Flaubert, một lần nữa

Anne Carson, https://www.newyorker.com/magazine/2018/10/22/flaubert-again

Ngu Yên dịch

Ảnh của Laura Letinsky dành cho The New Yorker

Bỗng nhiên đồ vật rơi xuống hoặc vỡ tan, xe cộ chệch khỏi đường đi, chó quỵ hai chân trước. Những ngày này, quân đội đang tiến hành các thí nghiệm âm thanh ở một vùng sa mạc gần đó. Suốt phần đời còn lại, tôi luôn sống trong trạng thái bất an, bà viết. Bà là một tiểu thuyết gia đã đạt được một ít thành công. Nhưng lúc nào bà cũng ôm ấp hình dung một loại tiểu thuyết khác, dù dần dần nhận ra mọi nhà tiểu thuyết đều chia sẻ cùng một ảo tưởng này, bà vẫn kiên trì theo đuổi nó, mặc dù chẳng biết cuốn tiểu thuyết đó sẽ ra sao, ngoài việc nó phải chân thực và hiển nhiên ngay trong lúc đang diễn ra. Bây giờ tôi đang viết, bà có thể nói như vậy.

Rồi bà bỏ dở.

Trong các bài kiểm tra đánh giá khả năng sáng tạo, người ta có đặt câu hỏi: Bạn sẽ đặt cánh tay thứ ba ở đâu? Ít nhất, tôi đã nghe nói thế. Liệu loại tiểu thuyết khác biệt này có giống như vậy không, giống một cánh tay thứ ba chăng? Tôi ghét sự sáng tạo, bà nói. Chắc chắn nó không thể giống một cánh tay thứ ba. Nó phải ít đi, ít hơn nữa, rồi ít hơn nữa, chứ không phải nhiều hơn. Barthes đã chết, ông chưa bao giờ đi đến đích. Bà kể tên những người khác từng thử sức, Flaubert, vân vân. Những kẻ từ bỏ khác, chẳng ai hiểu rõ mình cần từ bỏ điều gì.

Chiếc ghế này, chiếc ghế tôi đang ngồi, bà nghĩ. Cấu trúc đan lát kỳ diệu, một chiếc ghế mây cũ, được mang từ hiên sau vào nhà để tránh mùa đông. Tôi ngồi đây, bên ngọn đèn, quấn trong tấm chăn dày, cạnh những ô cửa kính đen khổng lồ, giữa bóng đen tháng Mười Hai, trong căn bếp lúc bốn giờ rưỡi sáng phản chiếu trên mặt kính. Kính lạnh đến mức không thể chạm vào. Sự im lặng trong căn bếp ban đêm vang lên ầm ĩ. Chiếc ghế khẽ kêu cót két.

Để trở thành một loại tiểu thuyết khác, nó phải xóa bỏ điều gì đó, xóa bỏ nhiều thứ: cốt truyện, hệ quả, niềm vui mà độc giả có được từ những câu trả lời bị cố tình giữ lại, cả sự tính toán có chủ đích đằng sau những điều này. Không chỉ từ bỏ chúng, phải xóa bỏ chúng. Từ bỏ là yếu đuối, là phản ứng thụ động, là ích kỷ. Nếu thực sự có ngày bà viết được, thì việc viết sẽ kéo bà chìm xuống bên trong nó, xóa sạch mọi thứ, chỉ chừa lại phẩm giá của bà. Ở mọi điểm, bà sẽ hoàn toàn tương ứng với câu chuyện của mình, nhưng câu chuyện sẽ không nói về Thiên đường, Địa ngục, hỗn mang, thế giới, cuộc chiến thành Troy hay tình yêu. Nó chỉ đơn giản tự kể chính nó. Nó sẽ không có những khoảng trống, không có những chỗ nhỏ nhếch nhác mà ở đó bà chẳng biết mình đang nói gì.

