Nguyễn Đức Lực

Từ hôm bà Anne Carson được Nobel Văn chương, nhiều người tìm sách bà đọc thử rồi kêu trời. Có người chê thẳng, rằng thơ gì mà “như học sinh tiểu học viết”, đọc xong không biết mình phải cảm gì.
Tôi không định bênh bà, bà chẳng cần ai bênh. Tôi chỉ băn khoăn, chữ bà dùng toàn chữ cũng dễ đọc dễ hiểu, câu thì ngắn, vậy sao đọc mãi không vào? Và chẳng lẽ Viện Hàn lâm Thụy Điển trao giải cho một người viết cốt để không ai hiểu ư?
I
Bài dễ đọc nhất của bà là The Glass Essay [1]. Bài mở đầu bằng mục tên là I (tôi). 4 giờ sáng người đàn bà tỉnh dậy, nghĩ tới người đàn ông đã bỏ đi hồi tháng 9. Chị vào nhà tắm rửa mặt rồi quay lại giường. Mục ấy hết ở câu: “Ngày mai tôi sẽ đi thăm mẹ tôi”.
Mục kế tên là SHE (bà ấy). Mẹ chị sống một mình trên vùng đồng hoang phía bắc. Chị đi tàu cả ngày, mang theo rất nhiều sách, trong đó có toàn tập Emily Brontë (nữ văn sĩ Anh thế kỷ 19, tác giả Đồi Gió Hú). Chị viết: “Đây là tác giả tôi thích nhất. Cũng là nỗi sợ lớn nhất của tôi”.
Mục thứ 3 tên là THREE (ba), mở bằng câu: “Ba người đàn bà im lặng bên bàn bếp”. Thế nhưng trong bếp chỉ có hai mẹ con đang ngồi nhai rau diếp. Cuốn Emily Brontë thì mở sẵn, dựng vào hũ đường. Người thứ ba là ai, bà Carson không viết ra!
Chắc ta đã thấy phần nào vấn đề. Cả ba mục không có chữ nào khó. Người yêu bỏ đi, bà mẹ ở quê, một nữ văn sĩ chết từ năm 1848, ba chuyện đặt cạnh nhau mà không có lấy một câu liên kết chúng lại. Mà khốn nỗi, mình lại quen đọc loại thơ buồn thì khai là buồn, nhớ thì khai là nhớ, nên đọc tới đây thì hụt hẫng, rồi quay ra bảo người viết dở!
II
Cuốn Short Talks [2] có một bài dài đúng bảy câu, tên là Bàn về chuyện đi giật lùi. Mẹ cấm mấy đứa con đi giật lùi, vì người chết đi như thế. Bà đoán mẹ nghe được chuyện ấy từ một bản dịch tồi (dân dịch sách có khác, nghĩ ngay tới dịch!). Rồi bà viết rằng, người chết không đi giật lùi, họ đi sau lưng mình, họ không có phổi nên không gọi được mà rất mong mình quay lại. Câu cuối là: “Họ là nạn nhân của tình yêu, nhiều người trong số họ”. Nghĩa là chỉ trong bảy câu, bà đi từ lời mẹ dặn sang chuyện dịch sách, sang người chết, rồi dừng ở tình yêu; mà giữa các chặng ấy không hề có một chữ vì thế hay cho nên nào.
Cuốn Economy of the Unlost [3] thì bà đem Simonides, nhà thơ Hy Lạp sống cách đây 2.500 năm, đặt cạnh Paul Celan, nhà thơ Do Thái viết tiếng Đức ở thế kỷ 20. Hai ông không cùng thời, không cùng tiếng nói, không ai biết ai. Tại sao lại đặt họ cạnh nhau? Bà trả lời ngay ở trang đầu: “Muốn giữ cho sự chú ý được mạnh thì đừng để nó ngồi yên một chỗ”. Bởi quan niệm như thế, bà nói về hai người cùng lúc, để người này không cho người kia ngồi yên. Bà còn viết: “Đôi khi muốn nhìn rõ một vật trên trời, ta nên nhìn sang một thứ khác ở cạnh nó”.
Cuốn Men in the Off Hours mới thực sự nổ não, [4] mở đầu bằng bài đặt sử gia Thucydides của Hy Lạp cổ cạnh nữ văn sĩ Anh Virginia Woolf, hai người cách nhau hơn 2.300 năm, cùng viết về lúc một cuộc chiến tranh bắt đầu. Cũng trong cuốn ấy bà cho Sappho, Tolstoy với ông Lazarus trong Kinh Thánh lần lượt lên truyền hình. Cuốn Norma Jeane Baker of Troy [5] thì nhập nàng Helen thành Troy với Marilyn Monroe làm một người, xen giữa là mấy bài học lịch sử chiến tranh. Còn The Beauty of the Husband [6] kể chuyện một cuộc ly hôn, mà giở phần chú thích cuối sách thì thấy Homer, Charlotte Brontë, nhà văn Nhật Oe Kenzaburo, một bản cantata của Bach với cả kinh Talmud của người Do Thái. Đọc một cuốn kể chuyện vợ chồng bỏ nhau mà phải biết cả Homer lẫn Bach, bảo sao người ta không kêu trời!
