Liễu Trương

Vào những năm 1960 ở miền Nam, Nhật Tiến là một nhà văn trẻ có sức sáng tạo rất dồi dào. Truyện Những người áo trắng ra năm 1959 mở đầu cho một loạt truyện dài sau đây và tiếp theo là những truyện ngắn, bút ký, hồi ký.
Truyện dài:
Những người áo trắng (1959)
Những vì sao lạc (1960)
Thềm hoang (1961) được Giải thưởng Văn chương Toàn quốc 1961-1962
Mây hoàng hôn (1962)
Người kéo màn (tiểu thuyết kịch 1962)
Chuyện bé Phượng (1964)
Vách đá cheo leo (1965)
Chim hót trong lồng (1966)
Giấc ngủ chập chờn (truyện dài dưới hình thức nhật ký, 1969)
Quê nhà yêu dấu (1970)
Truyện ngắn trong các tập:
Ánh sáng công viên (1963)
Giọt lệ đen (1968)
Theo gió ngàn bay (1970)
Tặng phẩm của dòng sông (1972)
Bút ký: Tay ngọc (1968)
Hồi ký: Thuở mơ làm văn sĩ (1973)
Truyện thiếu nhi:
Đóa hồng gai (1970)
Lá chúc thư (1971)
Đường lên núi Thiên Mã (1972)
Bấy nhiêu tác phẩm xây dựng trước 1975 cũng đủ đưa Nhật Tiến lên một vị thế đáng kể trong văn học miền Nam.
Sau 1975, Nhật Tiến vẫn tiếp tục cầm bút và có những tác phẩm như Mồ hôi của đá (truyện dài, 1988), và những tập truyện ngắn:
Tiếng kèn (1982)
Một thời đang qua (1985)
Cánh cửa (1990)
Nhật Tiến có người em là Nhật Tuấn cũng là nhà văn ở miền Bắc, hai anh em ở hai chiến tuyến khác nhau, gặp lại nhau có biết bao điều để chia sẻ với nhau. Rồi hai anh em viết chung một tác phẩm: Quê nhà quê người, năm 1994.
Đặc biệt năm 2012, Nhật Tiến cho xuất bản:
Hành trình chữ nghĩa gồm ba tập: Hành trình chữ nghĩa, Sự thật không thể bị chôn vùi và Một thời như thế.
Qua năm 2013 có: Nhà giáo một thời nhếch nhác
và tập truyện: Mưa xuân.
Trong số các tác phẩm của Nhật Tiến có thể nêu lên ba tác phẩm tiêu biểu cho tài năng đa dạng của Nhật Tiến, đó là: Người kéo màn, Thềm hoang và Giấc ngủ chập chờn.
Tác phẩm Người kéo màn đã được bàn đến trong bài “Người kéo màn” của Nhật Tiến, một hiện tượng văn học, đăng trên trang mạng của tôi (https://lieutruongvietvadoc.wordpress.com/) ngày 31/3/2020. Đại khái bài này đưa ra những lý do của Nhật Tiến khi dùng từ “tiểu thuyết kịch”. Theo Nhật Tiến, dùng từ “tiểu thuyết kịch” là vì tác giả muốn dùng một hình thức gồm ba kỹ thuật: tiểu thuyết, kịch và điện ảnh. Nhật Tiến muốn dùng ưu điểm của ba bộ môn đó, vì tiểu thuyết cho phép miêu tả, trình bày tâm lý nhân vật và đi vào nội tâm, kịch với những đối thoại làm cho cốt truyện có tính linh động, và kỹ thuật điện ảnh cho thấy liên tiếp những hình ảnh.
