Những ý niệm triết học và văn hoá lớn trong một bài thơ nhỏ

(Bài phát biểu trong buổi ra mắt sách Ngôn ngữ & không gian văn chương của nhà phê bình văn học Bùi Vĩnh Phúc)

Quyên Di

 

Kính thưa quý vị,

Thưa các chị, các anh,

Trước hết, cho phép tôi tâm sự một chút. So với vóc dáng trung bình của đàn ông Việt Nam, tôi thuộc loại nhỏ con. Năm ngoái, sang Nhật Bản, nói chuyện về ngôn ngữ và văn hoá Việt Nam trong đại thính đường Đại học Osaka, mình tôi đứng trên một sân khấu rộng thênh thang. Sau buổi nói chuyện, một ứng viên tiến sĩ Nhật Bản nói với tôi: “Thầy đứng nhỏ nhoi trong một không gian mênh mông, em thấy thầy… xinh quá!”. Nghe vậy, tôi thừa biết hai tiếng “xinh quá” cô ấy nói là để thay thế cho ba tiếng “tội nghiệp quá!”.

Vì nhỏ người nên tôi chỉ thích, hay chỉ dám thích, những cái gì nho nhỏ: lúc bé trong khi các bạn chơi những con quay to, thả những cánh diều lớn thì tôi ngồi mân mê mấy hòn bi nho nhỏ. Cả đời, cho đến tận bây giờ, tôi vẫn chỉ ưa những cái nhỏ: nói nho nhỏ, ăn cái bánh, cái kẹo, quả ô mai nho nhỏ, đến đâu thì chọn góc nhỏ mà ngồi, có ước mơ thì ước mơ làm được cái gì nho nhỏ, viết sách thì viết mấy quyển nho nhỏ. Khi đọc Bùi Giáng, thấy câu thơ ổng dịch trong bài thơ La Géante của thi sĩ người Pháp Charles Baudelaire, là: “Sống bên mình một kỳ nữ to con,” tôi hoảng hồn, suýt làm rơi quyển sách. Chưa bao giờ tôi dám ước mơ một cách phạm thượng “sống bên mình một kỳ nữ to con” cả.[1]

Vậy mà nhà phê bình văn học Bùi Vĩnh Phúc đưa cho tôi một quyển sách “to con” của ông ấy, bảo tôi: “Vui lòng đọc, rồi phát biểu trong ngày ra mắt sách.” Tôi gọi quyển sách của nhà phê bình văn học Bùi Vĩnh Phúc là quyển sách “to con” vì nó dày tới 725 trang, “font” chữ 11.5, “single space,” nghĩa là không biết nó chứa bao nhiêu chữ, chỉ biết là nhiều lắm, lắm lắm. Quyển sách ấy, quý vị và các chị các anh đã có hay sắp có trong tay nhan đề là Chữ nghĩa & không gian văn chương.

Khổ cho anh chàng nhỏ con, thích những cái gì con con như tôi rồi. Tôi định chối không dám lãnh trọng trách, nhưng rồi tự nghĩ, “biết đâu đây là dịp mình làm được cái chuyện lớn lớn một tí,” thế là tôi bằng lòng.

Thật là trên đời không có cái dại nào giống cái dại nào. Cầm quyển sách rồi, lần giở từng trang, từng bài, tôi toát mồ hôi. Không thể nào đọc hết, hiểu thấu đáo hết được. Nếu ông Phúc cho tôi đọc trong hai năm thì may ra… đằng này có chừng một tháng thì làm sao mà “gánh vác” được. Biết mình dại, tôi toan gặp ông, trả sách và xin thoái thác, nhưng lại nghĩ, “như vậy thì nhục lắm,” thế là đành nhắm mắt làm liều. Người đời có câu “to đầu mà dại.” Như thế không có nghĩa là “nhỏ đầu thì khôn” đâu. Lấy tôi ra làm chứng: đầu tôi vốn nhỏ mà tôi nào có khôn. Bởi vậy, muốn cho đầy đủ, câu ấy phải là: “To đầu mà dại, nhỏ đầu dại hơn.”

Việt Nam ta lại có câu: “Cái khó nó bó cái khôn.” Sau này câu ấy được biến đổi thành “Cái khó nó ló cái khôn.” Gặp chuyện khó về quyển sách “to con” này, tôi ngồi lục lọi mãi xem có cái gì nó “ló” ra không. May quá! Sau ba đêm tôi thức trắng, “nó” “ló” ra thật.

“Nó” đây là một bài thơ nhỏ, nằm trong bài viết Những đoá hoa dịu dàng phất phơ trong gió, từ trang 52 đến trang 64 trong quyển sách Chữ nghĩa & không gian văn chương. Bài thơ được in trên trang 63, leo qua trang 64, nghĩa là ở cuối bài. Bài thơ nhỏ, rất hợp với anh chàng nhỏ con, thích những cái nho nhỏ là tôi.

