Trái tim chó (kỳ 1)

Mikhail Bulgakov

Đoàn Tử Huyến dịch

Vào thời kỳ đầu của chính quyền Soviet, nhà khoa học Preobrajenski tiến hành một cuộc phẫu thuật nổi tiếng là dùng tuyến yên của con người cấy vào não bộ của một con chó có tên là Sarik để chứng minh cho học thuyết của ông là loài chó có thể nhanh chóng trở thành sinh vật có trí tuệ, bỏ qua thời kỳ “quá độ” vượn người phải mất hàng triệu năm tiến hóa. Cuộc thí nghiệm thành công mỹ mãn, Sarik nhờ sự can thiệp của y học hiện đại trở thành “công dân” Sarikov, nói được tiếng người và tham gia một cách tích cực vào những hoạt động xã hội của nhà nước công nông đầu tiên trên thế giới. Các tổ chức hội đoàn được thành lập ở nhà máy, xí nghiệp, tổ dân phố, cùng với những cuộc họp thâu đêm suốt sáng “đấu tranh” chống lại những phần tử phản cách mạng xem ra rất phù hợp với sở trường của gã người kiểu mới vừa thoát khỏi kiếp súc sinh.

Như một sự trùng hợp, học thuyết “đấu tranh giai cấp” cùng với hàng loạt kế hoạch hão huyền của những lãnh tụ cuồng tín nhanh chóng biến Sarikov thành kẻ đại diện cho tầng lớp vô sản lưu manh, giống như gã Clim Trugunkin chuyên trộm cắp, rượu chè, trêu ghẹo phụ nữ, và dối trá, vốn là sản phẩm đồng hành của chủ nghĩa xã hội trại lính được thiết lập ở nước Nga đầu thế kỷ XX.

Trước “hiện tượng” bất bình thường Sarikov, vị giáo sư đáng kính cay đắng nhận ra sự thất bại của mình. Biết là không thể “giáo dục” gã thành con người đúng với nghĩa của nó, nhà khoa học quyết định đưa “đồng chí công dân” Soviet hoàn nguyên thành con chó Sarik bằng cuộc phẫu thuật cắt bỏ tuyến yên để loại trừ mối nguy hiểm cho xã hội.

Cuốn sách được viết vào năm 1925 chứng tỏ một dự đoán thiên tài của nhà văn Mikhaiil Bulgakov về sự ra đời và kết thúc của một nhà nước dựa trên thứ học thuyết không tưởng mà phần cốt lõi của nó là “đấu tranh giai cấp” và “chuyên chính vô sản” sau hơn bảy mươi năm thí nghiệm kéo nước Nga vào cuộc nội chiến đẫm máu và tụt hậu so với phần còn lại của thế giới.

Văn Việt xin giới thiệu toàn văn cuốn tiểu thuyết đặc sắc này với bạn đọc trong và ngoài nước.

Văn Việt


Chương 1

Ư-ư-ư-ư-ư-hư-hư-hư-ư!

Ôi khốn nạn thân tôi, tôi chết mất đây! Dưới vòm cổng, bão tuyết đang gào rít bản nhạc tống biệt tôi, và tôi cũng tru lên cùng với gió tuyết.

Đời tôi thế là hết, thế là hết thật rồi. Một thằng súc sinh đội mũ không vành cáu bẩn, cái lão đầu bếp ở nhà ăn bình dân của các nhân viên thuộc Hội đồng Kinh tế Quốc dân Trung ương ấy, đã hất nước sôi làm bỏng cả một bên sườn trái của tôi. Cái đồ đểu giả đến vậy, mà lại còn là vô sản nữa chứ! Trời đất ơi, đức Chúa của tôi ơi, đau quá! Nước sôi bỏng thấu tận xương. Bây giờ tôi chỉ biết tru lên, nhưng tiếng tru nào phỏng giúp được gì.

Tôi đã làm gì động đến hắn? Chẳng lẽ nếu để tôi đào bới trong đống thức ăn thải thì cái Hội đồng Kinh tế Quốc dân kia sẽ khánh kiệt đi sao? Đồ súc sinh bần tiện! Có khi nào đó các người thử nhìn cái mặt của hắn xem – chiều ngang rộng hơn chiều dọc!