Tác phẩm thứ hai Thềm hoang được giải thưởng Văn chương Toàn quốc 1961-1962. Trong truyện Thềm hoang, Nhật Tiến vẽ lên một bức tranh xã hội của tầng lớp người nghèo khốn sống lam lũ trong một xóm lao động gọi là Xóm Cỏ. Nhân vật khá nhiều và rất linh tinh, Bắc Nam chung chạ: Bác Tốn mù nhờ thằng Ích, một đứa con trai khôn và ranh mãnh, dẫn đường, bác Tốn gảy đàn, thằng Ích hát; cô Huệ bán trôn nuôi miệng; U Tám góa chồng, đi thêm bước nữa với Dượng Tám là một người đàn ông cờ bạc, rượu chè và vũ phu; Hai Hào đạp xích lô ve vãn con gái của Phó Ngữ; bác Nhan gái ra sức che chở bác Nhan trai ốm yếu, bệnh hoạn; Năm Trà đi lính, khi trở về thấy cảnh gia đình tan nát: người vợ trẻ bỏ ba đứa con cho mẹ chồng, đi làm lại cuộc đời, bà mẹ chồng nghèo không nuôi nổi ba đứa cháu nội, đành đem chúng cho viện mồ côi, bà buồn rầu nổi cơn điên. Khi thấy cảnh gia đình như thế, Năm Trà phát điên đốt nhà, đốt xóm.
Do lòng nhân ái, tác giả Nhật Tiến theo dõi mỗi nhân vật của Thềm hoang, họ đều có một số phận hẩm hiu, đen tối.
Tác phẩm thứ ba Giấc ngủ chập chờn cũng là tác phẩm của lòng nhân ái, sẽ được bàn đến sau.
Trước 1975, song song với công việc sáng tác, Nhật Tiến có nhiều sinh hoạt trong lĩnh vực văn chương. Khi đọc bản thảo Những người áo trắng, văn hào Nhất Linh rất tâm đắc, liền mời Nhật Tiến cộng tác với tạp chí Văn hóa Ngày nay, ngay từ số đầu. Ngoài ra, Nhật Tiến tham gia sinh hoạt của Trung tâm Văn Bút Việt Nam với tư cách là Phó Chủ tịch của Trung tâm Văn Bút, từ 1963 đến 1975. Ông cũng chủ trương và biên tập nhà xuất bản Huyền Trân (1959-1975) và làm biên tập cho tạp chí Thiếu Nhi do ông Nguyễn Hùng Trương, Giám đốc nhà Khai Trí, làm chủ nhiệm và xuất bản.
Vậy Nhật Tiến đã cống hiến cả cuộc đời cho văn chương. Tiểu sử của Nhật Tiến sau đây sẽ cho chúng ta thấy một văn nghiệp được hình thành do tài năng xuất sắc của tác giả, một văn nghiệp hướng thượng do ảnh hưởng của phong trào Hướng Đạo.
Nhật Tiến có tên đầy đủ là Bùi Nhật Tiến, sinh năm 1936 tại Hà Nội. Thuở nhỏ, vào thời kháng chiến, Nhật Tiến cùng gia đình tản cư ở các nơi như Sơn Tây, Việt Trì, Hưng Hóa, Phú Thọ, rồi hồi cư về Hà Nội, tiếp tục đi học. Nhật Tiến di cư vào Nam năm 1954, định cư một thời gian ở Đà Lạt, nơi đây ông sáng tác kịch cho các buổi phát thanh của Ngự Lâm Quân, trên Đài Phát Thanh Đà Lạt. Sau đó Nhật Tiến về sống ở Sài Gòn, dạy Lý Hóa ở các trường tư thục và tiếp tục sáng tác.
Sau biến cố tháng 4-1975, Nhật Tiến dạy Lý Hóa ở trường Hưng Đạo một thời gian. Đến năm 1979 Nhật Tiến vượt biên, và năm 1980 định cư ở California. Cũng tại California, Nhật Tiến mất năm 2020.
Rất sớm, Nhật Tiến đã tỏ ra có năng khiếu về văn chương, năm 15 tuổi đã có truyện ngắn đầu tiên: Chiếc nhẫn mặt ngọc đăng trên báo Giang Sơn.
