Tháng Năm

Nguyễn Đức Tùng

Sau chiến tranh, người ta đi tìm gì?

Đi tìm tro bụi của chiến tranh.

Thời bé, mỗi ngày tan trường về nhà, tôi đều đi ngang qua nghĩa địa của làng. Dưới bóng dương liễu, bên bờ sông, những ngôi mộ nằm bên nhau, và trên bia đá cũ, rêu vừa được người đi tảo mộ lau sạch, lại mọc lên. Tháng Năm, hết chiến tranh, có những người đi tìm mộ thân nhân từ Bắc vào Nam, từ Nam ra Bắc. Mùa hè đỏ lửa và trận đánh tái chiếm thành cổ ngay sau đó đã tiêu hủy tất cả nhà cửa vườn tược, chỉ có một thứ không thay đổi, là nghĩa địa của làng. Cũng có những ngôi mộ bị san bằng vì trúng bom, những tấm bia trúng đạn bị vỡ ra, nhưng hầu hết thì còn nguyên vẹn. Một nghĩa địa nguyên vẹn giữa đất trời đổ nát. Sau nhiều tháng rà phá bom mìn, người dân được phép trở lại tảo mộ, hương khói. Tôi đứng một mình thật lâu trước tấm bia bằng chữ Hán, tôi nhớ ngày xưa mẹ tôi thường thắp hương khấn vái ở đó, có lẽ là ông tổ của dòng họ, cái bia vẫn còn mặc dù bị sứt mẻ, tôi không đọc được chữ Hán, chỉ đoán lờ mờ nghĩa của chúng.

Cái ghế ngồi, đôi đũa, cái bát, tấm bia mộ là những vật dụng đầu tiên của dân tộc. Ngôi mộ và tấm bia là một sự vật. Tôi ngắm sự vật. Nhìn thấy thời gian đi qua, thấy xương tàn trong đất, lắng nghe câu chuyện chưa bao giờ được kể lại. Tôi đứng đó, nhớ người đã chết, nhớ ngôi trường không còn nữa, nhớ lại một đất nước, đất cát và sỏi đá lạo xạo dưới chân tôi, ánh sáng của ngày tan tác, lần đầu tiên tôi bắt đầu trò chuyện với một người đã chết, một người tôi chưa bao giờ biết, đã đến đây khai khẩn từ thời chúa Nguyễn Hoàng, nằm xuống trên mảnh đất nắng nôi, bom đạn, muốn nói gì với tôi, có thể trả lời những câu hỏi nào. Khi tôi kể lại câu chuyện của mình, tôi lắng nghe nhân vật hơn là tưởng tượng ra câu chuyện về họ. Tôi muốn nhìn thấy các nhân vật của mình sống cuộc đời của họ, tôi nhìn vào mắt họ, tôi ngồi xuống bên cạnh và lắng nghe, như một đứa trẻ.

Tôi là một đứa trẻ của tổ tiên tôi. Tôi là một đứa trẻ của lịch sử.

Tháng Năm ở Bắc Mỹ là tháng của truyện ngắn. Trong khi nhiều người lo lắng cho nền văn học tương lai, thì thể loại truyện ngắn và tiểu thuyết ngày càng xác định tính cách đương đại của mình, qua David Foster Wallace, De Lillo, Thomas Pynchon, Murakami, Joyce Carol Oates, Margaret Atwood, Yiyun Li, Danticat. Tôi cũng đặc biệt thích truyện ngắn châu Âu, mơ hồ,  mãnh liệt. Tôi tìm cách đi qua những buổi chiều vàng, màu mật ong, màu da cam, ổi chín, ở đó màu sắc và sự vật là một, tôi đi một mình, vô danh như nhành cây, trĩu xuống dưới sức nặng của các ý tưởng, bật lên trở lại khi quyết định từ bỏ một người bạn, chấp nhận sự đầu hàng trước tính chất khác nhau của thế giới. Câu trả lời của tôi trong mọi trường hợp là không.