Một thằng ăn cắp mặt dầy. Ôi, bàn dân thiên hạ ôi! Giữa trưa, hắn dội cho tôi một gầu nước sôi, còn bây giờ trời đã nhập nhoạng tối, cứ ước theo mùi hành phi bay ra từ khu nhà ở của đội cứu hoả phố Pretnstenka(1) thì chắc đã khoảng bốn giờ chiều rồi. Như các ngườibiết đấy, bữa tối lính cứu hoả thường ăn cháo. Đấy là một món mạt hạng, cũng giống như nấm ấy. Thế nhưng mấy thằng chó đúc quen trên phố Pretristenka lại kể rằng, dường như ở nhà hàng “Bar” trên đại lộ Neglinnưi người ta thường chén món nấm dầm nước sốt cay giá ba rúp bảy mươi lăm kôpếch một suất. Tuy nhiên đó là chuyện khẩu vị từng người, nó cũng chẳng khác gì việc liếm giày cao su vậy…

Ư- ư- ư- ư- ư…

Hông đau không chịu nổi, và tôi đã thấy rõ mồn một cái viễn cảnh của tôi: ngày mai sẽ bắt đầu những vết loét, và thử hỏi lúc đó tôi lấy gì để chữa chạy? Mùa hè thì còn có thể dông tuốt lên công viên Sokoniki, ở đấy có một loại cỏ đặc biệt làm thuốc hết sẩy; ngoài ra đến đó còn được chén đẫy không mất tiền các mẩu lạp xường thừa, tha hồ liếm láp những tờ giấy gói đẫm mỡ mà quý vị công dân vứt tứ tung khắp nơi. Và nếu như không gặp phải một mụ già cáu bẳn nào đó hát trong dàn đồng ca dưới trăng

- “Ôi Aida yêu dấu” – đến rụng tim, thì cuộc đời thật sự hết ý. Còn bây giờ tôi biết đi đâu? Người ta có thường phết giày vào đít các người không? Có chứ. Các người đã được nếm món gạch chọi vào sườn chưa? Từng xơi đủ. Tôi đã trải qua tất cả, tôi nhẫn nhục cam chịu cái số kiếp của mình. Nếu bây giờ tôi khóc rên thì cũng chỉ là bởi thân xác của tôi lạnh cóng và đau đớn, vì linh hồn tôi hãy còn chưa tắt… Linh hồn loài chó vốn sống dai.

Nhưng thân thể tôi thì đã bị tàn giập, xơ xác, cái giống người hành hạ giày vò nó kể cũng gớm ghê. Nhưng khủng khiếp nhất là từ khi cái lão kia hắt nước sôi làm tôi bỏng chín đến tận chân lông, bên sườn trái của tôi thế là không còn gì bảo vệ nữa. Tôi có thể rất dễ dàng bị viêm phổi; mà một khi đã viêm phổi thì, kính thưa các quý công dân, tôi sẽ chết đói nhăn răng. Bởi vì bị viêm phổi rồi thì phải nằm dưới cầu thang ở lối cổng chính, nhưng nếu thế hỏi ai sẽ thay tôi, một con chó đực độc thân nằm bẹp một chỗ, chạy đi bới các thùng rác để kiếm miếng ăn? Sưng phổi rồi, tôi sẽ phải bò lê bò lết, sẽ kiệt sức, và bất kỳ một tay chuyên viên thu dung nào cũng cóthể dùng gậy đập tôi đến chết. Còn bọn quét sân mang những tấm biển trên áo đồng phục sẽ túm lấy chân tôi mà quẳng lên xe ngựa chở rác. Trong toàn bộ thế giới vô sản thì bọt người quét sân là loại khốn nạn nhất. Các phế vật của con người ấy là thuộc giống hạđẳng tột cùng. Dân đầu bếp thì còn có ba bảy loại. Chẳng hạn, như ông Vlas vừa quá cố ở phố Pretristenka. Ông ta đã cứu bao nhiêu là mạng chó. Bởi vì, cái quan trọng hàng đầu khi ốm đau là kiếm được miếng ăn khơ khớ. Vậy mà, như các lão chó già kể lại, nhiều khi ông Vlas ném cho chúng những miếng xương, mà dính trên miếng xương đó có đến hàng nửa lạng thịt. Cầu mong cho linh hồn ông cụ được yên nghỉ. Ông cụ mới thật là một nhân cách chân chính, một đầu bếp quý tộc của các bá tước Tolstoi, chứ đâu phải của Hội đồng ăn uống bình dân. Mà không biết người ta làm cái gì ở trong ngành ăn uống bình dân ấy, cái đầu óc chó này thật chẳng làm sao hiểu nổi? Bởi vì họ, cái bọn người đểu cáng đó, chuyên nấu xúp bằng thịt ngựa muối thối, còn những kẻ được phục vụ tội nghiệp kia thì không hề biết gì cả. Cứ kéo đàn, kéo lũ đến húp sạch, ngốn láo!