Bởi vì, bà muốn nói, đó là câu chuyện về không có gì và có tất cả cùng một lúc. Nhưng đến lúc này, tuy chỉ lờ mờ nhận ra mình ít nhiều đang trích lại bức thư nổi tiếng năm 1852 của Flaubert về “một cuốn sách chẳng nói về điều gì”, thứ mà ai cũng trích dẫn vào lần đầu tiên nảy ra ý tưởng đó, bà biết mình đã đánh mất nó: tiếng thì thầm, dấu vết, cái mấu nhỏ nơi ý tưởng đó còn là của riêng bà. Mặc dù “của riêng” có nghĩa gì trong một thế giới mà mọi thứ cũng đều “một lần nữa”? Bà đã thất bại, ngu ngốc, vùng vẫy, không chính xác, cứ nói mãi không thôi. Nó đã thoát khỏi tay bà. Nó đã buông tôi ra! Tôi không chịu nổi cảm giác bị buông ra, bà nghĩ, siết chặt tấm chăn quanh mình. Một bóng ma đang lùi xa, sột soạt biến mất, trong khi bình minh chỉ vừa nhuộm xanh bầu không khí và tiếng nhiễu tĩnh điện đã ngừng lại.

Lạnh lẽo và cũ kỹ như chính đêm đã tàn, bà đứng dậy, gấp tấm chăn. Bà ước mình thấy đói, nhưng không. Bà ước mình là kiểu người thích ngâm thân trong bồn tắm, nhưng thường ngày bà chẳng tắm. Một phần nguyên nhân là ở đúng khoảnh khắc hạ thân thể xuống làn nước nóng bỏng, trong một tích tắc, chuyện này luôn xảy ra: bà lại trở thành đứa bé năm tuổi, đêm Chủ nhật, và kinh hoàng. Kinh hoàng vì sao? Bà không biết. Vì ngày mai là thứ Hai, phải đến trường chăng? Nhưng bà không ghét trường học. Hay có lẽ ban đầu bà từng ghét? Về sau thì không.

Dù thế nào, một nỗi khiếp sợ cứ dâng trào, lan khắp mọi nơi, một luồng cảm giác kinh hoàng nóng bỏng, dữ dội xuyên qua tâm trí và thân thể. Có lẽ đó là cảm giác về Thời Gian, thứ mang một thân thể từ đêm Chủ nhật đến sáng thứ Hai, rồi đến mọi sáng thứ Hai sau đó, cứ thế tiếp diễn, bất chấp ý muốn của nó, cho đến khi bị xóa khỏi đời. Cả một ngọn núi khoảnh khắc dồn ép thân thể đi từ bây giờ đến lúc ấy, từ một ngày tẻ nhạt này sang một ngày tẻ nhạt khác, từ lần phơi bày này đến lần phơi bày khác. Sự tiến triển đó, chuyển động tiến về phía trước đầy bực bội, không thể hòa giải, xóa sạch tất cả, lao vào bóng tối. Bóng tối gì đây?

Một thân thể, ở tuổi lên năm, còn quá sớm để chịu đựng điều đó chăng? Nó có thể được cứu khỏi điều này không? Cầu xin ai đây? Những thế lực thù địch nào, ở đâu? Và còn cảm giác phấn khích mãnh liệt, bỏng rát kia thì sao, làn nước tắm nóng đến bỏng người? Không thể phủ nhận điều đó: một ánh sáng rực rỡ bắn vọt lên xuyên qua tất cả, thân thể gần như cất tiếng hát. Rồi tất cả biến mất. Bà đón nhận cú sốc như một khúc hát ru và chẳng mong đợi điều gì khác. Từ khi nào người ta bắt đầu mong đợi một điều gì khác? Có một thứ siêu phàm trong tuổi thơ không? Nó kết thúc khi sự mong đợi bắt đầu chăng? Bởi cái siêu phàm bị chọc thủng bởi thói vị kỷ, bởi chiếc mỏ nhỏ, cứng và say mê của cái tôi, đòi hỏi được là chính tôi. Cái tôi của tôi tìm ra những từ ngữ để diễn tả điều đó. Nếu tìm được từ ngữ, tôi có thể biến nó thành hiện thực, bà nghĩ. Đó là lúc bà ngồi xuống để trở thành một nhà văn.