III
Thực ra bà viết thế là có chủ ý. Năm 2004, trả lời tạp chí The Paris Review [7], bà kể bà làm việc ở ba cái bàn, mỗi bàn mở sẵn một việc, bàn nghiên cứu, bàn viết văn, bàn vẽ. Có khi trong một giờ bà ngồi cả ba bàn. Bà bảo ba việc ấy “thụ phấn chéo cho nhau”.
Bà còn nói rằng, một bài thơ viết đạt là “một hành động của trí óc được giữ lại trên trang giấy”. Người đọc phải bước vào mà làm lại đúng hành động ấy, tới cuối bài thì mình đã khác lúc đầu. Tức là anh muốn hiểu thì anh phải nghĩ lại từ đầu như bà, chứ bà không nghĩ hộ.
Tôi nghĩ, bà quen viết thế từ mấy tờ giấy rách. Bà dịch thơ Sappho, nữ thi sĩ Hy Lạp sống cách đây 2.600 năm, mà thơ Sappho còn lại hôm nay phần lớn là những mẩu giấy cói thủng lỗ chỗ, có mẩu bé hơn con tem. Chỗ nào giấy rách, bà đánh một dấu ngoặc vuông. Trong lời chú bản dịch [8], bà viết: “Dấu ngoặc thú vị lắm”, vì chúng mở ra “một khoảng trống cho trí tưởng tượng phiêu lưu”. Với The Paris Review bà nói thêm, chỗ bài thơ đứt thì có một khoảng trống mà lẽ ra ở đấy là một ý nghĩ. Theo bà, chẳng ý nào viết ra cho trọn lại hút người ta và ma mị bằng cái ý chỉ được gợi ra.
Trong cuốn Eros the Bittersweet [9], bà dẫn lời Aristotle (triết gia Hy Lạp sống cách đây hơn 2.300 năm), rằng ẩn dụ là đem hai thứ khác hẳn nhau đặt lại gần để lộ ra chúng có họ với nhau. Hai thứ càng xa nhau thì người nghe càng phải nghĩ lâu mới ra.
IV
Nhiều người đang chê bà sẽ ngạc nhiên nếu biết rằng, kiểu thơ ấy chính họ đã học thuộc lòng từ năm lớp 11. Bài Đây thôn Vĩ Dạ của Hàn Mặc Tử, khổ đầu là “nắng hàng cau” với “vườn ai mướt quá”, khổ 2 nhảy sang “Gió theo lối gió, mây đường mây”, khổ 3 thì “Mơ khách đường xa, khách đường xa”. Ba khổ ba cảnh, không có câu nào chuyển. Mấy chục năm nay học trò cả nước vẫn phải làm văn đi tìm xem ba khổ ấy liên kết với nhau ở đâu (và phần đông là chép văn mẫu!).
Gần đây hơn thì có bài Những người trồng hoa của ông Nguyễn Quang Thiều. Bài thơ kể hai người. Người thứ nhất trồng hồng, chủ nhật ngồi uống trà ngắm hoa. Người thứ hai bị gọi là kẻ điên vì đi nhổ tung từng khóm hồng lên, để tìm một người bị giết trong đêm, “xác vùi dưới một khóm hoa”. Ai giết, hai người trồng hoa ấy liên quan gì tới nhau, ông Thiều không viết ra. Tháng 3 năm 2025 bài này được đưa vào đề thi học sinh giỏi Văn của tỉnh Quảng Nam. Hơn một năm sau nó bị đem lên mạng chửi, rằng thơ gì mà không vần, đọc như văn xuôi, lại còn có cả xác chết! Chê bà Carson khó hiểu thì cũng là chê kiểu ấy thôi.
Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh cũng không kể theo thứ tự trước sau. Gần cuối sách có một người kể khác xuất hiện, kể mình cầm cả chồng bản thảo mà xếp mãi không ra thứ tự, vì “trang nào cũng hầu như là trang đầu, trang nào cũng có vẻ là trang cuối”. Nghĩa là người đọc cuốn ấy cũng phải tự xếp lại chuyện nào trước, chuyện nào sau.
Có thể nói, bà Carson chẳng bày ra trò gì mới; thơ văn xưa nay vẫn thế, vẫn tin là người đọc tự nghĩ được.