Cũng vào tuổi 14-15 Nhật Tiến gia nhập phong trào Hướng Đạo. Có thể nói đây là một biến cố đáng kể trong đời Nhật Tiến, người con trai ở tuổi mới lớn được biết thế nào là tình người, nhờ tinh thần của Hướng Đạo là trung thành với Tổ Quốc và giúp ích mọi người. Năm 1950 Nhật Tiến gia nhập Thiếu đoàn Bình Than.
Năm 1950, Trần Trung Ru thành lập Tráng đoàn Bạch Đằng ở Hà Nội. Sau Hiệp định Genève 1954, rất nhiều tráng sinh di cư vào Nam; do đó Tráng đoàn Bạch Đằng hoạt động trở lại ở miền Nam, trụ sở ở đường Thống Nhất, Sài Gòn. Tráng đoàn Bạch Đằng gồm bốn toán: Chương Dương, Vân Đồn, Hàm Tử, Tây Kết. Nhật Tiến lúc bấy giờ đã di cư vào Nam, được cử làm toán trưởng toán Vân Đồn. Châm ngôn của tráng sinh là giúp ích. Năm 1960, có nạn bão lụt ở miền Trung, Tráng đoàn Bạch Đằng tham gia công cuộc cứu trợ các nạn nhân bằng cách tổ chức một Đại hội Văn nghệ ở rạp Thống Nhất. Vào dịp này, Nhật Tiến sáng tác một vở kịch ba màn mang tên là Cơn Giông.
Năm 1970, Tráng đoàn Bạch Đằng tổ chức một trại hè ở Thủ Đức. Tại đây tráng sinh Nhật Tiến được trao tặng một cây gậy ở đầu có hai gạch, dấu hiệu của tráng sinh lên đường, một biểu tượng của sự thăng cấp. Nhật Tiến làm Tráng đoàn phó Tráng đoàn Bạch Đằng. Kể từ nay Nhật Tiến có thể ký tên là Én Nhanh Nhẹn RS (RS: tiếng Anh: Rover Scout; tiếng Pháp: Routier Scout).
Suốt đời, Nhật Tiến trung thành với lý tưởng của Hướng Đạo. Tâm hồn được thấm nhuần lâu năm tinh thần Hướng đạo, nên Nhật Tiến luôn luôn nghĩ đến những kẻ kém may mắn cần được cứu giúp. Đáng thương nhất là những trẻ mồ côi được miêu tả trong các tác phẩm đầu của Nhật Tiến và những đứa trẻ bất hạnh như bé Hạnh trong truyện dài Chim hót trong lồng. Tình thương đó không giới hạn vào tuổi thơ, nó mở rộng với những người nghèo trong Thềm hoang, nó trở thành lòng nhân ái đối với mọi người, không phân biệt nguồn gốc, tư tưởng, lối sống của người này người nọ.
Giấc ngủ chập chờn (1969) là tác phẩm thứ ba trong ba tác phẩm tiêu biểu cho tài năng của Nhật Tiến như thượng dẫn. Giấc ngủ chập chờn nói lên lòng nhân ái giữa lúc những biến cố lịch sử khiến con người chia rẽ, thù nghịch nhau, chém giết nhau.
Trong những năm 60 của thế kỷ trước, chiến tranh Quốc-Cộng lan tràn khắp nơi ở miền Nam, gây bao tàn phá, đau thương cho người dân vô tội. Trước tình hình đó truyện Giấc ngủ chập chờn đến với độc giả.
Giấc ngủ chập chờn là giấc ngủ của một ông lão, lão Đối. Ông lão sống ở ấp Vĩnh Hựu đã từ lâu, ông biết rõ những ngõ ngách của cái ấp, nó ở gần cầu chợ Lùng, gần đồn lính Quốc gia mang tên Phi Mã và sát quốc lộ số 1. Cái ấp Vĩnh Hựu rủi ro trở thành một vùng gọi là vùng xôi đậu. Ban ngày lính Quốc gia làm chủ, ban đêm quân cộng sản về chiếm.
