữ “Whacher”.
[2] Nguyên tác trong tiếng Anh: Tell me, wether, is it winter? Carson bắt đầu bằng việc kể chuyện Emily Bronté thường có sự nhầm lẫn chính tả với những từ đồng âm với Whacher. Whacher vs weither.
[3] Đây là câu mở đầu của Thánh vịnh 130 (Psalm 130) trong Kinh Thánh Latin: “Từ vực sâu con kêu lên Ngài, lạy Chúa.” (Tiếng Anh thường dịch: Out of the depths I cry to you, O Lord.)
[4] Hình ảnh con bọ cạp trong đoạn thơ của Anne Carson là một ẩn dụ rất sắc và có chút hài hước đen. Trước hết chúng ta cần hiểu ngữ cảnh: Charlotte Brontë viết lời tựa cho tiểu thuyết Wuthering Heights của em gái Emily. Trong lời tựa, Charlotte cố gắng “bào chữa” và “giải thích” cho cuốn sách theo cách rất lịch sự, bình tĩnh, như một người làm quảng cáo khéo léo. Bà nói rằng Emily không kiểm soát được những gì mình viết, rằng cuốn sách giống như “thở ra sấm sét”, rằng Emily “không biết mình đã làm gì”… Trong bài thơ, Carson dùng hình ảnh “con bọ cạp” là ẩn dụ so sánh việc Charlotte nói chuyện như vậy với hình ảnh: “Like someone carefully not looking at a scorpion / crouched on the arm of the sofa…” Nghĩa là: Charlotte đang cố tình không nhìn thẳng vào thứ nguy hiểm, dữ dội, độc địa đang hiển hiện rước mắt mình (con bọ cạp). Con bọ cạp tượng trưng cho: Sự thật tàn khốc và hoang dã của Wuthering Heights (bạo lực, đam mê hủy diệt, sự tàn nhẫn của tình yêu, linh hồn bị xé nát…). Bản chất thật của Emily: một tâm hồn cực đoan, không thương xót chính mình, không “dễ thương” hay “an toàn” như Charlotte muốn trình bày. Cái “khủng khiếp” mà Charlotte đang cố gắng che đậy bằng ngôn từ êm dịu, hợp lý, hợp thức. Hình ảnh con bọ cạp vẫn bò từ từ xuống tay ghế, rồi nhảy nhẹ lên đầu gối của chúng ta ngụ ý rằng dù Charlotte cố tình lảng tránh, sự thật nguy hiểm vẫn đến gần người đọc (và cả người kể chuyện trong bài thơ). Ta không thể tránh khỏi nó. Ở có một ẩn ý của Anne Carson về “con bọ cạp” = thứ độc, nguy hiểm, không thể thuần hóa đang ngồi ngay đó, mà Charlotte (và những cách đọc “an toàn” về Emily) đang cố tình làm như không thấy. Carson dùng hình ảnh này để phê phán cách Charlotte (và nhiều nhà phê bình sau này) “khử độc” cho Emily, biến một thiên tài dữ dội thành một người phụ nữ “bị thần linh ám” chứ không phải là người chủ động, tàn nhẫn và tự do trong sáng tạo của mình.