Xin hỏi Ban Văn hóa – Xã hội thuộc Hội đồng Nhân dân thành phố Hà Nội và Bộ Văn hóa – Thể thao và Du lịch

Bùi Xuân Đính

Dự án “Trục đại lộ cảnh quan sông Hồng” mấy hôm nay tạo ra những bàn luận gay gắt trên cộng đồng mạng, đem lại nỗi lo lắng không gì cân đong, đo đếm được của các cộng đồng cư dân ven sông, nhất là các làng được tin phải di dời. Lo lắng, phản ứng của người dân theo tôi là chuyện bình thường, vì rất nhiều làng “đang yên đang lành” hàng mấy trăm năm nay, rồi đây cư dân qua bao thế hệ “ăn đời ở kiếp”, tạo lập các giá trị văn hóa, nhiều giá trị đã trở thành di sản quốc gia, phải dời đến nơi xa lạ, không chỉ phương kế mưu sinh ra sao, việc học hành của con em thế nào; thậm chí nhiều cộng đồng rất có thể phải “tan đàn xẻ nghé”, không hợp thành một cộng đồng cố kết như từng có; rồi còn việc tạo lập các giá trị văn hóa, xây dựng các mối quan hệ với cư dân nơi chuyển đến…  bảo không lo lắng, tôi dám chắc, đó là những kẻ vô tâm, vô cảm nhất.

Có nhiều bàn luận về sự cần thiết của việc di dời các làng quê ven sông Hồng đã ổn định với bản sắc riêng từ bao đời nay. Tôi không bàn, vì đó là việc của chính quyền. Nhưng nghiên cứu về đô thị Hà Nội, tôi nêu một câu hỏi để cộng đồng mạng cùng ngẫm: Tại sao vào cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, khi quy hoạch thành phố Hà Nội, thực dân Pháp với đủ quyền và lực, hoàn toàn có thể “xóa” bỏ khu phố phía Đông (tức khu phố cổ) để cải tạo thành một thành phố đẹp, in dấu ấn “khai hóa văn minh” của chúng, nhưng không, họ không động đến, chỉ cải tạo nhỏ, còn giữ nguyên? Đó là vì họ thấy được nét độc đáo riêng của khu phố cổ về phương diện lịch sử và văn hóa, cần phải giữ. Phải chăng, nhờ quyết định này mà chúng ta còn giữ được “khu phố cổ Hà Nội” để thu hút được khách du lịch ngày nay? Ngay cả với vùng ngoài phố cổ, nhiều trường hợp, người Pháp khi quy hoạch không “bốc” đi tất cả dân cư. Điển hình là khu vực làng Cơ Xá Nam, khi lập các phố Nguyễn Huy Tự, Lê Quý Đôn, chỉ những nhà nằm trên trục đường phố, hoặc trong khu vực các công trình sẽ được dựng mới phải dời đi, còn lại vẫn được “ở yên”. Theo sự liên tưởng này thì Hà Nội có nhất thiết phải di dời các làng ven sông hay không? Sao không để các làng này như là những “điểm xuyết” cho một đô thị Hà Nội hiện đại, vừa để giữ một phần của truyền thống, vừa khai thác các giá trị truyền thông để phục vụ sự phát triển?

Bây giờ bàn đến việc di dời các làng ven sông như các thông tin trên mạng xã hội xuất hiện những ngày qua. Cá nhân tôi (chắc là có nhiều người đồng cảm), ngoài những băn khoăn về việc thoát lũ cho sông Hồng (chức năng quan trọng bậc nhất của sông), cuộc sống của người dân các làng ven sông, khi thực hiện Dự án trục đại lộ cảnh quan sông Hồng, còn một lo lắng rất lớn. Ấy là việc bảo vệ các di sản văn hóa của các cộng đồng cư dân. Có rất nhiều tình huống xảy ra, nếu không tính toán thấu đáo, di sản văn hóa sẽ mất mát, thất thoát không thể lấy lại được.