Có cô nhân viên đánh máy nọ nhận lương bậc chín, bốn mươi lăm rúp một tháng, tuy thực ra cô ta còn được người tình bao cho đôi tất dài dệt kim. Nhưng vì cái món dệt kim này mà cô ta phải chịu đựng bao nhiêu là sự khinh nhục. Cái gã người tình cứ bắt cô ta phải làm tình theo kiểu Pháp chứ không phải bằng một cách bình thường nào khác. Tôi xin nói riêng giữa chúng ta với nhau, bọn Pháp là một lũ chó chết. Mặc dù họ ngốn toàn những thứ sang, bữanào cũng nốc rượu vang đỏ. Thế đấy… cô đánh máy nọ hàng ngày chạy đến nhà ăn này, bởi vì với bốn mươi lăm rúp thì không thể vào nhà hàng “Bao” được. Thậm chí đi xem xiên cô ta cũng không đủ tiền, mà đối với đàn bà thì xinê là thứ giải trí duy nhất trong cuộc đời. Run rẩy, nhăn nhó, nhưng vẫn phải nuốt…

Thử nghĩ mà xem: bốn chục xu hai món, mà thực ra cả hai món nàychưa đáng giá mười lăm xu, vì hai mươi lăm xu còn lại đã bị lão trưởng phòng quản trị ăn bớt mất rồi. Mà chẳng lẽ cô ta lại cần một bữa ăn như vậy? Hai lá phổi của cô ta đã có vấn đề rồi còn căn bệnh phụ khoa kiểu Pháp, mà ở cơ quan thì bị trừ lương, vào nhà ăn thì bị người ta thí cho thịt thối. Cô ta kia, đấy cô ta kia kìa… Đang chạy ra cổng, đi đôi bít tất dài của người tình cho. Chân lạnh cóng; gió thổi lọt vào bụng, vì áo len trên người cô ta cũng chẳng khác gì lông trên người tôi, còn quần thì mỏng tanh; chỉ là một vòngđăng ten? Phải xé tươm ra cho người tình. Nếu cô ta mặc vải phlanen, cứ thử xem, gã sẽ gào toáng lên: Sao cô thô thiển thế! Mỗ đã chán ngấy cái cô ả Mat’rena của mỗ rồi, mỗ đã chịu bao nhiêu khốn khổ với cái quần vải phlanen, bây giờ đến thời đại của mỗ. Bây giờ mỗ là chủ tịch, cóp được bao nhiêu mỗ xài hết cho món đàn bà, thịt tôm càng và rượu Abrau Durso. Bởi vì thời trẻ mỗ đã phải nếm quá nhiều những đói khát, với mỗ thế là đủ, mà cuộc sống ở thế giới bên kia thì không tồn tại.

Tôi thật cám cảnh cô ta, ôi thật cám cảnh! Nhưng tôi còn cám cảnh bản thân mình hơn. Không phải vì ích kỷ mà tôi nói như vậy, ồ không đâu, mà vì hoàn cảnh giữa tôi và cô ta thật sự không như nhau. Cô ta ít ra còn được ấm áp khi về nhà, còn tôi, còn tôi… Tôi biết đi đâu? Bị đánh đập, bị dội bỏng, bị hắt hủi, tôi còn biết đi đâu?

Ư-ư-ư-ư-ư?