Để giới thiệu bài thơ này, Bùi Vĩnh Phúc viết: Mẹ tôi cùng các anh chị em chúng tôi đoàn tụ, và bà đã sống thêm được trên dưới 20 năm nữa với chúng tôi ở Mỹ, cho đến năm bà 103 tuổi. Lúc ấy, trên mái đầu già nua kia, tóc bà đã bạc trắng cả. Tôi không nói như cước, vì nó mềm mại và mỏng mảnh lắm. Bay bay như những sợi tơ trời. Năm 2009, bà được 100 tuổi, anh chị em chúng tôi có làm một lễ mừng với sự tham dự của các người thân và một số bằng hữu. Con gái tôi, lúc ấy được 11 tuổi, đã đọc bài thơ tôi viết để thay mặt cháu tặng cho Bà.

Và bài thơ nhỏ ấy như sau:

Thơ Cháu yêu bà

Bà tôi giờ tuổi đã già

Tóc bà trắng bạc như là bông lau

Tình bà như thể sông sâu

Bà hay dạy bảo những câu chân tình

Bà bảo cháu giống bình minh

Còn bà thì giống mái đình về khuya

Bà che cháu những cơn mưa

Bà như cổ tích, chuyện xưa ngọt ngào

Bà như cánh hạc trên cao

Cháu như hoa bé ngẩng chào trời xanh

Cháu rồi sẽ lớn thật nhanh

Bà như củi lửa cháy vào bóng đêm

Bà như làn suối êm đềm

Chảy trong đời cháu cả đêm lẫn ngày

Cháu xin trời đất cao dày

Chở che bà sống vạn ngày bình an.

Bài thơ 16 câu, làm theo thể lục bát, ngôn từ đơn sơ, giản dị, vì tác giả viết là để thác lời một cháu bé 11 tuổi. Tài năng của một cây viết được nhìn ra ở chính chỗ này: trong những sáng tác văn chương, những bài khảo luận, nghiên cứu, phê bình văn học, Bùi Vĩnh Phúc dùng những ngôn từ lộng lẫy, thâm trầm sâu sắc để cung hiến tri thức tinh tuý cho một tầng lớp độc giả già giặn, trọng sự suy tư, yêu văn chương, am tường học thuật; mà cũng chính Bùi Vĩnh Phúc đó, khi thác lời một bé con 11 tuổi thì ngôn từ quá đỗi giản dị, đơn sơ.

Lúc đầu, tôi đọc thoáng qua bài thơ này, cũng không để ý nhiều, nhưng rồi lại sau ba đêm nữa tôi thức trắng, có một cái khác, to lớn, kỳ vĩ nó “ló” ra làm tôi hoảng hốt. Hoá ra bên trong chiếc áo đơn sơ giản dị ấy lại là một thân thể khổng lồ gồm những triết lý và ý niệm văn hoá vô cùng sâu thẳm của Việt Nam. (Như vậy, ít ra tôi cũng đã được gặp một “kỳ nữ to con,” hay nói khác đi là một “nương tử khổng lồ!” – chữ của Bùi Giáng.)

Xin hãy cùng tôi lần theo từng câu thơ để khám phá những triết lý và ý niệm văn hoá đó.

Trước hết là ý niệm văn hoá Việt Nam về gia đình. Như Bùi Vĩnh Phúc thổ lộ: “Con gái tôi đã đọc bài thơ tôi viết để thay mặt cháu tặng cho Bà.” Như thế là đã hiện ra ba thế hệ: ông bà, cha mẹ, và con cái. Ý niệm văn hoá “tam đại đồng đường” của bốn dân tộc đồng văn Hoa, Việt, Nhật, Hàn, nhất là của Việt Nam không phải là ý niệm văn hoá về gia đình của người Âu Mỹ. Với họ, gia đình tiêu chuẩn chỉ gồm hai thế hệ là cha mẹ và con cái; nhưng với người Việt Nam, gia đình tiêu chuẩn trọn vẹn gồm ba thế hệ như đã nói. Mà số ba là một huyền số nói lên sự bền vững và là con số của toàn thể. Bền vững như “kiềng ba chân” và toàn thể như “một cây làm chẳng nên non, ba cây chụm lại nên hòn núi cao.” Nếu “ba cây” thực sự chỉ là “ba cái cây” thì cũng không thể làm nên “hòn núi cao” được. “Ba cây” đây phải được hiểu là “tất cả các cây,” là toàn thể.

Dù rằng ngày nay gia đình Việt Nam ở một vài nơi có rạn nứt phần nào, nhưng người Mỹ nhìn vào gia đình Việt Nam, họ vẫn rất cảm phục vì tính bền vững. Năm 1975, khi lớp người tị nạn Việt Nam đầu tiên đặt chân đến thủ phủ Baton Rouge, tiểu bang Louisiana, vị tổng giám mục của tổng giáo phận này là Đức Cha Joseph V. Sullivan đã nói với người Mỹ về gia đình Việt Nam: “Người Việt Nam đến đây dạy cho chúng ta ba bài học: thứ nhất, về đức tin kiên cường; thứ hai, về ơn gọi đông đảo; và thứ ba, về nền tảng gia đình bền vững.”

