Thơ Lê Vĩnh Tài

[ai mang bụi đỏ đi rồi]

còn 2 con mắt khóc người 1 con…

1.

cửa sổ tàu đêm

ai mang bụi đỏ mang khôi nguyên bên vũ dy và đàm lan

mang cả anh đang mặt nạ thiên thần bằng giấy báo ướt

chúng ta bỏ phố núi ra đi như kẻ mang bệnh mất ngủ

 

bụi đỏ quán cà phê nha trang vẫn mở suốt đêm

những người đàn bà hút thuốc bên công viên

có giọng nói như lưỡi dao

anh nghe tiếng máu mình rơi xuống

 

em bước vào toa tàu

không mang theo hoa hồng

hai ngón tay gầy

em kẹp lại cho đến khi cánh hoa thành bụi đỏ

 

bụi đỏ bay qua ô cửa tàu lên tóc em

lên vai những người ngủ gục trong quán cà phê

lên môi những người tình vừa cãi nhau dưới mưa

 

[ai mang bụi đỏ đi rồi]

 

phố núi của chúng ta

vẫn còn sót lại những người đưa thư chạy ngang

người đàn ông ngồi bán chim sẻ ở góc chợ

chính âm thanh này đã thay cho tiếng đại bác

em không còn nghe sau chiến tranh

 

anh tìm những ngón tay còn dính màu đỏ

những khuôn mặt bị thời gian thổi xám nhợt

chỉ còn bầu trời với tia sét xanh

và đàn chim sẻ tiếp tục bay trên chúng ta

như thể chưa từng có ai bị tình yêu biến thành tro bụi

 

2.

em nói, đừng gọi đó là tro bụi

hãy gọi nó là phấn hoa của cuộc tình đã chết

con bướm đã bay con ong còn lại

và em mở chiếc hộp gỗ của em

mỗi con ong mang một mẩu mùa hè

một mẩu tiếng cười một mẩu môi người

 

bên cửa sổ nhà nghỉ em cởi mái tóc mình

như người đồng bào tháo dòng thác đen khỏi cổ

bụi đỏ trong tóc em

như các hành tinh bé nhỏ bị bỏ quên

 

anh phủi vai em

bụi đỏ bay lên

có lần em hỏi anh

ai đã dạy anh yêu em như chiến tranh

ai đã dạy anh hôn em như đốt cháy cả một đêm thơ

 

anh cười, giữa hai ngón tay chúng ta

những bông hoa hồng đã bị nghiền thành bụi đỏ

tình yêu sẽ đi qua

chúng ta sẽ bị xay nát thành bụi

gió mang bụi đỏ đi khắp thành phố nóng bốn mươi độ

đậu lên tượng đài đậu lên nhà xe bệnh viện

đậu lên những đứa trẻ đang ngủ mơ thấy biển

tưởng sẽ về hạ long với anh Doanh

 

3.

sáng hôm sau

chúng ta thức dậy chạy ra công viên uống sữa đậu nành

với những vệt đỏ nơi ngón tay

anh không biết vì sao

chỉ nghe trong cổ họng mình

vẫn có tiếng kêu những con chim sẻ

 

bụi đỏ không còn là tro của hoa hồng

nó bùi ngùi trong cổ

như tiếng chuông chùa khải đoan bị gió mang đi nhiều kiếp

khi em hát đưa em tìm động hoa vàng

 

nhà thơ Phạm Thiên Thư vừa mất

ông đã đi ngang quán Văn với chiếc áo nâu bạc màu

mà anh đạt chị loan không biết

vì chỉ lo ngồi chờ Phạm Duy, Từ Công Phụng

 

ông cúi xuống nhìn bụi đỏ sáu ô cửa sổ

rồi thổi bay lên “tiếng guốc xưa mỏng mảnh gõ xa vời…”

những năm chúng ta đạo thơ ông gửi báo tuổi trẻ dự thi “bút mới”

anh Đỗ Trung Quân tiếc chúng ta đã quá già nên không thể trao giải

 

sân trường lá me

và bụi đỏ không còn là hoa hồng

em thành áo dài mỏng

đứng bên bờ sông dakbla

nơi những cuộc chiến tranh đã tắt khi chúng ta còn chưa kịp gọi nhau

nơi người ta yêu bằng những lá thư viết tay

và lạc mất nhau bằng một chuyến xe đò ngang qua quy nhơn

chúng ta thành hai bầu trời

như thể mọi bài thơ đều trở thành tro bụi

để được gió mang đi

em nói, câu này anh cũng đạo của một ông nổi tiếng

em quên mất tên gì

 

xong rồi em quay lưng

mái tóc đầy bụi đỏ

anh gọi nhưng tiếng gọi rơi xuống biển

như hạt bụi chạm vào tạp chí chư-yang-sin

nơi cổng trời có những tình yêu không tan biến

yang-mao còn phải đi tìm yang-sin

 

chỉ vũ dy hoá thành nỗi, nỗi ngùi ngùi

ngùi ngùi hát bằng giọng của gỗ mục

của chim sẻ mùa đông

đừng gọi đó là tình lỡ

tình lỡ còn có một chuyến tàu để nhớ

một sân ga để quay về

một bàn tay muộn màng đặt lên sáu ô cửa sổ

còn đây là tình bơ vơ

 

thứ tình yêu bị bỏ ra bên ngoài

ngôn ngữ như chiếc giày nằm lại bên đường sau cuộc di tản

chúng ta từng đi rất xa

xa đến mức tên em rơi mất nguyên âm cuối

cũng đủ làm những ô cửa cười rung lên

 

[ai mang bụi đỏ đi rồi]

 

chúng ta ngồi giữa căn phòng bốn mươi hai độ

tháng tám nắng rám cả bưởi

vũ cười, cây đàn của vũ thiếu mất dây số bốn

 

vũ nói, thôi không cần hát nữa

bài hát đã mệt đến mức

vũ thấy tiếng cô độc đập cánh

như linh hồn những câu thơ anh Doanh không in nữa

ngoài đường một chiếc xe cứu thương chở vũ chạy ngang

tiếng còi kéo dài, em hỏi

rồi chúng ta sẽ đi đâu?

đại lộ hai chiều độ lại

về thôi ta hà nội xa rồi

 

không ai trả lời

vì tất cả chúng ta đều đã từng bỏ đi

phố núi như ga tàu bị bỏ hoang

tự nhiên nhớ lại tiếng người

vì bụi đỏ bắt đầu rơi

lên tóc bạc chúng ta

rơi lên bao thuốc lá thăng long màu vàng vũ giả làm gói camel rồi cười lớn

rơi lên những bản thảo nhàu nát

rơi lên tạp chí chư-yang-sin bị nước mưa làm lấm lem

anh nghe tiếng em tháo chiếc kẹp tóc bỏ xuống bàn

em nói, phải đau lắm mới nghe thấy được

 

em nói, đừng làm thơ nữa

vì mọi bài thơ cuối cùng cũng chỉ biến thành tro

để cơn gió mang theo đàn chim sẻ đã ngủ trong mái hiên

những con ốc sên mùa đông đã già

bụi đỏ cũng không còn đập cánh

This entry was posted in Thơ and tagged . Bookmark the permalink.