Không với thỏa hiệp. Không với mất cân bằng. Không với sự dung tục. Tôi trở về căn phòng của mình, mở cửa sổ, tắt hết đèn, nằm im trên sàn nhà, kê đầu lên chiếc gối mỏng, để nguyên quần áo và giày, nằm trên căn phòng bụi bặm không lau chùi, vào lúc ấy tôi hoàn toàn trở về thời tuổi trẻ, giả vờ trẻ lại, xem thử thời gian có phép màu nào. Tôi nằm im như thế, và mọi sự đau khổ và hờn giận từ từ chìm xuống như mặt trời trong nước, và lời an ủi của mẹ tôi ngày xưa trở lại. Không phải mẹ tôi, một người đàn bà trẻ tuổi hơn. Những người đàn bà bao giờ cũng làm khổ chúng ta và làm chúng ta sung sướng điên rồ. Sự rời khỏi các kiến thức và phán đoán, đã trở thành định kiến, sự mở rộng các chân trời tư duy, đi trước một bước văn minh nhân loại, bao gồm các bước nhảy kỹ thuật, hay không được đi sau nó quá xa, phát minh ra chính khuôn mặt mới của con người, là công việc của tiểu thuyết và truyện ngắn hôm nay. Kỳ lạ thay, trong thơ sự tưởng tượng không được phép như thế.

Thơ gần với sự thật hơn.

Có lần tôi đã nghĩ truyện ngắn là bước tập sự của tiểu thuyết. Không phải. Truyện ngắn là một nghệ thuật khác. Truyện ngắn là một chớp mắt. Truyện ngắn có thể mở rộng thành tiểu thuyết, nhưng một tiểu thuyết không thể rút ngắn thành truyện ngắn. Một truyện ngắn đặc sắc làm bạn thích thú hay ngứa ngáy khó chịu. Nó mở ra một cảm xúc có phần kỳ lạ, gợi ra những câu hỏi hơn là câu trả lời và những câu trả lời nhiều hơn câu hỏi. Sự lý thú của truyện ngắn nằm ở ý nghĩa của nó, chỉ có người đọc truyện ngắn mới nhận ra. Khác với người đọc của tiểu thuyết, người đọc của truyện ngắn kén chọn hơn nhiều. Tôi vừa đọc xong một tuyển tập truyện ngắn của các nhà văn nữ của Canada và một tuyển tập truyện ngắn của Ý Nhi, chúng gợi ra nhiều ý tưởng. Các nhà văn truyện ngắn có giọng nói riêng, khả năng tìm thấy những khía cạnh bí ẩn của đời người, tìm thấy trái tim nồng nàn trong khung cảnh đời thường. Nhà văn viết truyện ngắn không mô tả cuộc đời, họ chỉ bộc lộ chúng. Nhà văn viết truyện ngắn không viết về tình huống, họ kích hoạt chúng, làm chúng phát nổ hay nở như hoa. Nhà văn viết truyện ngắn là kẻ sống sót giữa những người viết khác, hiếm hoi, buồn rầu, cười phá lên như những đứa trẻ thông minh của nhân loại.

Tháng Năm là tháng của ánh sáng. Ngày dài bất tận, trong thành phố không còn bóng mát, nắng ong ong, nhiều người không thích cái nắng ấy, không thích cái nóng ba lăm độ, thế mà thời nhỏ tôi đến trường vào ban trưa, đầu không mũ, tay xách cặp da, vừa đi vừa chơi, nghĩ lại không tưởng tượng nổi sao mình vẫn chịu được. Không chỉ có thế, lại còn yêu cái nắng cái nóng ấy, tựa như nó là của mình, và mình là của nó, áo ngắn tay, quần soọc, mồ hôi như tắm, đi trong trời đất như đi trong lòng một bà mẹ, ngạc nhiên thấy người lớn than thở với nhau, phàn nàn về cái nóng miền Trung. Một người lính nhảy dù, đội mũ sắt, mang ba lô và súng tiểu liên, đi ngang qua tôi, lẩm bẩm với một người bạn đi trước, giọng miền Nam đặc sệt:

Đ.M. trời nóng thế này mà còn thích đánh nhau.