- Chúc, chúc, chúc! Sarik, à Sarik! Gì mà mày rên rỉ thế, hở con chó tội nghiệp? Ai đánh mày hả? Ôi,…

Con mụ phù thuỷ bão tuyết khô, xô quật cánh cổng ầm ầm, cưỡi chổi tông thẳng vào tai cô gái, hất ngược váy cô ta lên quá đầu gối: để lộ ra đôi bít tất màu kem sữa và một dải hẹp của chiếc quần lót bằng đăng ten giặt không sạch, bóp nghẹn lời nói cửa cô ta, phủ tuyết lên người chó.

- Trời đất ôi… Thật là thời với tiết thế này… Ôi Bụng đau quá! Đây là do thịt ngựa thối, cái món xúp ngựa thối? Biết đến bao giờ thì hết những cảnh này hở trời?!

Chúi đầu xuống, cô gái xông vào chịu trận cùng bão tuyết, tiến ra phía cổng; ở ngoài phố gió bắt đầu quay tròn, xô nghiêng ngả, rồi vây cô ta trong một cột tuyết mù mịt; và cô gái biến mất.

Còn con chó thì nằm dài dưới vòm cổng, đau đớn rên rỉ với bên sườn bị bỏng, nép mình vào sát bức tường lạnh giá, thở dốc lên và thầm chắc rằng sẽ không rời nơi này đi đâu nữa, sẽ chết bỏ xác tại đây, dưới cái vòm cổng này. Sự tuyệt vọng làm nó gục hẳn. Trong lòng nó đau đớn và cay đắng cùng cực cô đơn và kinh hoàng đến nỗi những giọt nước mắt chó nhỏ tí như những chiếc mụn cơm ứa ra trên tròng mắt rồi lập tức khô ngay. Lông bên sườn trái bết lại thành từng búi đông cứng, và ở giữa chúng là những mảng da bỏng đỏ bầm đáng sợ. Cái bọn đầu bếp mới vô nghĩa, mới ngu độn và tàn ác làm sao? Còn cô ta gọi nó là “Sarik”… Tại sao lại “Sarik” được? Sarik(1) thì phải tròn trĩnh, béo tốt, đần độn, ăn cháo kiều mạch, dòng giống quý tộc; còn nói chỉ là một con chó vô chủ, xơ xác, gầy còm, bẩn thỉu.

Nhưng mà thôi, dẫu sao cũng cảm ơn cô nương vì những lời tốt đẹp!

Cánh cửa của một cửa hàng mua bán ánh điện sáng rực rỡ ở phía bên kia đường bật mở, và từ trong đó bước ra một quý ông. Chính là quý ông chứ không phải đồng chí, và nếu nói một cách chính xác nhất – là quý ngài. Càng đến gần càng thấy rõ đúng là quý ngài. Các người nghĩ rằng đó là tôi đoán qua áo bành tô chứ gì? Vớ vẩn. Bành tô thì bây giờ rất nhiều người vô sản cũng mặc. Thật ra, cổ áo có khác nhau, điều đó chẳng cần phải nói, nhưng dù sao đứng xa vẫn có thể nhầm. Còn qua cặp mắt thì dù gần, dù xa cũng không thể nào nhầm lẫn được: ôi, con mắt là vật rất có giá trị. Nó giống như một chiếc gương, một máy đo độ, qua đó có thể thấy ai là người tâm hồn cao cả, ai là người vô căn vô cớ có thể thọc mũi giày vào mạng sườn, còn ai là kẻ thấy người nào cũng sợ. Chính cái loài đầy tớ hèn nhát đó tôi thường thích đớp cho một phát vào bắp chân. Đã sợ thì cho chết. Một khi đã sợ thì dáng lắm…

Gâ – gâ – gâ..

Gâ u – gâ u…

Quý ngài nọ tự tin đi qua mặt đường ngập trong bão tuyết và tiến vào cổng. Đúng, đúng, trông dáng quý ngài này có thể thấy được tất cả. Quý ngài đây thì sẽ không bao giờ chén thịt ngựa thối; còn nếu ở đâu đó người ta mang thịt thối đến cho quý ngài, thì quý ngài sẽ quát tháo ầm ĩ, sẽ viết lên báo: người ta dám cho tôi, Philip Philippôvich, ăn thịt thối!

