Thương tiếc anh Tương Lai: CHẤM NGÒI BÚT VÀO NỖI ĐAU

Ý Nhi

Anh Tương Lai, người cộng tác thân thiết, người đã đóng góp gần 100 bài báo trên trang mạng Văn Việt, vừa rời bỏ chúng ta.

Tưởng nhớ anh, xin đăng bài sau đây của nhà thơ Ý Nhi, vốn là Lời Bạt cho tuyển tập gồm ba cuốn của anh với nhan đề Những gợn sóng trên dòng hồi ức, cả thảy ba tập với gần 2000 trang. Sách anh viết chỉ để tặng bạn bè, chứ dĩ nhiên không thể xuất bản một cách chính thức.

Anh đã CHẤM NGÒI BÚT VÀO NỖI ĐAU để hoàn thành bộ sách của một kẻ sĩ. Bao giờ Nhân Dân ta không còn rên xiết để sau anh không ai phải tiếp tục chấm ngòi bút vào nỗi đau dân tộc mà viết lên những trang quặn lòng người?

Xin vĩnh biệt anh.

Văn Việt

 

Tôi được nghe về Giáo sư Tương Lai khá lâu, trước khi được đọc ông, trước khi có trong tay hai cuốn sách: Mênh mông thế sự để gió cuốn đi Chân lý là cụ thể.

Vốn sợ lý luận, tôi để dành Chân lý là cụ thể cho một dịp khác và chọn đọc Mênh mông thế sự để gió cuốn đi.

Và, cũng vì sợ lý luận, tôi chọn đọc trước những bài viết có cái title tương đối “mềm mại” như: Đừng xáo nước đục đau lòng cò con, Ấm trà mẹ pha vào một đêm trăng hay Trên đồi cao giữa mây trời lộng gió…

Nhưng, gần như ngay lập tức, tôi hiểu rằng mình đã có chút nhầm lẫn. Chẳng có chi đơn giản, chẳng có chi “mềm mại” trong mỗi đoạn văn.

Từ một câu ca dao quen thuộc, từng được trích dẫn, từng được phân tích, giảng nghĩa nhiều lần (Con cò mà đi ăn đêm/ Đậu phải cành mềm lộn cổ xuống ao/ Ông ơi ông vớt tôi nao/ Tôi có lòng nào xin hãy xáo măng/ Có xáo thì xáo nước trong/ Đừng xáo nước đục đau lòng cò con), bài viết của ông lại mở ra trước người đọc những chiêm nghiệm, những liên tưởng mới, những biện giải mới, đa dạng và sâu sắc.

Chắc chẳng mấy ai nghĩ rằng, từ câu ca dao quen thuộc ấy tác giả có thể đưa dẫn người đọc đến với thơ Vương Bột, với Alexandre Dumas, với Mẹ Theresa, Albert Camus và cả với Steve Jobs. Và, trước những danh nhân ấy là lời dạy của người mẹ về một cách thế sống mà ông suốt đời ghi nhớ, tự dặn lòng: “phải cố là giọt nước trong” giữa “biển cả mênh mông của cuộc đời”.

Ấm trà mẹ pha vào một đêm trăng là câu chuyện cảm động về ngày giỗ cha tại một làng quê trong chiến tranh.

Đêm ấy, người mẹ chỉ có thể pha một ấm trà, thắp một nén hương để tưởng nhớ người chồng đã khuất. Và rồi, mùi hương thanh khiết đêm ấy lại dẫn người đọc về với mùi trầm hương trong ngôi chùa Quốc Ân, với vị sư già có ánh mắt hiền từ “truyền vào lòng tôi dòng suối trong vắt của tri thức tuổi thơ đủ sức cảm nhận về điều lành mà tôi hiểu là cái thiện”. Rồi đắm mình vào câu chữ của Nguyễn Tuân với Những chiếc ấm đất, với Vang bóng một thời… với thơ Thiền của Kiều Tri Huyễn, để sau cùng lại trở về với Mẹ: “Qua mẹ tôi, tôi nhận ra đất nước, quê hương, dân tộc, những cay đắng những ngọt bùi, những giày vò đau đớn, những thăng hoa hạnh phúc đan chen trộn lẫn mà tôi nào đã thấu hiểu”.