Một là, với các di tích thờ cúng: các làng ven sông Hồng đều có đầy đủ các thiết chế: đình, miếu (đền, quán, am, nghè) thờ thành hoàng; miếu (đền, quán am, nghè) thờ các thần, các sự kiện, nhân vật không phải thành hoàng; chùa, nhà thờ các dòng họ; nhiều làng còn văn từ, văn chỉ, đến Mẫu, cổng làng cổ, nhà thờ Công giáo…. Các di tích đó thể hiện trí tuệ, công sức, tình cảm, sự đồng lòng của các thế hệ cư dân với làng. Nay, nếu làng phải “bốc” đi toàn bộ thì di chuyển như thế nào để giữ được tính nguyên bản của các di tích, từ tổng thể đến các yếu tố chi tiết, bảo đảm được các giá trị kiến trúc, điêu khắc – nghệ thuật, hay giữ được cái HỒN của di tích? Các di tích đó “ngự” tại các điểm thiêng, nay nếu phải chuyển đến địa điểm mới, việc tìm địa điểm thiêng cho các di tích như ra sao? Chi phí cho việc di chuyển đó đã tính được độ sát thực chưa, nếu không sát, dẫn đến thiếu hụt, chủ đầu tư dự án có bù vào không, hay lại bắt dân gánh chịu? Người Pháp lại cho chúng ta một kinh nghiệm: không di dời các di tích vốn có. Điển hình là tại phố Nguyễn Huy Tự, dân cư phải chuyển đi gần hết, nhưng ngôi đền thờ Thái úy Lý Thường Kiệt (ở nhà số 4 hiện nay) vẫn tồn tại.

Trường hợp cộng đồng cư dân phải di chuyển nhưng không toàn bộ – đồng bộ (hoặc số đông ở lại, hoặc số đông chuyển đi) thì việc duy trì các di tích đó như thế nào, những chủ thể của các di tích đó sẽ thực hành các nghi lễ, các hoạt động văn hóa gắn với nghi lễ ra sao?

Đối với các giá trị văn hóa phi vật thể, nhất là các lễ thức – hội, các trò diễn liên quan đến sự tích thành hoàng, các diễn xướng văn nghệ dân gian… sẽ duy trì như thế nào, trong trường hợp các làng phải di chuyển theo các phương thức: tập trung tại một điểm, hay “xẻ lẻ” thành nhiều điểm. Hội làng, các lễ thức, trò diễn trong hội đều diễn ra trong không gian nhất định, trong đó có các điểm thiêng. Vậy khi cộng đồng cư dân chuyển đến nơi ở mới, hoặc tập trung, hoặc phân tán, việc tạo không gian diễn xướng và điểm thiêng sẽ ra sao?

Và còn rất nhiều vấn đề khác.

Tôi không rõ trong Dự án Trục cảnh quan sông Hồng, các vấn đề trên có được làm rõ hay không?

Tôi không rõ các vị trong Ban Văn hóa – xã hội thuộc Hội đồng Nhân dân thành phố Hà Nội có chất vấn, phản biện chủ đầu tư dự án hay không, hay dễ dàng thông qua?

Tôi không rõ các bà – ông lãnh đạo Bộ Văn hóa – Thể thao và Du lịch đã biết việc này chưa và nếu đã biết, có quan tâm đến việc bảo vệ, giữ gìn, duy trì các di sản văn hóa không, khi Dự án trục cảnh quan sông Hồng được đề xuất lên và rồi đây sẽ được thực hiện? Luật Di sản văn hóa liệu có được tôn trọng, nếu có nhiều làng quê ven sông Hồng với đậm đặc các di tích thờ cúng (trong đó, rất nhiều di tích cấp quốc gia, một số là “di tích quốc gia đặc biệt”), các hội làng gắn với các diễn xướng, các sinh hoạt văn hóa dân gian độc đáo?

Xin gửi tới Ban Văn hóa – xã hội thuộc Hội đồng Nhân dân thành phố Hà Nội, Bộ Văn hóa -Thể thao và Du lịch những băn khoăn, thắc mắc của tôi. Mong ý kiến này sẽ được quý Ban, quý Bộ quan tâm, xem xét.

Đình làng Bát Tràng, di tích kiến trúc – nghệ thuật cấp quốc gia. Nếu làng Bát Tràng (và nhiều làng ven sông Hồng) phải di chuyển phục vụ Dự án trục đại lộ cảnh quan sông Hồng thì việc bảo tồn các di tích như thế nào?

Ngoài đình, làng Bát Tràng còn có chùa, văn từ, đền Mẫu, 11 nhà thờ các dòng họ. Hội làng Bát Tràng là hội lớn, với nhiều lễ thức độc đáo.

 

This entry was posted in Vấn đề hôm nay and tagged . Bookmark the permalink.