Quý ngài mỗi lúc một đến gần, đến gần hơn. Ông này luôn luôn được ăn uống đầy đủ và chẳng bao giờ ăn cắp. Ông này không thượng cẳng chân hạ cẳng tay với ai, nhưng tự mình cũng đếch sợ ai cả, và đếch sợ là vì bao giờ cũng no đủ. Ông này là một quý ngài lao động trí óc, với bộ râu nhọn kiểu Pháp, hàng ria bạc trắng, mềm mại và ngang tàng như ria của những hiệp sĩ Pháp, nhưng từ người quý ngài toả ra trong gió tuyết một thứ mùi kinh tởm – mùi bệnh viện. Và mùi thuốc lá nữa.

Thử hỏi ma quỷ nào lôi quý ngài vào cái hợp tác xã mua bán ấy của Hội đồng Kinh tế Trung ương? Nó ở kia… Quý ngài tìm cái gì ở đó?

Ư- ư- ư- ư… Quý ngài có thể mua gì trong cái cửa hàng tẹp nhẹp kia, chẳng lẽ phố Okhotnưi Riad(2) đối với quý ngài còn chưa đủ sao? Cái gì kia nhỉ? Giò- ó- ó? Thưa quý ngài, nếu như quý ngài được thấy gió này người ta làm bằng gì, thì chắc quý ngài đã không đến gần cái cửa hàng kia. Hãy để nó lại cho tôi đi?

Con chó dồn hết chút sức lực còn lại, và trong cơn mất trí nó bò từ vòm cổng ra mặt hè. Bão tuyết gào như súng quét trên đầu, giật ngược những hàng chữ cái đồ sộ của tấm biểu ngữ bằng vải “Có thể làm con người trẻ lại được không?”(3) Hiển nhiên là có thể. Mùi thơm của thức ăn đã làm cho tôi trẻ lại,nâng tôi đứng lên, những luồng sóng nóng bỏng chảy đầy cái dạ dày của tôi đã hai ngày đêm trống rỗng, nó đánh bạt cả mùi bệnh viện!

- Ôi cái mùi thiên đường của giò băm với tỏi và ớt! Tôi cảm thấy, tôi biết rõ – quý ngài mang giò trong túi bên phải của chiếc áo choàng lông. Quý ngài ở ngay phía trên tôi. Ôi, ông chủ của con. Hãy nhìn con một tí. Con đang chết mất đây. Ôi, cái linh hồn nô lệ của chúng tôi, ôi cái số phận đểu giả của chúng tôi!

Con chó trườn lê bụng như rắn, nước mắt đầm đìa. Hãy nhìn xem công tích của lão đầu bếp đây? Tuy nhiên quý ngài chẳng bao giờ chịu cho đâu. Ôi, tôi đã quá biết những người giàu có rồi! Nhưng thực ra mà nói – quý ngài cần nó để làm gì? Cái thứ thịt ngựa thối ấy thì quý ngài dùng làm gì? Không ở đâu ngoài cửa hàng nông nghệ phẩm Moskva quý ngài có thể kiếm được cái bả độc ấy đâu. Mà quý ngài thì hôm nay đã ăn sáng rồi, quý ngài là một nhân vật có tên tuổi thế giới nhờ những tuyến sinh dục đực.

Ư-ư-ư-ư… Cái gì đang diễn ra trên đời thế này? Chết bây giờ thì hẳn còn sớm quá, tuyệt vọng là một tội lỗi thật sự. Phải liếm tay quý ngài thôi, ngoài ra không còn cách nào khác.

Quý ngài bí ẩn cúi xuống bên con chó, cặp kính gọng vàng lấp lánh, rồi rút từ túi phải ra một gói giấy trắng dài. Không bỏ bít tất tay, quý ngài cởi tờ giấy gói ra – nó lập tức bị gió cuốn lấy – bẻ một mẩu giò có cái tên là “Giò Cracov đặc biệt”. Và ném mẩu giò đó cho con chó. Ô, một tấm lòng hào hiệp?

Ư-ư-ư!

- Chi – iu – chi – iu, – quý ngài huýt gió và nói thêm bằng giọng nghiêm khắc:

- Ăn đi! Sarik, Sarik!

Lại Sarik. Người ta đã đặt tên cho rồi đấy. Mà quý ngài muốn gọi thế nào cũng được, vì cái cử chỉ đặc biệt khác thường của quý ngài.

Con chó lập tức xé lớp giấy bóng bọc ngoài, vừa nấc vừa ngoạm vào khúc giò Cracov và ngốn chửng nó trong chớp nhoáng.