Ban đầu, năng lượng cần thiết để sử dụng chiếc mỏ mới của mình khiến những nỗi bất an và câu hỏi như Viết gì đây? Có ai quan tâm đâu? tạm thời khuất đi. Bà viết về người bạn tên Martha, người đã làm đổ một chồng tiền xu trong thư viện. Bà viết về lần đi nhà thờ với mẹ chồng vào ngày Giáng sinh. Bà viết về tuyết.

Chính khi đang trầm tư viết về tuyết, sự nghi ngờ bắt đầu ngấm vào. Tất cả những câu văn đều quay bộ mặt trống rỗng, khủng khiếp của chúng về phía bà, như thể đang buộc tội. Đó là thư viện nghiên cứu tiền xu, bà muốn nói với chúng, nhưng những câu văn chẳng hề tỏ ra thương xót. Lại cái thứ ngây thơ giả tạo cũ rích ấy về Martha. Thôi đi! chúng kêu lên. Lại tuyết nữa! chúng chế giễu. Dẫu vậy, bà vẫn viết tiếp câu chuyện về mẹ chồng vào ngày Giáng sinh một thời gian, vì bà thích câu chuyện đó. Bà từng nghĩ nhận xét về những đầu gối trong nhà thờ là một ý tưởng sáng giá, một cách tạo ra chút khác biệt.

“Trong buổi giảng kinh, tôi bắt chéo chân.” Điều đó khiến tôi lo lắng, bà viết.

Một lần ở Berlin, trong bữa tối, bà ngồi cạnh một người đàn ông kiếm sống bằng nghề dịch tiểu thuyết trinh thám Mỹ cho một nhà xuất bản Đức. Ông ta bị sa thải. Ông không tìm được cách diễn đạt tương đương trong tiếng Đức, không tục tĩu, cho câu “cô ấy bắt chéo chân”. (*)

Chuyện ấy có thật sao?

Bà nhìn phần chân mình có thể thấy được, hai đầu gối gồ ghề trong chiếc quần tất đen. Liếc nhìn quanh, bà nhận ra chẳng ai khác bắt chéo chân. Những nơi như nhà thờ, có phải ai cũng lo lắng không? Có ai biết các quy tắc không? Những quy tắc đã được bàn bạc trước khi tôi bước vào chăng? Cư xử cung kính trong nhà thờ chẳng qua là đóng vai một người cung kính. Làm con dâu cũng vậy. Tất cả chúng ta đều đóng vai những người biết rõ quy tắc. Tôi luôn tự tạo ra bản thân mình ngay trong lúc đang sống, như Sartre từng nói.

Dịp Giáng sinh, bà được tặng một cuốn sách về những nhà hiện sinh, những người lên án việc đóng vai, những người nói họ phát buồn nôn vì các quy tắc. Bà bắt chéo chân theo hướng ngược lại. Vậy bản thân hành động bắt chéo mới là vấn đề sao? Những đường thẳng có ưu thế đạo đức hơn những đường cong không? Tại sao chúng ta gọi bọn tội phạm là những kẻ quanh co?

Bà nhớ lại bài học về Pythagoras ở trường. Một triết gia thời cổ đại. Không phải nhà hiện sinh. Ông lập một danh sách mọi thứ trên đời, chia thành hai cột. Ở cột bên phải, ông xếp Thiện, Nam giới, Ánh sáng, Giới hạn, Thẳng thắn, Chính xác. Ở cột bên trái, ông xếp Ác, Nữ giới, Bóng tối, Vô hạn, Cong queo, Lạc lối.

Trong các quy tắc có nỗi sợ. Ôi, nàng Helen thành Troy! Bảo nàng phải ngay ngắn lại sao? Đừng hòng! Bất cứ gã đàn ông nào cũng có thể hủy hoại một cô gái, gã nào cũng phải làm thế, Sweeney đã nói vậy.

Sartre hẳn sẽ thích Sweeney. Trong các quy tắc có nỗi sợ, còn trong những câu văn có sự ngu ngốc. Tất cả lòng thù ghét phụ nữ và sự quanh co từ thời Pythagoras đã bị nén chặt vào những câu văn ngu ngốc. Bà nhìn thấy chúng như một bánh mài khổng lồ, cứ thế nghiền qua ngày tháng, đêm đen, lịch sử, triết học và tiểu thuyết.