V
Nhưng bắt người đọc tự kết nối, tự tưởng tượng thì được cái gì? Tôi nhớ tới một thí nghiệm hơn 100 năm trước của đạo diễn Liên Xô Lev Kuleshov. Đại ý là, ông ấy lấy một cảnh quay khuôn mặt diễn viên Mozzhukhin, mặt không tỏ ra vui buồn gì hết, rồi ghép nó sau cảnh một đĩa súp, sau cảnh một cỗ quan tài, sau cảnh một cô gái nằm trên ghế dài. Khán giả xem xong khen anh diễn viên diễn giỏi quá, nhìn đĩa súp thì đói thật, nhìn quan tài thì đau thật! Mà nào anh ta có diễn gì đâu, vẫn một khuôn mặt ấy, khán giả tự liên kết hai cảnh lại rồi tự thấy buồn thấy đói.
Đạo diễn Eisenstein, cũng người Liên Xô, năm 1929 còn lấy chữ Hán ra làm ví dụ. Chữ khẩu 口 (cái miệng) đặt cạnh chữ điểu 鳥 (con chim) thì thành chữ minh 鳴, nghĩa là hót. Hai hình ghép lại ra một nghĩa mà không hình nào có sẵn.
Năm 1978, hai nhà tâm lý Slamecka và Graf cho người ta học các cặp từ. Nhóm đầu được đọc sẵn cả cặp, kiểu nóng với lạnh. Nhóm thứ hai chỉ được cho chữ nóng với chữ cái đầu của chữ kia, phải tự điền nốt. Tới lúc kiểm tra, nhóm tự điền nhớ được nhiều hơn hẳn.
Còn ông bà mình thì nói bỏ lửng từ xưa. Anh con trai trong câu ca dao bảo “Hôm qua tát nước đầu đình, Bỏ quên chiếc áo trên cành hoa sen, Em được thì cho anh xin”. Thử hỏi, có ai nghe xong mà nghĩ anh ấy đi tìm áo? Cô gái tự hiểu, mà đã tự hiểu thì khó chối là mình không biết. Chuyện cười cũng thế, ai phải nghe giải thích mới hiểu thì hết cười.
Theo tôi, cái gì mình phải tự nghĩ ra thì mình nhớ; còn người viết nói hết ra thì mình chỉ việc gật, gật xong là quên.
Tất nhiên tôi biết rằng, viết thế thì mất khối người đọc. Không kết nối, không tưởng tượng được thì người ta gấp sách, mà gấp sách rồi thì cáu, vì thấy mình bị coi là dốt. Người chê bà cũng đúng, bỏ tiền mua sách mà còn bị bắt làm việc tưởng với chả tượng! Lưu ý, chính bà cũng không chắc mình làm được. Nói về The Glass Essay, bà bảo bà muốn viết sao cho hiểu được sống là thế nào, rồi thêm: “Tôi không tin là mình đã làm được”.
VI
Lại nói về cái bếp có ba người đàn bà. Đọc tới câu ấy thì ai cũng phải dừng lại đếm. Mẹ là một, con là hai, còn người thứ ba thì nhìn quanh chỉ thấy cuốn sách dựng vào hũ đường. Lúc ấy mới nhớ ra ở mục trước chị bảo cứ về thăm mẹ là chị thấy mình đang biến thành Emily Brontë, sống lủi thủi một mình như cái đồng hoang ngoài cửa sổ.
Túm lại, sách bà khó vì bà để dành một phần việc cho người đọc. Ai bỏ công ra nghĩ, tưởng tượng, kết nối thì mê, ai không muốn thì chê, cả hai đều có lý. Còn ai bảo thơ bà như học sinh tiểu học viết thì, theo tôi, cứ thử đếm cho ra người thứ ba trong cái bếp kia đã!
Trong lời mở đầu cuốn Short Talks [2], bà viết: “Tôi sẽ làm mọi cách để tránh sự buồn chán. Đó là việc của cả đời”. Xem ra bà cũng không định để người đọc được ngồi không!
Nguồn:
[1] – Glass, Irony and God – Anne Carson, bài The Glass Essay.
[2] – Short Talks – Anne Carson, lời mở đầu và bài Short Talk on Walking Backwards.
[3] – Economy of the Unlost – Anne Carson, phần Note on Method.
[4] – Men in the Off Hours – Anne Carson, bài Ordinary Time: Virginia Woolf and Thucydides on War và chùm TV Men.
[5] – Norma Jeane Baker of Troy – Anne Carson.
[6] – The Beauty of the Husband – Anne Carson, phần chú thích cuối sách.
[7] – The Art of Poetry No. 88 – bài phỏng vấn Anne Carson trên tạp chí The Paris Review, số mùa thu 2004.
[8] – If Not, Winter: Fragments of Sappho – Anne Carson dịch và chú thích, lời chú về dấu ngoặc.
[9] – Eros the Bittersweet – Anne Carson.