Kế đến, trong bài thơ nhỏ của Bùi Vĩnh Phúc hàm chứa triết lý Âm-Dương. Những cặp đối xứng với nhau mà không phủ nhận nhau là bà đã già – cháu còn bé, bình minh – bóng đêm, đêm – ngày, trời – đất đã giúp chúng ta tìm thấy triết lý Âm – Dương đó.

Ở một tầng sâu hơn và phổ quát hơn chứ không riêng trong bài thơ này, triết lý Âm – Dương được tìm thấy trong những cặp tiên và rồng là vật tổ, sông và núi là giang sơn, đất và nước, lúa gạo và nước mắm. Quốc gia Việt Nam gồm cả đất liền và sông biển, bởi vậy chúng ta mới gọi quốc gia của mình là “đất nước.” Cây lúa mọc trên đất, cho ra lúa gạo là thứ thực phẩm chính nuôi sống chúng ta; cá biển sống dưới nước, cho ra nước mắm là gia vị chính làm cho món ăn thêm đậm đà. Chúng ta mang ơn đất nước, sống chết cho đất nước, vì đất nước cho chúng ta cuộc sống và sống cuộc sống ấy một cách đậm đà, ý vị. Tất cả những ý niệm triết lý âm dương này nằm một cách kín đáo trong bài thơ Cháu yêu bà của Bùi Vĩnh Phúc.

Ý niệm văn hoá về “Sông”

Bùi Vĩnh Phúc viết trong bài thơ Chữ nghĩa & không gian văn chương:

Tình bà như thể sông sâu

Đất nước chúng ta, nhất là miền Nam, là miền đất của sông nước. Chính vì thế, văn hoá Việt Nam đậm nét sông nước. Cũng là Táo Quân lên chầu trời, mà người Hoa cho Táo cưỡi ngựa đi đường bộ còn người Việt cho Táo cưỡi cá chép đi đường thuỷ.

Dòng sông có một lượng nước dồi dào và chứa trong nó biết bao điều bí ẩn.

Có bao giờ chúng ta ra ngồi cạnh một dòng sông? Trong lặng lẽ, chúng ta sẽ nghe dòng sông thầm thì kể chuyện.

Sông kể rằng sông cũng có những cuộc hẹn hò và những lời thề hứa. Sông hẹn với trăng mà thề với núi. Sông ít nói nhưng luôn giữ lời. Đừng nghĩ rằng ở lại như núi đã là son sắt, mà ra đi như sông thì sẽ chóng quên. Cũng đừng nghĩ rằng vằng vặc trên cao đã là trong sáng mà âm thầm dưới đất thì vốn tối tăm. Sông thông cảm với những ai bị phụ bạc và những người bị hiểu lầm, vì sông đã từng bị phụ bạc và chịu hiểu lầm.

Sông cũng kể cho chúng ta nghe rằng có những con thuyền thả trên dòng sông, lớn nhỏ khác nhau và vì những mục đích khác nhau. Để vớt tôm bắt cá, để chở người sang bến, để ca hát ngao du, để thả trôi một đời lãng mạn. Hay để cho những điều khác nữa. Sông biết tất cả mục đích và dự tính của những con thuyền, có những điều trong sáng cao thượng, có những điều bình thường như đời sống con người, có những điều thấp hèn u tối. Trong âm thầm, sông cất lời khích lệ hoặc khuyên can. Có những con thuyền nghe thấy, nhưng hầu hết thì không.

Sông mở lòng ra để cho ta thấy tâm vô lượng. Sông có sức cuốn hút, sông có thể hung hăng, nhưng chẳng có mấy khi sông dùng sức mạnh. Trong lòng sông chứa đựng một kho tàng và một điều nguy hiểm. Nhận được kho tàng hay nhận điều nguy hiểm, cái đó tuỳ thuộc vào chính người đến với sông. Sông hiến tặng tất cả. Hiến vật nào, tùy thuộc tâm của người đòi nhận lãnh.

Và trong sông có chứa đựng một điều huyền bí. Người thường chỉ nhìn thấy trong lòng sông có tôm cá, có phù sa, và chỉ thấy sông trôi đi, trôi đi mãi. Sông chờ đợi ai đó đến với sông, đừng thấy tôm cá, đừng thấy phù sa, nhưng thấy cái lấp lánh của dòng nước, cái bát ngát của hơi thở dòng sông, cái mênh mang chẳng có bến bờ, cái ngưng đọng của thời gian và không gian, cái tiếng âm vang thâm trầm của vũ trụ… Lúc đó sông sẽ không e ngại hé mở cho Người thấy điều huyền bí của sông, tặng vật vô giá chỉ hiến dâng cho ai có thể nhìn thấy.

Vậy mà “tình bà như thể sông sâu.” Như thế, tình bà dồi dào lắm, sâu thẳm lắm, bao dung lắm và cũng huyền bí lắm, không để tâm thì không hiểu hết được, mà dù có để tâm cũng đã chắc gì hiểu hết.