Miếng giò lẫn tuyết mắc nghẹn lại nơi cổ họng làm chảy nước mắt, vì quá tham ăn nên nó suýt nuốt luôn cả sợi dây buộc.

Nữa.

Con xin hôn gấu quần của ngài nữa, con còn xin liếm tay ngài nữa, hỡi ân nhân của con!

- Bây giờ chừng ấy hẵng… – quý ngài nói ngắt quãng từng tiếng một như thể hô khẩu hiệu, cúi xuống bên Sarik, tò mò nhìn vào mắt nó, rồi đột ngột đưa bàn tay đi găng âu yếm và thân mật vuốt dọc bụng chó.

- A – ha, – quý ngài thốt lên đầy ngụ ý, – không có vòng cổ, như vậy là rất tốt, ta đang cần đúng nhà ngươi đây. Đi theo ta.

-Quý ngài bật ngón tay.

- Chiu-chiu!

Đi theo quý ngài ư? Dù cho đến tận cùng trời cuối đất! Hãy cứ đá con bằng đôi ủng phớt của quý ngài đi, con sẽ chẳng hé răng kêu ca lấy một lời nào đâu.

Đèn sáng rực rỡ khắp phố Prétristenka. Bên sườn đau khủng khiếp, nhưng Sarik thỉnh thoảng lại quên nó đi, bị cuốn hút bởi một ý nghĩ làm sao để giữa phố đông người không lạc mất cái hình bóng thần thánh trong chiếc áo choàng lông và bằng cách nào có thể bày tỏ lòng yêu kính và trung thành với quý ngài. Và nó đã bày tỏ được điều đó bảy lần trên suốt quãng đường từ Pretristenka đến ngõ Obukhov. Hôn vào ủng; ở Ngõ Chết, trong khi rẽ đường, bằng tiếng sủa điên dại đã làm cho một bà hoảng sợ đến ngã ngồi xuống ghế đá; hai lần tru lên để duy trì lòng thương hại đối với mình.

Một con mèo hoang chết tiệt nào đó, làm bộ như thuộc giống Sibin, từ phía sau ống dẫn nước chui ra, và bất chấp bão tuyết vẫn đánh hơi được mùi giò Cracov. Sarik thấy trời đất như tối sầm lại khi thoáng nghĩ, biết đâu quý ngài kỳ quặc giàu có đi lượm những con chó bị thương dưới các vòm cổng này lại nhặt luôn cả cái đồ chuyên ăn cắp kia đi theo mình, và như vậy có nghĩa là phải chia bớt cho con mèo chết tiệt món hời của cửa hàng nông nghệ Moskva. Nghĩ vậy chó ta mới đánh dập hai hàm răng vào nhau dữ tợn đến nỗi con mèo rít lên như tiếng phì của ống dẫn khí bị thủng và theo cột máng lao vọt lên tận tầng hai.

Gừ-ư-ừ-gâu? Cút! Cả cửa hàng nông nghệ Moskva cũng không đủ cho những loại bẩn thỉu lang thang trên phố Pretristenka như mày đâu!

Quý ngài đã đánh giá sự trung thành đó và khi đến cạnh khu nhà của đội cứu hoả, ngay dưới cửa sổ nơi từ phía trong phát ra tiếng kèn eo êm tai, lại thưởng thêm cho chó mẩu giò thứ hai, lần này nhỏ hơn, chừng một phần tư lạng.

Ấy sự việc hoá ra thật ngược đời. Quý ngài lại đi lấy lòng mình! Xin quý ngài đừng lo! Con sẽ chẳng chạy đi đâu. Con sẽ theo quý ngài, dù cho quý ngài có ra lệnh đi tới chốn nào.

- Chiu-chiu? Đi đường này.

Đến Obukhov ạ? Xin vâng! Cái ngõ này thì chúng con biết rất rõ.

- Chiu-chiu!

Đi đường này ạ? Sẵn sà… Ô, không đâu, xin phép ngài! Không thể ạ. Ở đây có lão gác cửa. Mà trên đời này không có gì tồi tệ hơn bọn người gác cửa.

Nguy hiểm hơn lũ quét sân gấp nhiều lần.