Bất chợt, bà nghĩ đến Martha trong thư viện nghiên cứu tiền xu, khi cô làm đổ chồng tiền. Âm thanh ấy giống hệt tiếng tiền xu, chẳng có gì khác trên đời phát ra âm thanh như vậy khi bị làm đổ. Nhà nghiên cứu tiền xu trừng mắt nhìn Martha. Sau đó Martha có cười, nhưng không phải lúc ấy. Mẹ cô đang nằm trong phòng chăm sóc đặc biệt, ở một thành phố cách đó vài chục dặm, hồi phục sau ca phẫu thuật kéo dài chín giờ. Hoặc có lẽ không hồi phục. Các bác sĩ nói năng mơ hồ, các y tá thì quá tải. Martha ước gì nhà nghiên cứu tiền xu có thể biết chuyện đó. Có lẽ ông đã nắm lấy cánh tay Martha. Có lẽ Martha đã không khóc trong cầu thang.

Một lần, bà và Martha cùng đến Hy Lạp tham dự hội nghị quốc tế dành cho các nhà văn. Trong thời gian ở đó, bà đã từ bỏ việc viết lách. Thay vào đó, bà phác họa trong một cuốn sổ vẽ, đặt tên cho nó là “Ly Nước”, như thể đó chính là thứ mọi người đang tìm kiếm: một ly nước ở Hy Lạp, chứ không phải một loại tiểu thuyết khác hay vài câu văn không ngu ngốc.

Những bức phác họa hơi giống tranh biếm họa, nhưng đầy trìu mến. Chúng ta thấy ly nước biến mất trên cầu thang cùng một nhà thơ Nga. Hoặc bị một tiểu thuyết gia người Síp gốc Thổ Nhĩ Kỳ nắm chặt trong tay, sau khi ông rót nó ra hai chiếc ly. Hoặc bị một nhà văn Tây Ban Nha đánh mất phía sau đống núi bánh mì nướng trên bàn ăn sáng.

Bà thấy rất khó vẽ bánh mì nướng sao cho thật, nếu nhìn từ bên cạnh. Ngược lại, vẽ nhà thơ Peru, người quả quyết mình đã quay phim con lạc đà không bướu của ông uống nước từ chiếc ly đó, lại là một niềm vui, bởi bà vốn đã biết vẽ lạc đà không bướu. Cuốn băng hình phần lớn chẳng có gì ngoài những khoảng trống.

Trong khi đó, cựu chủ nhân giải Nobel đến từ Ireland đã nhìn thấy chiếc ly nước được nhấc lên cao, bởi Samuel Beckett, trong một quán bar. Và ông cứ lặp đi lặp lại rằng không có đại từ nào diễn tả được cảnh tượng ấy.

Nhà thơ Serbia ngã khỏi xe buýt. Chẳng ai thương hại ông. Ông chưa bao giờ uống nước!

Cuối cùng, vào ngày cuối cùng, tất cả các nhà văn đều mặc trang phục “con cú của Athena”. Một ký ức không thể xóa nhòa. Một bức phác họa tuyệt vời. Những chữ ký điên rồ của tất cả bọn họ.

Bà và Martha, như người ta thường nói sau những kỳ nghỉ ở Hy Lạp, đã học được rất nhiều điều. Họ nhận ra việc ở chung một phòng khách sạn thật khó chịu, vì tính khí của hai người quá khác biệt.

Giờ đây, nghĩ đến chuyện này, nước mắt dâng lên. Bà không chắc đó là loại nước mắt gì.

Bà mở cuốn sổ phác họa “Ly Nước” đến trang cuối cùng. Đó là hình vẽ những ban công khách sạn trống không. Ai đó đã nguệch ngoạc dòng chữ “5 giờ sáng” bên cạnh trang giấy, ở phía dưới là câu: “Ngày mai đã đến rồi”, kèm theo một chùm nét vẽ màu xanh lá cây và xanh dương mà bà không thể nhớ mình đã vẽ từ khi nào.

ĐƯỜNG VÒNG CUỐN SÁCH “CHẲNG NÓI GÌ”

Phân lý ngắn về truyện Flaubert, một lần nữa.