Ai trong chúng ta lại chẳng nhớ bài thơ Làm nũng bà của Trần Trung Phương:

Bà ơi cháu rất yêu bà

Đi đâu bà cũng mua quà về cho

Hôm qua có chiếc bánh bò

Bà chia cho cháu phần to nhất nhà

Mỗi lần cháu chạy chơi xa

Hễ mẹ cháu đánh thì bà lại can

Cháu không nói bậy, nói càn

Bà xoa đầu cháu, khen: ngoan nhất đời

Bà tuy đã ngoại tám mươi

Luôn luôn miệng nở nụ cười không răng.

Sáng nay bà hẹn cháu rằng:

Tối bà kể chuyện ông trăng trên trời.

Kể đi cho cháu bà ơi

Bà không kể, cháu không chơi với bà

Cháu ra chơi với thằng Ba.

Quay trở lại với “sông” của Bùi Vĩnh Phúc. Trong Chữ nghĩa & không gian văn chương ông có viết nhiều đoạn về “sông.” Một thí dụ, trong bài trích Trịnh Công Sơn, Ngôn ngữ & những ám ảnh nghệ thuật, Bùi Vĩnh Phúc viết:

Không Gian Sông:

Đây cũng là một không gian ám ảnh của Trịnh Công Sơn, người nhạc sĩ. Nhưng không như Biển, Sông thường là gần gụi với con người hơn, về khía cạnh địa lý cũng như về khía cạnh tâm trạng. Thường, sông quấn quanh không gian cuộc sống của con người và đem lại cho con người những mơ ước thoát dòng. Những không gian cuộc đời nhiều khi quá chật hẹp và làm con người cảm thấy bí bức. Sông cho con người một lối thoát. Sông sẵn sàng nghe những lời tâm sự của người, và chở những mơ ước của nó đi xa. Hoặc, có khi, sông mang những mơ ước của con người lên cao, thành mây, rồi thành mưa. Như thế, sông là người bạn mà con người gần như luôn luôn có thể tin cậy được. Sông bồi đắp và nuôi dưỡng. Và khi những mơ ước của con người được sông đưa lên cao để nở giữa trời, sông quả thật đã dìu con người và khiêu vũ với nó giữa cuộc thênh thang trời đất:

Những dòng sông nối đôi tay liền với biển khơi …

Con sông là thuyền / mây xa là buồm

Từng giọt sương thu hết mênh mông

(Bốn mùa thay lá)

Sông mở rộng không gian cho con người. Và có khi, nó dìm chết một ngày của đời người trong vũng không gian ấy.

Dòng sông nắng cho bờ bến rộng…

Một dòng sông chở ngày hấp hối

(Vàng phai trước ngõ)

Nhưng, dù sao đi nữa, sông với người vẫn gần như luôn cần có nhau. Bởi vì, hai thực thể đó, có lẽ đã là những chiếc bóng của nhau. Sông đã giữ gìn hình ảnh của con người trong nó. Và con người, không phải nó vẫn luôn mang trong lòng một dòng sông hay sao? Một dòng sông êm đềm hay một dòng nước cuồn cuộn chảy. Để con người nghe ra những tiếng thời gian. Thế nên, nếu có một lần nào đó người bỏ đi, dòng sông kia còn lại gì?

Người ra đi bến sông nằm lạnh

Này nhân gian, có nghe đời nghiêng?

(Có nghe đời nghiêng)

Bởi lẽ ấy, rồi người lại trở về. Sông ôm ấp, gìn giữ và chở đi xa những mơ ước hay những dấu buồn đau của con người.

Dường như bão qua / dòng sông nước lên

Đời không có mưa mà vẫn ướt mềm

(Gần như niềm tuyệt vọng)

Tìm lại trên sông những dấu hài (Đóa hoa vô thường)

Một dòng sông sâu / chở hồn thương đau

(Em đi trong chiều)

Chính vì sông là nguồn an ủi, là nơi ôm ấp những thiết tha, đau đớn của ta, là nơi rửa sạch những vết thương mà ta có thể bắt gặp giữa đời này, Trịnh Công Sơn (và cả người nữ của anh) thường tìm về sông để kể lể, hỏi han. Người tìm về dòng sông / hỏi thầm về đời mình. Thậm chí, sông còn là nơi để nhận giữ những lời trăng trối cuối:

Một chiều em đứng cuối sông

Gió mùa thu rất ân cần

Chở lời kinh đến núi non

Những lời tình em trối trăng

(Đóa hoa vô thường)

Cũng chính vì biết em đã ra sông để thả bay những lời trối trăng trong nắng, Trịnh Công Sơn, khi đi tìm em, cũng đi về dòng sông ấy. Vì anh hiểu rằng, sông kia đã trở nên một điểm hẹn giữa hai người:

Gọi em cho nắng chết trên sông dài

(Hạ trắng)

Còn một lời gọi nào đẹp hơn thế? Người nhạc sĩ đứng bên bờ sông và gọi người yêu của mình. Anh gọi mãi, gọi mãi. Cho đến khi chiều hấp hối. Và chết trên dòng sông trắng. Tưởng như tiếng gọi đã đụng vào cõi vô biên.

(trang 166-168)

Nhưng thôi, sông đưa chúng ta đi xa quá. Hãy quay trở về với bài thơ nhỏ của Bùi Vĩnh Phúc.