Lâu lâu tôi lại nhớ lại câu nói ấy, kể ra không được lịch sự cho lắm, nhưng nó rất thật, như nỗi khổ của thời chinh chiến. Nhưng mà nói thế thôi, người đi xa lại nhớ. Những mùa hè làm nên lịch sử của dân tộc. Những mùa hè làm nên đời tôi. Tôi đã có những tháng năm đẹp nhất và những tháng năm gian khổ nhất dọc vĩ tuyến mười bảy, ở Thạch Hãn, ở Huế phượng nở vang lừng tiếng ve, ở bán đảo Sơn Trà Đà Nẵng, ở sông Cầu, những mùa hè dọc biên giới. Từ miền Trung nghèo khó, vào miền Nam, tôi được ăn trái cây nhiệt đới, xoài, sầu riêng, măng cụt, mãng cầu xiêm, vú sữa, được đi dưới hàng cây lộng gió, nằm ngủ một giấc trên cánh võng giữa rừng cao su miền Đông Nam Bộ, trên đèo Ngoạn Mục, trên đèo Bảo Lộc thơm mùi trà. Tôi ngạc nhiên khi ra Bắc lần đầu mùa hè, trong khi nhiều người than vãn về cái nóng nực của nó thì tôi lại thấy mát, vì có lẽ đã quen với cái nóng quê mình. Miền Trung thiệt thòi ở chỗ đất hẹp, bạn chỉ đi được hai phía Bắc và Nam, trong khi ở miền Bắc và Nam thì tha hồ đi mỗi hướng, buổi sáng vừa ở Hà Nội ngồi uống cà phê sớm thì buổi chiều đã ở Bắc Ninh, hay Hòn Gai, hay Sầm Sơn, thong thả hơn nữa lại được đi tắm suối ở những vùng cao nguyên mát lạnh dọc đường lên Tam Đảo. Tôi cũng từng được tắm suối ở khoảng giữa Bảo Lộc và Đà Lạt, ngâm mình trong nước mát, nghe tiếng chim hót trong veo nghĩ tới một người ba mươi năm trước về cặm cụi trồng lan mà viết tiểu thuyết Xóm Cầu Mới. Tôi chưa được thấy các nàng tiên xuống suối tắm bỏ quên đôi cánh trắng trên bờ, rồi bị người ta đánh cắp nên tắm xong thì không bay được về trời. Mùa hè là mùa của trái cây, ổi trong vườn đã chín, không kịp hái, chim ăn một nửa mình ăn một nửa, em nhé, nước sông tràn ngang đầu gối bày cả cát vàng cát trắng, nhìn thấy cá lội dưới chân, nhưng mùa hè cũng vẫn còn là mùa hoa nở muộn, hoa xoan, hoa huệ, bông lý vào đêm thơm nức, hoa vông vang bên giếng rớt cả vào cay trầu của mẹ tôi. Tháng Năm, trẻ con sắp đến mùa nghỉ hè, thời tôi đi học là tháng cuối của niên khóa thi cử rộn ràng. Những anh chị lớn tuổi đã bắt đầu thi tú tài phần một phần hai, thi trung học, kết quả những người thi đậu được xướng danh trên đài phát thanh Huế, đám đông đứng quanh cột điện lắng nghe danh sách đọc trên loa phóng thanh, ba tôi mở lớn máy radio cho cả xóm nghe danh sách những người may mắn, thời ấy trong làng có người thi đỗ tú tài là một vinh dự. Các kỳ thi khó khăn. Tôi phải thi tốt nghiệp tiểu học, sau đó mới thi vào năm thứ nhất trung học, lớp sáu, đệ thất. Những người thi hỏng tú tài thường đi lính, về nhà làm ruộng, lấy vợ sớm, hay phiêu dạt phương trời khác. Mỗi mùa hè ở quê tôi đều có người thi hỏng tự tử, họ leo lên thành cầu cao ngất, nhảy xuống nước, để mặc số phận cuốn trôi đi. Tháng Năm muỗi bay vo ve ngoài mùng, dế kêu trong cỏ, người ta đi chậm lại, nói năng chậm lại, ăn uống uể oải, tâm hồn trong suốt. Ghét bỏ chậm lại, hận thù tan chảy, yêu thương chậm lại, những kẻ tha phương không thành đạt, không đồng xu dính túi, lại trở về nhà, tìm cái thong thả mà sống đời hòa bình. Như thế nào ai biết được ai khôn hơn ai, nằm khểnh đợi gió nồm hay lao vào phong ba bão táp mà tìm danh lợi. Tháng Năm là đỉnh cao của âm nhạc của trời đất, tiếng ve trên những hàng nhãn vừa ra trái, trong những bụi rậm mà lũ chim bìm bịp vừa rời đi, dọc theo đường tàu xe lửa bỏ hoang từ thời kháng chiến chống Pháp, con người trở nên mệt mỏi dịu dàng.