Ngu Yên

Truyện ngắn này kể về một người phụ nữ không viết nổi một cuốn tiểu thuyết. Nghe thì như một đề tài cũ của văn chương hậu hiện đại: nhà văn bế tắc, trang giấy trắng, nỗi ám ảnh của người đi trước. Điểm độc đáo nằm ở chỗ truyện không than thở về sự bế tắc. Nó dựng chính sự bế tắc thành hình thức. Đọc xong, ta nhận ra “loại tiểu thuyết khác” mà nhân vật mơ tới đã hiện diện trước mắt, chỉ là nó không có hình dạng bà tưởng tượng.

Một cấu trúc trôi theo dòng liên tưởng

Truyện gần như không có cốt truyện. Nó đi từ thí nghiệm âm thanh trong sa mạc sang chiếc ghế mây, từ ghế mây sang bồn tắm, từ bồn tắm sang ký ức năm tuổi, rồi sang Martha, nhà thờ, Berlin, Pythagoras, Hy Lạp và cuốn sổ phác họa. Thoạt nhìn đó là sự tản mạn. Nhưng đây chính là cách tâm trí con người vận hành khi không bị buộc vào một nhiệm vụ.

Tâm lý học thần kinh gọi trạng thái này là hoạt động của “mạng lưới mặc định” (default mode network), vùng não bật lên khi ta thả trôi suy nghĩ, hồi tưởng và tự sự về bản thân. Lúc bốn giờ rưỡi sáng, giữa ranh giới ngủ và thức, nhân vật ở đúng trạng thái đó. Truyện không “mô tả” dòng ý thức theo kiểu Joyce hay Woolf với những câu dài vỡ ngữ pháp. Nó sắp xếp các mảnh ký ức theo logic cảm xúc thay vì logic thời gian, và nhờ vậy gần với trải nghiệm thật hơn.

Tiếng nhiễu tĩnh điện của thí nghiệm quân sự ở đầu truyện cũng không phải chi tiết thừa. Đồ vật rơi, chó quỵ chân: một chấn động vô hình làm mọi thứ chệch hướng. Cả truyện cũng vận hành như vậy, liên tục bị kéo lệch khỏi “ý tưởng lớn” bởi những rung động nhỏ của ký ức.

Bồn tắm, Chủ nhật và chiếc mỏ của cái tôi

Đoạn đáng giá nhất về mặt tâm lý là ký ức bồn tắm. Đứa bé năm tuổi, đêm Chủ nhật, hạ mình vào nước nóng và kinh hoàng mà không biết vì sao. Người lớn nhận ra đó là nỗi sợ Thời Gian: chuỗi thứ Hai nối tiếp nhau cho đến khi thân thể bị xóa khỏi đời.

Tâm lý học phát triển cho rằng khoảng ba đến năm tuổi là lúc trẻ hình thành “cái tôi tự truyện” (autobiographical self), tức khả năng nhìn mình như một thực thể kéo dài từ quá khứ đến tương lai. Cùng với khả năng này là khả năng lo âu về tương lai. Truyện nắm bắt khoảnh khắc này rất chính xác, rồi đẩy nó thêm một bước: cái siêu phàm của tuổi thơ chấm dứt khi “sự mong đợi” bắt đầu, khi chiếc mỏ nhỏ, cứng của cái tôi đòi được là chính nó.

Hình ảnh chiếc mỏ ấy là chìa khóa của cả truyện. Bà trở thành nhà văn vì muốn tìm từ ngữ cho cái siêu phàm. Nhưng chính cái tôi, thứ cầm bút, lại là thứ đã chọc thủng cái siêu phàm. Đây là nghịch lý mà Flaubert theo đuổi suốt đời: muốn tác giả biến mất khỏi tác phẩm như Thượng đế khỏi vũ trụ, nhưng không ai viết được nếu không có một cái tôi. Nhân vật muốn “xóa bỏ”, không chỉ “từ bỏ”. Truyện ngầm cho thấy thứ duy nhất không thể xóa được chính là người xóa.