Trên đồi cao giữa mây trời lộng gió không phải là một chuyến du ngoạn mà là cuộc trở về với những tháng năm xưa cũ, nhân việc đi viếng mộ người anh rể, Trung tướng Cao Văn Khánh, trên nghĩa trang Bất Bạt.

Từng dòng, từng dòng thấm đẫm xót xa, thương nhớ, tự hào về cuộc đời giản dị mà hào sảng, lặng lẽ mà cao cả của anh chị mình, về sự lựa chọn cuối cùng của bà Nguyễn Thị Ngọc Toản, khi đưa chồng về nơi “đồi cao mây trời lộng gió” này chứ không phải nghĩa trang Mai Dịch vốn được coi như một ngôi đền thiêng…

Sau này, khi đọc ông nhiều hơn, tôi nhận ra Tương Lai không bao giờ dừng lại ở bề mặt của vấn đề. Bất cứ cứ liệu nào, một câu thơ, một miền quê, một nỗi nhớ, một sự kiện dù nhỏ dù lớn… đều được ông mở rộng ra, đào sâu xuống để có thể tìm tới căn nguyên, khả dĩ tìm ra một giải pháp. Đây là cách làm việc của một nhà khoa học, của một người luôn ước ao đạt đến điều thật, điều đúng.

Bởi vậy, đọc ông không dễ, bắt kịp những liên tưởng, suy nghiệm của ông quả thực là một thách thức.

Có thể nói, liên tưởng, suy nghiệm, biện giải là một đặc thù trong các bài viết của Tương Lai.

***

Nhưng, liên tưởng, suy nghiệm, biện giải chỉ có thể được thực hiện khi người viết có một hiện thực sống dày dặn, phong phú, một chặng đường đời đủ dài với tất cả những cung bậc của kiếp người và một kiến văn sâu sắc, một trí tuệ sáng suốt, một bản lĩnh.

Và, trên tất cả, một tấm lòng yêu thương, hướng thiện.

Tương Lai có đầy đủ những điều kiện ấy.

Sinh ra trong một gia đình quan lại của chế độ cũ, có nền tảng đạo đức, có nền tảng học vấn, Tương Lai cùng các anh chị mình hăng hái tham gia cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc.

Trên chặng đường dài gắn bó với chế độ mới, ông cũng như mọi thành viên khác trong gia đình trí thức đông đảo, tài giỏi ấy đã gặp không biết bao nhiêu thách thức để có thể giữ mình sống trong, sống thiện lành, để không mất đi phẩm giá làm người.

Vốn là một nhà nghiên cứu xã hội học, Tương Lai từng giữ những chức vụ quan trọng, từng có những công trình khoa học giá trị, từng làm việc ở những tổ chức đặc biệt, gắn bó trực tiếp với các vị lãnh đạo cao cấp của đất nước.

Nhưng, thay vì an phận thụ hưởng những gì mình có thể có, Tương Lai đã lựa chọn một con đường gai góc, thậm chí, hiểm nguy – con đường xóa bỏ những vật cản, đập bỏ những bức tường trong quá trình nhận thức của con người.

Đó là lựa chọn của một người không nỡ, không thể nhắm mắt làm ngơ trước bất công, trước những bước đi sai lạc, trước những oan khuất.

Bởi vậy, nhiều bài viết của ông mang tinh thần phản biện xã hội mạnh mẽ.

Không có thứ vũ khí nào trong tay. Viết, là lựa chọn duy nhất, là cách chiến đấu của ông vậy. Bày tỏ quan điểm của mình qua bài viết cũng là cách tìm bạn, tìm người đồng tâm hiệp ý của ông.

Ông không đơn độc.

Xin hãy “gặp gỡ” những người bạn thủy chung của ông: Hoàng Tụy, Việt Phương, Nguyên Ngọc, Lê Đăng Doanh, Hạ Đình Nguyên, Nguyễn Quang A, Minh Đường, Hồ Ngọc Đại, Huỳnh Tấn Mẫm, Hồ Ngọc Nhuận, Trịnh Công Sơn, Cao Huy Thuần, Trần Đức Nguyên, Chu Hảo, Phan Đình Diệu, Phạm Chi Lan…

Vâng, hãy cho tôi biết bạn của anh là ai.