Còn bà thì giống mái đình về khuya

Đình là ngôi nhà chung của làng, là nơi tụ hội sinh hoạt của dân làng. Đình cũng là tụ điểm những linh thiêng của lòng dân, vì ở đình, người ta thờ thành hoàng, vị phúc thần phù hộ và ban ơn lành cho dân làng. Ở đình, hương chức tụ họp bàn việc làng. Ở đình, người ta xử những vụ kiện cáo. Ở đình, các bô lão nếm rượu đầu xuân. Ở sân đình, dân làng tụ họp vui hội đầu năm. Ở sân đình, trai gái tỏ tình một cách mộc mạc mà nên thơ: “Hôm qua tát nước đầu đình / Bỏ quên cái áo trên cành hoa sen / Em được thì cho anh xin / Hay là em để làm tin trong nhà…” và “Qua đình ngả nón trông đình / Đình bao nhiêu ngói thương mình bấy nhiêu.” Ở sân đình, người ta dựng cây nêu ngày 23 tháng Chạp, làm lễ khai hạ tức là hạ nêu ngày mồng 7 tháng Giêng. Ở đình có tôn ti trật tự: trong bữa cỗ, hương chức ngồi đâu, bô lão ngồi đâu, tráng đinh ngồi đâu, mõ ở vị trí nào đều được định rõ. Đình đem lại vinh dự cho người ta: Một miếng giữa làng bằng sàng xó bếp. Trong “Triết Lý Cái Đình,” Kim Định ví von: nước là liên bang, còn làng là tiểu bang. Nước có phép nước, làng có lệ làng, mà phép nước phải thua lệ làng. Triều là tượng trưng của nước, còn đình là tượng trưng của làng. Bởi thế, không thể có làng mà không có đình làng.[2]

Tất cả những sinh hoạt tâm linh, truyền thống, luật pháp, ăn uống, vui chơi như vừa kể trên là vào ban ngày. Thế nhưng ban đêm, tất cả đều tĩnh lặng. Đình nghỉ ngơi. Nghỉ trong thinh lặng nhưng đình vẫn ôm ấp trong lòng nó tất cả dân làng và vị phúc thần thành hoàng vẫn không ngừng gia hộ độ trì cho dân làng. Mái đình vẫn che chở đời sống người làng.

Bà cũng thế. Bùi Vĩnh Phúc viết “Còn bà thì giống mái đình về khuya.” Bà trọng tuổi rồi, không còn đi lại nhiều. Bà thường ngồi một chỗ, mắt lim dim, tay lần tràng hạt. Trong cái tĩnh như “mái đình về khuya,” bà vẫn yêu cháu, vẫn cầu mong những phúc lành đổ xuống cho cháu, vẫn thiết tha cầu nguyện cho cháu.

Chúng ta lần xuống câu thơ kế tiếp:

Bà che cháu những cơn mưa.”

À, mưa! Bà che mưa cho cháu, cho cháu khỏi ướt át, lạnh lùng. Tuy nhiên, mưa lại là một nét văn hoá không thể thiếu của người Việt. Có thể nói chắc chắn rằng không ai trong chúng ta không có những kỷ niệm về mưa.

Bùi Vĩnh Phúc, trong Chữ nghĩa & không gian văn chương viết nhiều về mưa, vì hình như ông đã hoà mình vào “văn hoá mưa.” Trong phần 3 của quyển sách, gồm những bài thơ, Bùi Vĩnh Phúc có rất nhiều bài nhắc đến mưa, ở tên bài cũng như trong nội dung những bài thơ. Tuy nhiên, tôi thích những đoạn văn xuôi Bùi Vĩnh Phúc viết về mưa hơn.

Trong Hãy ngước mặt và thả bay đi những cơn mưa, Bùi Vĩnh Phúc viết:

Ngồi trong phòng đọc sách (hay có thể nghĩ nó là một cái nhà chòi, nếu muốn tưởng tượng ra mình là một Tô Vũ chăn dê hay một gã chăn vịt), tôi nhìn ra ba phía mưa bay. Những cơn gió lướt theo cùng với cơn mưa quật đập và làm rũ rượi những hàng cây lá xa xa mờ khuất trong mưa. Không phải mưa, đó là lớp lớp vó ngựa phi trong các nẻo mưa bay. Đó là trùng trùng những cánh chim đập gió trong một ngày bão dậy. Những cây cối, hoa cỏ trong vườn thượng nhà tôi cũng tơi tả, xác xơ và vương đầy những giọt nước của cơn mưa mù khắp. Ngồi trong chòi sách, giữa những âm thanh và cuồng nộ của đất trời ấy, giữa trùng trùng trắng xóa mưa bay ấy, tôi mở quyển A Tear and a Smile của Kahlil Gibran ra đọc một đoạn tả bước chân mưa. Hay mở The Rain on the Roof của Coates Kinney, hoặc The Voice of the Rain của Walt Whitman ra để nghe thử những tiếng mưa của thi sĩ. Và thấy là mình vô lý. Bèn gấp sách lại, cởi trần, ra đứng dang hai tay sát thành sân thượng, để những lớp mưa theo gió hắt mạnh vào người. Nhắm mắt lại, hét Aaaaaaaaaaaaaaa theo mưa. Và thấy mưa về ngập tràn thân thể. Mưa thấm sâu vào trong tận cội rễ mình.