Tôi có dịp đi đoạn đường từ Hà Nội xuống Hải Phòng trong một lần thăm nhà văn Bùi Ngọc Tấn, vòng qua Thái Bình, qua Hưng Yên, được chứng kiến mùa vải ngọt thơm lừng. Tôi vốn không mê đồ ngọt, nhưng nhờ thế lại ăn chậm và kỹ và thưởng thức được hết cái chất ngọt quý giá như cái đọng lại của hồn trời đất. Ngày xưa, trước khi hòa bình, vải ở miền Trung và miền Nam rất ít, nhà dì tôi có một cây vải lớn, mỗi năm chỉ ra một ít trái ở trên ngọn cây cao, mà chim về ăn hết, hôm nào trèo lên hái được một chùm vải hay một trái nằm lẫn trong cây, ngọt đứ đừ, sướng như lên tiên. Người chủ nhà của khu vườn cũ, nghe nói đã lưu lạc sang Lào, một hôm về nhà ngồi trên thềm đá cũ, giữa những đứa trẻ vây quanh, trong ký ức của tôi đã có một ngày như thế, thế mà sau này lớn lên hỏi chuyện thì cậu tôi đã chết ở bên Lào và chưa bao giờ trở lại quê hương, sau khi bị Pháp đuổi bắn và bị Việt Minh bắt giữ, thế mà ký ức của tôi vẫn nguyên vẹn ngày hôm đó, tôi không biết giải thích thế nào. Đó là sự tưởng tượng chăng hay đó là cuộc trở về bí mật chỉ những đứa trẻ mới biết, hay đó là một giấc mơ? Tháng Năm, giữa cuộc chiến tranh khốc liệt, mà những người đàn bà ở thôn quê như mẹ tôi vẫn cố gắng hết sức để cho chồng con mùa nào thức nấy, món gì cũng có một ít, dưa cà xứ nghệ, nước mắm Mỹ Thủy, bánh ướt Phương Lan, nem tré Huế, cà nghệ, chè hạt sen, khiến cho bọn trẻ thèm thuồng, chớ họ lấy những món ấy ở đâu ra thì tôi không biết.

Tháng Năm người nào chưa biết cái thú ăn chè, buổi trưa gọi gánh chè hàng rong vào, chị bán hàng đặt cái đòn gánh xuống trên bậc thềm thong thả sắp chén muỗng ra, bọn con nít như tôi chưa ăn đã nhỏ dãi, cái không khí ấy ở chốn quê, bao giờ thì mình có lại được. Chè có nhiều loại, chè đậu xanh, chè khoai môn, chè sen, sau này vào Sài Gòn tôi còn biết thêm chè sương sa hạt lựu, chè ba màu, ở cái quán có ba cô con gái góc đường Lý Thường Kiệt và Lê Đại Hành. Khi về Hà Nội ra mắt Thuyền, đêm tôi đi lang thang trên đường gần khách sạn, được biết một món chè lạ kêu bằng chè bà cốt, ngồi ăn một mình trong đêm, thật ngon, giải nhiệt, thấy sự cô đơn trong lòng mình lắng lại, thấm cái vị ngọt chung tình, thanh tao, an ủi.

Tháng Năm là tháng của sự trung thực nghiệt ngã. Mặt trời chói sáng qua các tế bào thần kinh, làm bật rễ hai điều: sự ngu ngốc về nhận thức và sự hèn mạt về nhân cách. Mọi thứ trở nên khó khăn hơn. Mọi thứ trở nên dễ dàng hơn. Sự thẳng thắn làm bối rối nhiều người. Sự im lặng dễ chịu hơn. Có sự im lặng bất cần, quý báu như vàng bạc, có sự im lặng khuất phục. Lằn ranh phân cách giữa chúng tạo nên căn cước của mỗi chúng ta. Đó không phải chỉ là căn cước về đạo đức mà còn về lý trí. Thoạt đầu bạn dễ nhận thấy rằng nói thẳng ra sự thật là một điều khó chịu, và khó khăn hơn là nói một điều giả dối. Bạn nói dối hoặc im lặng không phải vì bạn giả dối hay muốn đánh lừa người khác, mà chỉ vì bạn sợ tổn thương. Ngược lại sự im lặng đúng lúc, cần thiết, phải là kết quả của sự trầm tĩnh, can đảm. Sự im lặng quý báu như thế sẽ vang lên như sấm sét. Khi nói dối, tim bạn đập nhanh lên, mồ hôi toát ra, đồng tử mở lớn, huyết áp tăng cao, sự phán đoán mờ đi. Vì sao chúng trở thành nhân tố khích động? Vì trong thâm sâu trái tim mỗi người, có một ngọn đèn le lói của lương tri. Tháng Năm trong suốt kỳ lạ, nó mang bạn đi, nó cho phép bạn đi xuyên qua, từ phía bên này đến phía bên kia, như một người đi tới một người thương, chính là mình.