Ấp Vĩnh Hựu về đêm không khác một vùng đất chết. Không có tiếng võng đưa, không có tiếng trẻ khóc […]. Mọi người đều như muốn thu nhỏ lại trong cái thời khắc nặng nề, đen tối về đêm. Bởi vì chẳng đêm nào lại không có tiếng súng nổ chát chúa trong đêm khuya tĩnh mịch. Không ở đồn Phi Mã thì ở cầu chợ Lùng. Những ngọn hỏa châu bay vọt lên mãi từng không, chiếu từng chùm ánh sáng tỏa ra khắp các bờ cây, bụi cỏ […]. Trong đêm tối, những viên đạn lửa đan xéo vào nhau đỏ rừng rực như những ánh ma trơi chuyển vận qua bầu trời tối đen như mực. (Chương 1)
Trước tình hình bất an đó, giới trẻ trong ấp Vĩnh Hựu xôn xao đứa theo bên này, đứa theo bên kia. Lão Đối biết rõ tất cả chúng nó, lão đã thấy chúng nó sinh ra, lớn lên. Rồi thời cuộc gây bao xáo trộn trong đời sống của ấp Vĩnh Hựu, bỗng dưng đứa này đi theo du kích, theo đảng được học tập, huấn luyện, đứa khác đi theo Quốc gia đến đồn Phi Mã, lên tỉnh. Đôi bên rình rập nhau, sẵn sàng chém giết nhau. Thằng Đực con của lão Đối bỗng theo du kích, nó lén lút sống nơi này nơi nọ, luôn rình rập lính Quốc gia, có đêm nó lén về xin cha nó cho ăn cơm nguội hay cháo cho đỡ đói. Có những đứa con trai khác lại theo bên Quốc gia như thằng Lầu, thằng Hưng, thằng Trọng đóng ở đồn Phi Mã. Sự chia rẽ xảy ra không những giữa đám trẻ của Vĩnh Hựu mà còn ở ngay trong một gia đình: Há và Hoanh là hai anh em ruột, nhưng Há theo du kích được học tập và kết nạp vào đảng, Hoanh, anh nó, theo Quốc gia và xin đi biệt kích Mỹ.
Trước sự chia rẽ và chống đối nhau kịch liệt của đám trẻ Vĩnh Hựu, lão Đối đâm ra ngao ngán. Đêm đêm lão không yên giấc, lão sống trong lo âu, hồi hộp, vì lão thương tất cả chúng nó, không muốn chúng nó hại nhau, giết nhau.
Lão Đối đứng ở cánh cửa nhìn ra ngoài đêm. Trong bóng tối lão thấy lố nhố năm sáu thằng. Hôm nay chúng nó đi đông. Chắc đụng lớn. Lão bỗng thấy hồi hộp như chính mình là kẻ đang tham dự vào cuộc đi của lũ trẻ. Từ hồi nổ súng, lão đã là kẻ tiễn đưa biết bao nhiêu lần. Mà lần nào lão cũng thấy tất cả bọn chúng đều như hình hài cốt nhục của chính lão, và chúng đang đem ra thách đố với định mệnh. Cái chết chờ chúng nó ở khắp mọi chỗ, khắp mọi nơi, mọi lúc. Cả những thằng ở bên này lẫn những thằng ở bên kia […].