Cũng trong bài đó, Bùi Vĩnh Phúc viết:

“Có những lần ta và vài người bạn cùng với đám học trò ngồi trong nhà nghỉ mát ở Club Nautique Thanh Đa, nhìn mưa đan chéo bốn bề.

Mưa ào ạt trắng xóa giăng ra thành những sợi dây tơ mỏng và trong, nối liền trời với đất. Đất trời và không gian làm thành một rừng mưa phủ mộng. Phía xa xa kia là dòng sông. Dòng sông ngân lên thành một khúc nhạc trắng muốt. Dòng sông trắng ngân lên như một phím dương cầm. Sông mưa. Sông mưa. Những tiếng mưa vỗ đều trên sóng mềm và gió lá. Cô học trò ôm đàn ngồi hát: Gọi mùa thu lãng quên vào tiếng mưa rơi êm đềm. Trời còn mưa ướt thêm, cho dài ngày tháng không tên. Người bạn hát: Em đi về cầu mưa ướt áo. Đường phượng bay mù không lối vào. Hàng cây lá xanh gần với nhau. Ta hát: Sầu thôi xuống đầy. Làm sao em nhớ. Mưa ngoài sông bay… Và Tuấn búng guitar những bản classic hay quá. Bây giờ. Bây giờ, bạn bè của tôi mấy đứa đã chết? Mấy đứa còn lang thang khắc khoải giữa đời? Tất cả đều đã tan hoang trong mấy cơn mưa sắc nhọn đầy lửa máu của hận thù. Mấy cô học trò thì cũng có đứa chết. Có đứa lấy chồng và theo chồng về miền cát nắng, bỏ rơi trong ký ức mấy cơn mưa mù ngày cũ. Có đứa vượt biển thoát nạn. Có đứa vượt biển gặp hải tặc. Tội nghiệp cho bạn bè và các em tôi. Những lần mưa ấy, cả mình và mấy người bạn tóc còn đen quá. Và đám học trò thì mắt trong như chưa vương một sợi khói.

Chỉ có đám mưa bay ngoài kia lạc vào mắt nhỏ nhìn các em hát đàn hồn nhiên xanh mướt. Bây giờ…”

Tôi phải ngưng nói về văn hoá mưa ở đây, kẻo rồi biết đâu sẽ có những hạt mưa trong mắt ai trong khoảng không gian này hôm nay.

Tạm ngưng mưa, chúng ta ngắm nhìn cánh hạc trong bài thơ. Bùi Vĩnh Phúc viết: “Bà như cánh hạc trên cao.” Đương nhiên, bà như cánh hạc. Đã từ lâu, người Việt chúng ta gọi tuổi cao niên là tuổi hạc. Tôi xin trích một đoạn trong Wikipedia, bài viết Hình tượng chim hạc trong văn hoá:

Hình tượng loài chim hạc ảnh hưởng sâu sắc trong văn hóa phương Đông và mang nhiều ý nghĩa biểu tượng thanh cao. Hạc là con vật tượng trưng cho sự tinh tuý, thanh tịnh, thần tiên thoát tục còn gọi là Tiên hạc (仙鶴). Chim hạc là loài đứng đầu trong họ lông vũ còn gọi là đại điểu hay nhất phẩm điểu có tính cách của một người quân tử, là con chim của vũ trụ, của tầng cao, báo hiệu sự chuyển mùa, đại diện cho thế lực thiên nhiên từ trời xanh. Hạc là loại linh vật được cho là bất tử của loài chim, là loài chim có phẩm chất cao quý, mạnh mẽ đối đầu với khó khăn, mang lại nhiều may mắn. Trong nghệ thuật và hội họa truyền thống, có rất nhiều những bức hoạ thuỷ mặc về chim hạc, nó ẩn chứa một tầng ý nghĩa nào đó mà hình ảnh của nó rất được chú trọng.

Loài hạc có bộ lông màu đen tuyền hoặc trắng muốt và có tuổi thọ, chính vì vậy mà nó có biểu tượng là sự trường tồn, là tuổi thọ và sự bền vững, hạc còn biểu tượng cho sự thanh đạm, thuần khiết nên được đặt trên bàn thờ ngụ ý tới phẩm chất cao quý, mạnh mẽ đối đầu với khó khăn, mang lại may mắn và ấm êm. Truyền thuyết nói rằng hạc là chim tiên sống lâu, cuốn Tướng hạc kinh đã gọi hạc là thọ bất khả lượng (sống lâu không thể tính) hay hạc thọ thiên tuế (hạc sống nghìn năm). Trong Bát vật thì Hạc được thể hiện bằng hình hạc đứng trên lưng rùa thường để trên bàn thờ, đình, chùa, hạc đầu đội hoặc mỏ ngậm một cái đế để cắm nến. Hạc là một con chim hình dáng gần giống như loại sếu được thần thoại hoá và mật thiết quan hệ đến tín ngưỡng biểu hiện của sự hài hoà giữa trời và đất, giữa âm và dương.[3]

Trong bài thơ, “bà như cánh hạc trên cao.” Như thế, bà đã vượt ra khỏi cái lẽ thường tình bị ràng buộc của kiếp người: “Em như con hạc đầu đình / Muốn bay không cất nổi mình mà bay.” Bà cũng không muốn mai sau này bất động như chim hạc bằng đồng trong bộ thất sự trên bàn thờ. Bà bay lên cao, nhưng cháu vẫn thấy được bóng dáng bà, vì “Cháu như hoa bé ngẩng chào trời xanh.”