Nỗi lo ảnh hưởng và cái “một lần nữa”

Nhan đề đã nói hết: Flaubert, một lần nữa. Khoảnh khắc nhân vật nhận ra mình đang vô thức nhắc lại bức thư năm 1852 về “cuốn sách chẳng nói về điều gì”, ý tưởng lập tức chết trong tay bà. Harold Bloom gọi đây là “nỗi lo ảnh hưởng”. Tâm lý học nhận thức có một khái niệm gần hơn: ký ức ẩn (cryptomnesia), khi ta tưởng mình nghĩ ra điều gì đó nhưng thực ra đang nhớ lại.

Truyện xử lý điều này với sự tự trào. Câu hỏi “của riêng có nghĩa gì khi mọi thứ đều là một lần nữa?” không được trả lời bằng lý thuyết mà bằng chuỗi giai thoại: người dịch giả Đức bị sa thải vì không dịch nổi “cô ấy bắt chéo chân”, nhà văn đoạt giải Nobel người Ireland lặp đi lặp lại rằng không có đại từ nào diễn tả được cảnh Beckett nâng ly nước. Ngôn ngữ luôn hụt hơi trước những điều nhỏ nhất. Và truyện tự minh họa điều đó bằng cách cứ trượt qua lại giữa “bà” và “tôi”, như thể chính nó cũng không tìm được đại từ phù hợp cho nhân vật của mình.

Hai cột của Pythagoras

Bảng đối lập của Pythagoras, với Thiện, Nam giới, Thẳng thắn ở một bên và Ác, Nữ giới, Cong queo, Lạc lối ở bên kia, là chi tiết mang tính chính trị rõ nhất. Qua chuyện bắt chéo chân trong nhà thờ, truyện chỉ ra rằng các quy tắc xã hội, cái mà Erving Goffman gọi là sự “trình diễn bản thân”, mang trong lòng nó một nỗi sợ cổ xưa đối với cái cong, cái nữ tính, cái không giới hạn. Những “câu văn ngu ngốc” mà nhân vật ghét chính là những câu văn đã thấm đẫm định kiến ấy, nghiền qua lịch sử như một bánh mài.

Đây là điểm khéo léo nhất về mặt sáng tác: hình thức của truyện tự chọn đứng về cột bên trái. Nó cong queo, lạc đề, không có giới hạn rõ ràng, không có cao trào hay lời giải. Nó từ chối đường thẳng của cốt truyện truyền thống, đúng như nhân vật mong muốn: không cốt truyện, không hệ quả, không câu trả lời bị giấu đi để câu khách.

Ly nước: cuốn sách về không có gì

Rồi đến Hy Lạp. Giữa một hội nghị văn chương quốc tế, bà bỏ viết và vẽ một ly nước. Những bức phác họa về ly nước bị mang lên cầu thang, bị đánh mất sau núi bánh mì nướng, cuốn băng hình con lạc đà không bướu “phần lớn chẳng có gì ngoài những khoảng trống”. Đây chính là cuốn sách về không có gì. Nó tồn tại, nó đầy trìu mến, nó không cố chứng minh điều gì. Nó chỉ chứng kiến.

Tâm lý học tích cực có khái niệm “dòng chảy” (flow): trạng thái ta hoàn toàn chìm vào công việc đến mức cái tôi tự phán xét biến mất. Khi viết, nhân vật bị những câu văn của chính mình buộc tội, chế giễu. Khi vẽ ly nước, không có lời buộc tội nào cả. Bà đã tìm được thứ mình khao khát, chỉ là bằng một phương tiện khác, vào một lúc bà không hề cố gắng.

Giọt nước mắt cuối truyện, loại nước mắt “bà không chắc là gì”, vì thế mang hai lớp nghĩa. Đó có thể là nỗi buồn vì tình bạn với Martha đã nguội, nhưng cũng có thể là sự nhận ra muộn màng điều bà tìm kiếm cả đời đã từng nằm trong tay, ở một ban công khách sạn trống không lúc năm giờ sáng.