Lão hồi hộp lo lắng chung cho tất cả. Bên này lẫn bên kia. Thằng Đực, thằng Há, thằng Hoanh, thằng Lầu, đứa nào lão cũng coi như máu mũ ruột thịt. Lão sống ở đây đã nhiều năm. […] Cũng vì thế lão yêu mảnh đất quê hương của lão đến độ thuộc lầu cả từng biến chuyển dù nhỏ nhặt nhất của cảnh vật chung quanh. Lão luôn luôn cầu mong đừng có gì thay đổi trong cái thế giới nhỏ hẹp của lão. Lão cũng luôn luôn cầu mong trong hoàn cảnh bom đạn tứ bề, mọi người trong thôn ấp đừng có ai ngã xuống. Đừng ai cả, vì quê hương mòn mỏi quá rồi. (Chương 1)
Lòng nhân ái của lão Đối cũng là lòng nhân ái của Hoanh, người thanh niên sắp đi biệt kích Mỹ. Hoanh có dịp trở về Vĩnh Hựu để cùng đi với lão Đối tìm kiếm người vợ của Xê. Vợ chồng Xê mới lấy nhau, Xê là lính Quốc Gia rủi ro chết vì lựu đạn. Khi tìm ra vợ Xê thân hình trần truồng bị trói trong một góc lều, Hoanh vội cởi áo, choàng lên người phụ nữ và đã rơi nước mắt.
Trong một không gian nhỏ bé như cái ấp Vĩnh Hựu, lão Đối là biểu tượng của lòng nhân ái bao la.
Sau biến cố tháng 4-1975, trước khi vượt biên, Nhật Tiến dạy Lý Hóa ở trường Hưng Đạo. Trong thời gian này, xảy ra chuyện “học tập” của các nhà văn, nhà thơ miền Nam mà Nhật Tiến kể lại trong cuộc phỏng vấn do Đỗ Quyên thực hiện trên tạp chí Hợp Lưu số 78 tháng 8-9 năm 2004. Nhật Tiến kể như sau:
Sau 30-4-1975, văn nghệ Cộng sản miền Bắc […] có ý muốn tẩy xóa tàn dư văn nghệ “phản động” miền Nam, nên họ chỉ định tôi cùng một số văn nghệ sĩ khác như Phạm Thiên Thư, Tường Linh, Nguyễn Thị Hoàng, Nguyễn Thị Thụy Vũ, Lệ Hằng… là những tác giả phải ra tự phê điển hình trong “học tập” khóa 1 dành cho văn nghệ sĩ tổ chức đầu tiên ở Sài Gòn, khoảng tháng 7-1975. Mỗi người được lựa chọn hai tác phẩm để tự phê, nhưng riêng tôi thì được gợi ý trước là trong số đó phải có cuốn Giấc Ngủ Chập Chờn, một truyện dài của tôi do nhà Đông Phương ấn hành năm 1969. Nội dung cuốn này viết về đời sống của dân chúng trong một vùng nằm giữa hai làn đạn (thường được gọi là vùng xôi đậu), trong cuộc chiến ở miền Nam. Nhu cầu tự phê cũng đã được gợi ý trước, đại thể như phải giải thích hoàn cảnh xã hội nào, động cơ nào, nhu cầu nào… khiến tác giả viết nên cuốn truyện đó. Tôi đã phát biểu rằng tại miền Nam, sau 1954, đã hình thành một quốc gia được nhiều quốc gia khác trên thế giới công nhận. Tôi vào Nam từ năm 1954 nên tôi đã sinh sống, hoạt động và viết lách, tất cả đều trên động cơ là tư cách của một công dân phục vụ cho quốc gia đó.
Nói một cách xác thực, khi giới văn nghệ sĩ miền Bắc gợi ý cho Nhật Tiến về những điều phê phán cuốn Giấc ngủ chập chờn, họ ngầm chỉ trích Nhật Tiến sao không để cho nhân vật lão Đối chỉ bênh vực, ưu đãi những đứa con trai đã vào chiến khu, theo du kích, theo đảng. Cũng là một cách để hoan nghênh sự hiện diện của cộng quân trên lãnh thổ miền Nam.
Nhưng lòng nhân ái của lão Đối vượt xa những tính toán của một hệ tư tưởng, vì thương người là thương tất cả mọi người. Tác phẩm Giấc ngủ chập chờn của Nhật Tiến nêu cao lòng nhân ái đó.