“Cánh hạc” tượng trưng cho tuổi hạc của bà, cho cái khí chất thần tiên của bà cũng khiến chúng ta nhớ đến Hoàng Hạc Lâu của Thôi Hiệu mà trong cuốn sách 725 trang, Bùi Vĩnh Phúc cũng nhắc đến:

Tích nhân dĩ thừa hoàng hạc khứ,

Thử địa không dư Hoàng Hạc lâu.

Hoàng hạc nhất khứ bất phục phản,

Bạch vân thiên tải không du du.

Tình xuyên lịch lịch Hán Dương thụ,

Phương thảo thê thê Anh Vũ châu.

Nhật mộ hương quan hà xứ thị?

Yên ba giang thượng sử nhân sầu.

Tích nhân dĩ thừa hoàng hạc khứ,” “Người xưa đã cưỡi hạc vàng bay đi,” và “Hoàng hạc nhất khứ bất phục phản,” “Hạc vàng một khi bay đi thì không trở lại,” nhưng với bà, bà bay lên cao, bây giờ và mai sau khi về Ngôi Nhà Thật, bà vẫn ở gần cháu, trong giấc mơ của cháu và trong sự phù hộ cho đời cháu của bà.

Chúng ta bước sang câu thơ khác: “Bà như củi lửa cháy vào bóng đêm.”

Đêm lạnh mà trở nên ấm vì có bếp lửa. Trong căn bếp nhỏ có một cái kiềng ba chân, trên đặt cái niêu bằng đất để thổi cơm. Bên dưới là ngọn lửa cháy bập bùng. Cũng có khi bếp chẳng thổi cơm nhưng lửa vẫn âm ỉ cháy để sưởi cho người. Cả nhà, già trẻ lớn bé ngồi chung quanh bếp lửa. Có khi lùi vào trong bếp lửa củ khoai lang. Khoai chín thơm lừng mùi thôn dã. Cạnh bếp là bó củi. Củi bằng lòng cho lửa ăn. Càng ăn nhiều củi, lửa càng thêm đượm, người càng thêm ấm, cơm càng chín, khoai càng thơm. Có mấy ai biết đến tấm lòng hy sinh của củi. Thế nhưng những bà, những mẹ, những cha vẫn hy sinh cho cháu, cho con, giống như củi, sẵn lòng để bị “ăn” đi, bị thiêu đốt để cháu, để con thêm ấm no, hạnh phúc. Đêm càng khuya, trời càng tối. Đêm càng khuya, trời càng lạnh. Lửa càng cần ăn thêm củi để bốc lên cao, sáng hơn, ấm hơn, cho người được hưởng. Trong bài thơ nhỏ nhoi này, bà là như thế. Bà sẵn sàng hy sinh, sẵn sàng chịu thiệt thòi để cháu được hạnh phúc, ấm êm.

Bài thơ Cháu yêu bà kết thúc bằng hai câu:

Cháu xin trời đất cao dày
Chở che bà sống vạn ngày bình an.

Đây là hai câu thơ khiến tôi giật mình, vì gói gọn trong chúng triết lý Tam Tài Thiên-Địa-Nhân của người Việt.

Cây nêu ngày Tết dựng ở sân đình là tượng trưng tuyệt vời cho triết lý Tam Tài Thiên-Địa-Nhân này. Gốc nêu cắm xuống đất, là Địa. Ngọn nêu vươn cao đến trời xanh, là Thiên. Mà nêu là cây tre, tượng trưng cho người Việt Nam tiết trực tâm hư, đó là Nhân. Nhân nối liền trời với đất, tạo thành mối duyên tuyệt vời Thiên-Địa.

Chắc chúng ta còn nhớ bài thơ Vịnh tam tài của Trần Cao Vân:

Trời đất sinh ta có ý không

Chưa sinh trời đất có ta trong

Ta cùng trời đất ba ngôi sánh

Trời đất in ta một chữ đồng

Đất nứt ta ra trời chuyển động

Ta thay trời mở đất mênh mông

Trời che đất chở ta thong thả

Trời đất ta đầy đủ hoá công.

Đặc điểm của bài thơ Vịnh tam tài này là trong tám câu thơ, câu nào cũng có đủ bộ ba trời – đất – ta.