Bấy nhiêu dữ liệu hẳn là đã đủ để làm nền tảng cho những liên tưởng, những suy nghiệm, biện giải trong từng bài viết của Tương Lai.

***

Tôi vừa nhận được bản thảo mới nhất của ông: Những gợn sóng trên dòng hồi ức và một video ngắn.

Video ghi lại hình ảnh một số trí thức họp mặt, thống nhất gửi kiến nghị về việc thay đổi hiến pháp cũ, dự thảo hiến pháp mới.

Thú thực, xem video, tôi có phần bùi ngùi. Bùi ngùi vì việc lớn không thành, bùi ngùi vì nay GS Tương Lai đã ở ngưỡng tuổi chín mươi, ông không còn có thể đi đầu trong những cuộc biểu tình, hô vang những khẩu hiệu chống Trung Quốc, không còn có thể cất giọng nói sang sảng của mình trong một cuộc họp, như đã từng.

Nhưng, ông không rời xa vũ khí của mình, không ngừng viết, không ngừng “chấm ngòi bút vào nỗi đau”.

Như mọi lần, cách tổ chức bản thảo của Tương Lai bao gồm những bài chính luận và những bức chân dung người thân, bè bạn mà ông quý trọng yêu thương. Bên cạnh những bài viết về giáo dục, về nghề báo, về nền đạo lý dân tộc, về tương lai nền nông nghiệp Việt Nam là những bức chân dung tuyệt đẹp của người mẹ, của anh chị, của Võ Văn Kiệt, Việt Phương, Hạ Đình Nguyên, Huỳnh Kim Báu, Nguyễn Trọng Vĩnh… Bên cạnh giọng văn sắc sảo, chuẩn xác, đôi khi riết róng là một tiếng nói nhẹ nhàng, tha thiết, ấm áp.

Trong các bài nghiên cứu của tập bản thảo này, tôi đặc biệt chú ý đến hai công trình nghiên cứu về nông thôn Việt Nam. Đó là Báo cáo sơ bộ về khảo sát xã hội học tại Thái Bình cuối tháng 6 đầu tháng 7 năm 1997Để hướng tới cuộc sống tốt đẹp của nông dân và nông thôn.

Bài thứ nhất là bản báo cáo của một nhà khoa học nghiên cứu xã hội học nghiêm cẩn. Nó đáng trân trọng, không chỉ vì giá trị khoa học mà còn vì, thời điểm ra đời của nó, khi ngành khoa học này còn non trẻ và chịu rất nhiều rào cản. Bài thứ hai là một công trình nghiên cứu vô cùng sâu sắc, có giá trị cả về lý luận và thực tiễn. Tôi chưa biết ai khác đã viết được một chuyên luận về nông dân và nông thôn Việt Nam chuẩn xác và tràn đầy cảm xúc như ông.

Dường như, không có lãnh vực nào trong cuộc sống này lại xa lạ với ông, không có lực cản nào đủ sức ngăn ông đi theo “ánh lửa từ trái tim mình”.

Ông muốn có, cần có một cuộc sống hữu ích, hữu ích trong mỗi ngày sống.

Ở trang viết nào đó, ông đã trích dẫn B. Brecht: “Cái đáng sợ không phải là chết mà là sống rỗng tuếch”. Và ở một trang khác, là A. Camus: “Cái tôi mong muốn là sống và chết cho điều tôi yêu.

Tôi nghĩ, cách nào đó, ông là một người Tự do, một người Hạnh phúc, theo định nghĩa của một bậc chân tu mà tôi từng đọc được: “Tự do là ung dung trong ràng buộc. Hạnh phúc là tự tại giữa đau thương.

Tôi tin “gợn sóng dội lại chặng đường mải miết đi” của ông rồi sẽ không ngừng dội lại, không chỉ trong tâm tưởng những ai hôm nay yêu quý, trân kính ông mà còn ở những ai rồi sẽ biết yêu quý, trân kính ông mai sau.

 Ngày 10.7.2024.

This entry was posted in Văn and tagged . Bookmark the permalink.