Tháng năm 2024, một người đi chân đất đi qua Thanh Nghệ Tĩnh, cởi y buông bát, xuống tắm sông ở chân núi, vui cười, rồi ngồi im như tượng ở đèo Ngang. Đó là bức tượng của tâm hồn thế kỷ. Tháng Năm là tháng của Thích Minh Tuệ, cũng sinh vào ngày 19 tháng năm, 1981. Những người tu hành cùng đi bộ qua Đồng Hới, đến Quảng Trị quê tôi, dừng lại lâu ở thị xã, được vây chặt bởi dân chúng, rồi vào Huế. Huế là trung tâm của Phật giáo. Chùa chiền, phong cảnh, tâm hồn của người Huế thắm đẫm tinh thần Phật giáo. Từ Đồng Hới vào Huế tôi nhìn thấy những người dân đứng trên đường, cầm hoa, đảnh lễ ngài. Trên một đường phố Huế, tôi nhìn thấy cảnh những người phụ nữ xinh đẹp, áo dài trắng, cầm bó hoa sen trắng hai bên đường, cung kính và trang nhã. Tinh thần của dân tộc và của Phật giáo đã lên đến đỉnh điểm với bước chân nhẹ như không của một người khất thực, buông bỏ tất cả, đầy bi, trí, dũng. Một sự việc khi đã đến đỉnh điểm sẽ gặp phải các xung lực đối kháng giữa bóng tối và ánh sáng, và cuộc xung đột tất nhiên phải diễn ra. Dân tộc lại thua cuộc.

Ngày 8 tháng năm, 1886, ly Coca Cola được bán ra đầu tiên, ở Atlanta.

Ngày 5 tháng 5, 1818, ngày sinh của Karl Marx, một người thích đùa. Ngày 19 tháng 5 năm 1889, sinh Tản Đà, ở Bất Bạt, Sơn Tây, kết quả của mối lương duyên giữa hai bậc danh gia ca kỹ Nguyễn Danh Kế và Nhữ Thị Nghiêm. Tháng Năm ở miền Nam và miền Trung, tiếp tục cái nóng từ tháng Tư, nắng đổ lửa, nắng như điên, bừng bừng chói chang vã mồ hôi, bạn mặc quần sọt, cởi trần, người yêu thích như tôi thì mê cái nắng nóng ấy, người sợ nóng thì kinh hãi. Miền Bắc cũng nóng nhưng không đến nỗi như quê tôi, đi đường có nhiều bóng râm. Hoa gạo nở đỏ chói quanh hồ Gươm trước mặt khách sạn nơi tôi ở, tiếng ve kêu vang rền như một thuở xa xưa nào còn Hoàng Đạo Thạch Lam, chỉ tiếc là dân số tăng lên nhiều quá, thành phố chật hẹp, người thì đông, giẫm lên nhau mà sống. Tôi đọc sách thấy nói rằng người Hà Nội ngày xưa trước tháng Tám, 1945, rất thanh lịch, nói năng nhỏ nhẹ, khoan thai mà phong độ, nhiều bạn Hà Nội của tôi than thở thời bây giờ không còn nữa. Chiến tranh, hiện tượng di dân ào ạt, tinh thần cách mạng vô sản trộn lẫn chủ nghĩa tư bản hoang dã, thói nịnh hót, sự coi thường các nguyên tắc văn hóa, lấy phát triển kinh tế làm chính, đã làm mất đi cái tốt đẹp của một vùng đất nước. Tôi mê tiếng ve kêu mùa hạ, nhưng chúng kêu mỗi nơi một khác, bạn để ý thì phân biệt được, tôi nhớ tiếng ve ở Thành Nội Huế, tôi nghĩ chúng kêu hay nhất. Ở quê tôi, khi tôi trở về sau chiến tranh, ve cũng bắt đầu kêu trở lại, nhưng tiếng của chúng khàn đi, đục hơn, buồn rầu, trầm mặc. Tôi thích đi lang thang buổi trưa dưới những cây cao bóng mát ở quận Một, Sài Gòn, và trên những con đường có kiến trúc cổ kính của người Pháp, Hà Nội. Tôi thích người Pháp ở Việt Nam. Tôi cũng thích nhãn và vải, vải thiều ngày xưa gọi là lệ chi, đôi khi tôi nằm nghiêng người nghe tiếng chim quyên về.