Trần Cao Vân viết “Trời che đất chở ta thong thả.” Bùi Vĩnh Phúc xiển dương câu thơ này để trở nó nên rực rỡ, bùng cháy hơn:

Cháu xin trời đất cao dày

Chở che bà sống vạn ngày bình an.

Cũng là “trời che đất chở” nhưng vì trời cao nên che được, vì đất dày nên chở được. Và “thong thả” vượt lên độ cao hơn nữa mà trở thành “bình an.”

Đọc xong bài thơ nhỏ, tôi có một cảm xúc rất lạ: thở phào nhẹ nhõm vì cảm thấy cuộc sống đẹp quá, lâng lâng như vầng mây nõn, chao lượn như cánh hạc vàng, mênh mông như sông, ướt át như mưa, lạnh như đêm mà lại ấm như bếp lửa, sáng như bình mình, đông vui thân mật như đình làng, được yêu thương như trong một gia đình tam đại đồng đường, bình an như được trời che đất chở. Thở phào nhẹ nhõm như thế nhưng đồng thời lại thấy như nghẹt thở vì đã đụng chạm tới những triết lý tối thượng của tộc Việt là âm dương và tam tài, cũng như những nét văn hoá ngàn đời là mái đình, dòng sông, cơn mưa, cánh hạc, bếp lửa. Tôi vừa tĩnh trí vừa hoang mang, không ngờ một  bài thơ nhỏ và vô cùng đơn sơ, giản dị lại chứa đựng một khối tri thức và hồi ức lớn lao, vĩ đại đến vậy.

Chợt tôi nhớ tới truyện ngắn Đại dương trong lòng con ốc nhỏ của Duyên Anh và có ý nghĩ rằng bài thơ nhỏ Cháu yêu bà là con ốc nhỏ mà quyển sách “to con” Chữ nghĩa & không gian văn chương dày 725 trang của Bùi Vĩnh Phúc là một đại dương chữ nghĩa. Thế mà trong con ốc nhỏ đó lại chứa đựng một đại dương triết lý và văn hoá dòng Việt. Thật là kỳ diệu.

Tôi ngừng bài nói chuyện ở đây bằng hai chữ “kỳ diệu.” Hai chữ “kỳ diệu” này nói về nhiều sự “kỳ diệu” liên quan đến nhà phê bình văn học Bùi Vĩnh Phúc và tác phẩm Chữ nghĩa & không gian văn chương của ông.

 

[1] Nguyên tác tiếng Pháp: La Géante – Charles Baudelaire

(Trích tập thơ Les Fleurs du mal – 1857)

Du temps que la Nature en sa verve puissante

Concevait chaque jour des enfants monstrueux,

J’eusse aimé vivre auprès d’une jeune géante,

Comme aux pieds d’une reine un chat voluptueux.

J’eusse aimé voir son corps avec son âme croître

Et grandir librement dans ses terribles jeux ;

Deviner si son coeur couve une sombre flamme

Aux humides brouillards qui nagent dans ses yeux ;

Parcourir à loisir ses magnifiques formes ;

Ramper sur le versant de ses genoux énormes,

Et parfois en été, quand les soleils cruels,

Lasse, la font s’étendre à travers la campagne,

Dormir nonchalamment à l’ombre de ses seins,

Comme un hameau paisible au pied d’une montagne.

Bản dịch tiếng Việt: “Nương tử khổng lồ” – Bùi Giáng dịch

(Trích sách dịch “Con người phản kháng” – 1968)

Thuở thiên nhiên nẩy mầm hăng hái quá

Sản sinh ra quái vật mỗi ngày rằm

Tôi ắt đã thích vô ngần hiện thị

Sống bên mình một kỳ nữ to con

Một nương tử khổng lồ còn trẻ tuổi

Như mèo lười sà nịnh dưới chân vua

Tôi ắt thích xem hồn nàng gieo rắc

Vào thân mình cao lớn bước thâu qua

Vào những cuộc vui chơi đầy khủng khiếp

Nàng tự do tăng tiến mộng khôn lường

Và đoán thử tim nàng khơi lửa thẳm

Có bốc thành mây khói mắt sương vương

Tôi ắt thích dong nhàn đi khắp cả

Những đường cong kỳ vĩ của thân nương

Và bò dốc gối mềm cao vạn lả

Đuối sương sa sườn núi rợn muôn đường

Và những buổi trưa hè gay gắt nắng

Nàng mỏi mê nằm sải dọc đồng hoang

Tôi nằm ngủ thảnh thơi vàng yên lặng

Dưới bóng đôi bầu vú ngọc thênh thang

Như một xóm làng im lìm dưới núi

Ngủ mơ màng trong bóng mát dân gian.

[2] Kim Định, Triết lý Cái Đình, Công ty TNHH MTV Sách Phương Nam & NXB Hội Nhà Văn, Hà Nội, 2016, p. 30-31.

[3] Wikipedia

https://vi.wikipedia.org/wiki/H%C3%ACnh_t%C6%B0%E1%BB%A3ng_con_h%E1%BA%A1c_trong_v%C4%83n_h%C3%B3a

This entry was posted in Nghiên cứu Phê bình and tagged . Bookmark the permalink.