Ngày mai đã đến rồi

Truyện mở đầu lúc bốn giờ rưỡi sáng và kết thúc bằng dòng chữ “5 giờ sáng” trong cuốn sổ cũ. Nửa giờ của một đêm mất ngủ đã chứa cả một đời người: tuổi thơ, hôn nhân, tình bạn, Pythagoras, Flaubert, Beckett. Nỗi kinh hoàng của đứa bé năm tuổi trước sáng thứ Hai giờ được đáp lại bằng một câu bình thản đến kỳ lạ, viết bằng nét chữ mà bà không nhớ là của ai.

Có lẽ đó là câu trả lời. “Loại tiểu thuyết khác” không phải là thứ ta viết ra bằng chiếc mỏ cứng của cái tôi. Nó là những gì còn lại khi ta thôi cố: vài nét màu xanh lá và xanh dương, một ly nước, một ban công trống.

Bà tin mình đã thất bại. Nhưng người đọc vừa gấp lại đúng cuốn sách bà không viết nổi: một cuốn sách cong queo, lạc lối, nằm trọn ở cột bên trái của Pythagoras, và chẳng nói về điều gì ngoài tất cả.

Flaubert chưa bao giờ đi đến đích. Truyện này đến được, bằng cách quên mất mình đang đi.

GHI: (*)

Ý nghĩa của đoạn văn này có nguồn từ tiểu thuyết trinh thám Mỹ, “she crossed her legs” hiếm khi trong sáng. Đó là động tác kinh điển của nhân vật femme fatale, người phụ nữ quyến rũ ngồi đối diện thám tử trong văn phòng mờ khói. Câu văn trông vô hại nhưng mang hàm ý gợi dục, được người đọc cùng văn hóa ngầm hiểu. Dịch sát nghĩa thì mất lớp ẩn ý. Dịch cho đủ ẩn ý thì dễ trượt sang lộ liễu, thô tục. Cái khó không phải là từ vựng mà là giữ được sự mơ hồ: gợi mà không nói.

Đặt trong truyện, giai thoại này phục vụ ba điều:

  1. Nó nối thẳng vào cảnh nhà thờ. Ngay trước đó, nhân vật bắt chéo chân trong buổi giảng kinh và thấy lo lắng. Một động tác cơ thể đơn giản của phụ nữ hóa ra luôn bị nhìn qua lăng kính tình dục hoặc đạo đức, dù ở nhà thờ hay trong truyện trinh thám. Bà đổi sang bắt chéo chân theo hướng ngược lại, rồi tự hỏi liệu bản thân “sự bắt chéo” có phải là vấn đề.
  2. Nó dẫn tới bảng của Pythagoras. Đường thẳng thuộc về Thiện và Nam giới, đường cong và sự “bắt chéo” thuộc về Ác và Nữ giới. Cơ thể phụ nữ khi không ngay ngắn bị coi là đáng ngờ. Giai thoại dịch thuật cho thấy định kiến ấy đã ngấm vào chính ngôn ngữ: một câu tả động tác bình thường không thể tồn tại mà không kèm theo sự gợi dục.
  3. Nó minh họa chủ đề “những câu văn ngu ngốc”. Ngôn ngữ không trung tính; nó chở theo cả lịch sử cách nhìn phụ nữ. Nhân vật muốn viết những câu văn không ngu ngốc, nhưng ngay cả câu “cô ấy bắt chéo chân” cũng đã bị nhiễm bẩn từ trước khi bà cầm bút.

Cái khó của đọc sách là đọc kỹ, đọc chậm, như lời khuyên của các học giả. Nói thì dễ, làm vô cùng khó trong thời đại mà mọi thứ đều vun vút, lướt qua, không đủ giờ, dù dư giờ xem phim bộ hay quanh quẩn Fabook nửa ngày.

Thay vì dùng ý nghĩa đọc kỹ, đọc chậm. Tôi đề nghị đọc quan sát. Bạn đã từng quan sát người yêu nhiều lần trong đời, bạn quan sát điểm trong toàn bộ: đôi mắt trên khuôn mặt; bàn tay để dưới bàn, thân hình còn lại như chân dung. Đó là một cách đọc vui hơn cách đọc miệt mài.

This entry was posted in Nghiên cứu Phê bình, Văn and tagged , . Bookmark the permalink.