Mộtgiống đáng ghét tuyệt đối. Tồi tệ hơn cả giống mèo. Quân đồ tể mặc chế phục(4) thêu kim tuyến.

- Kìa, ngươi đừng sợ, đi nào.

- Xin chào ông Philip Philippovich.

- Chào ông Pheđor.

Đây mới là một con người chứ! Lạy chúa! Người đã xui khiến cho ta được gặp ai thế này, hỡi số phận loài chó của ta! Phải là một nhân vật tầm cỡ nào mới có thể mang chó hoang ngoài phố vào nhà của Công ty nhà ở ngay trước mũi người gác cửa chứ? Các người hãy trông kìa – cái lão đểu cáng kia cứ im thin thít, không dám ho he gì! Thực ra, trong mắt lão ta có vẻ ảm đạm, nhưng nói chung mặt lão khá thản nhiên dưới vành mũ thêu kim tuyến. Dườngnhư chuyện đưa chó hoang vào nhà là được phép ấy. Lão ta tỏ vẻ tôn kính làm sao, các ngài ơi, mới tôn kính làm sao! Thế đấy, còn tôi, tôi đi cùng với quý ngài, tôi đi theo quý ngài. Sao, dám chạm đến ta à? Bây giờ thì đừng có hòng. Giá như đớp được một miếng vào cái ống chân vô sản chai sần kia. Để trả thù tất cả những nhục mạ của bè lũ các người dành cho ta. Đã bao nhiêu lần quậtchổi vào mõm ta, hả?

- Đi nào, đi nào!

Con hiểu, con hiểu rồi, xin quý ngài đừng lo lắng gì cả. Quý ngài đi đâu, chúng con đi đấy. Chỉ cần quý ngài chỉ đường, con sẽ không tụt lại đâu, mặc dù bên sườn của con còn đau không thể nào chịu nổi.

Từ trên cầu thang vọng xuống:

- Tôi không có thư à, Phedor?

Từ phía dưới hướng lên cầu thang đầy kính cẩn:

- Không ạ, thưa ông Philip Philippovich (thì thầm tin cẩn nói đuổi theo): Còn căn hộ số ba, người ta đã phân người đến ở tập thể.

Vị ân nhân quan trọng của chó quay phắt lại trên bậc cầu thang và cúi gập người qua hàng lan can, kinh hoàng hỏi:

- Sao, sao?

Mắt quý ngài mở tròn xoe và ria dựng ngược lên.

Lão gác cửa ở phía dưới ngửa mặt, lấy bàn tay hứng vào dưới môi và khẳng định:

- Đúng thế đấy ạ, những bốn nhân mạng đến.

- Trời đất. Tôi không hình dung nổi bây giờ khu nhà sẽ như thế nào. Thế họ thì sao?

- Thưa, không sao cả ạ.

- Còn Phedor Pavlovich?

- Đang đi lấy gỗ và gạch. Sẽ xây vách ngăn.

- Có quỷ biết thế này là thế nào nữa!

- Trừ căn hộ của ông, tất cả các căn hộ sẽ có người đến ở, thưa ông Philip Philippovich. Vừa rồi có cuộc họp, bầu ra hội đồng nhà cửa mới, còn hội đồng cũ thì bị đá đít rồi.

- Lắm chuyện thế đấy. Ai-ai-ai… Chiu chiu.

Con đi đây, con chạy đây. Sườn trái của con, quý ngài có thấy không, nó làm con đau lắm, xin phép được liếm ủng quí ngài.

Chiếc mũ thêu kim tuyến của lão gác cửa đã khuất ở phía dưới. Trên chiếu nghỉ đầu cầu thang lát đá hoa, hơi ấm toả ra từ những ống lò sưởi. Một lần quặt nữa – và gác hai đây rồi.

M.B.

(còn tiếp)

Chú thích (tất cả chú thích đều của người dịch)

1- Quả cầu, quả bóng bay.

2- Tên một phố buôn bán sầm uất ở Moskva.

3- Vào những năm 20, khắp Moskva sôi nổi bàn tán về khả năng y học làm cho con người trẻ lại. M. Bulgakov viết truyện này dựa trên cơ sở của ý tưởng viển vông đó.

4- Những người gác cửa, thường trực ở các cơ quan, nhà ở sang trọng đều mặc chế phục riêng.

Comments are closed.