Tháng Năm dương lịch có ngày lễ Phật Đản, thái tử Tất Đạt Đa được hoàng hậu Maya hạ sinh trong vườn Lâm Tỳ Ni. Thời bé tôi đọc Câu chuyện dòng sông của Hermann Hesse, do Phùng Khánh và Phùng Thăng dịch, người thứ hai sẽ chết trên đường vượt biên. Một, hai năm tôi lại trở về làng, ngủ lại qua đêm trong ngôi nhà cũ, thấy lòng dịu lại, tìm được cái mạch đi trở lại như người đi lạc đường, nhìn dấu vết. Quê hương tôi là một quê hương nhỏ bé. Tôi đã quen với sự nhỏ bé ấy. Tôi hạnh phúc được sống trong sự nhỏ bé, sự không biết, vô danh, gần với cây cỏ. Mỗi ngày tôi làm quen trở lại với cây cỏ của tôi, mặt đất của tôi, tôi tập nghe tiếng ve buồn bã, buồn hơn ngày xưa, khản giọng, già nua hơn, dân tộc như người đàn bà đẹp lấy phải gã chồng đạo tặc, nghe tiếng chim chào mào hót rụt rè trên cây nhãn. Có phải mi là con chim chào mào ngày trước năm ta mười một tuổi đó không. Tôi bắt đầu nhớ lại tình yêu đầu tiên, bắt đầu trò chuyện với lầm lỗi. Đêm, tôi thức dậy ra sân đứng nhìn trời, thấy những ngôi sao to lạ lùng, sáng lạ lùng, như muốn nói với tôi một điều gì, đứng trước cây khế bằng tuổi của tôi, hỏi nó những chi tiết lịch sử đã quên, cây khế nhớ lại tất cả, những ngày hạnh phúc, nhớ tiếng bom đạn rền vang, nhớ một cánh tay người, nhớ máu, nhớ cứu rỗi. Giữa những cây khế ngọt, mẹ tôi trồng cây khế chua, để nấu canh, thoạt đầu nó chua quá, nấu không ăn được. Mẹ tôi sai chúng tôi đi nhặt vỏ hến vỏ sò về chôn dưới gốc, sau vài năm cây khế cho loại trái ngon lạ lùng, đủ để nấu canh khế chua với cá tràu, cá giếc. Khế chua cắt từng lát nhỏ dầm với mắm ớt, xay ớt nhỏ bỏ vào cối xay, cho đường và nước mắm trộn với khế, ra món khế dầm muối ớt. Tôi còn được biết món khế dầm xí muội mà bọn con gái thích ăn. Một mùa hè ngủ lại trong vườn, nghe tiếng mít rụng, nhớ niềm hân hoan cũ khi tôi vừa đọc xong chương đầu tiên của Thần điêu đại hiệp, nỗi nhớ như thế thì không phải là trí nhớ mà là món quà của quá khứ, của người đã mất gởi lại cho tôi, vì cuốn Thần điêu đại hiệp ấy là của thằng bạn đã chết trong chiến tranh, đi Thủy quân lục chiến, trong trận tái chiếm thành Quảng Trị. Bây giờ nhớ lại trang sách cũ, nhớ lại đứa bạn, nhận món quà từ linh hồn ngã xuống, tôi đứng dậy trong đêm, thắp một nén hương lên bàn thờ Phật, nén hương đầu tiên cho một người ngã xuống trên chính quê hương mình. Một cái chết không bao giờ đươc lịch sử ghi xuống, không có ai biết ơn, năm mươi năm sau mới được thằng bạn cũ nhớ lại trong thoáng, lập lòe trong đêm. Tôi nhớ Nguyễn Bính có câu thơ:

Em ở mình đây trời nóng lắm

Sài Gòn không biết có xuân sang

Trời nóng đến nỗi ăn món gì cũng không thấy ngon, uống thức gì cũng không đỡ khát. Một người chạy xe Honda đường dài, chứ không phải là xe hơi có máy lạnh như bây giờ, đội mũ lưỡi trai chạy dọc đường quốc lộ Một, trời nóng thế mà dừng xe lại dưới rừng cao su bát ngát miền Đông, tấp vào cái quán nước mía có máy xay nước mía quay tay, uống một ly, ngồi võng, mát ruột mát gan, mỉm cười nhìn cô bạn gái. Cái thú như thế dù chỉ một lần một đời cũng đủ để anh nhớ lại. Tôi nghe nói ở vùng cao nguyên như Việt Bắc hay Lâm Viên Di Linh người ta thường đi tắm suối, tôi còn nghe nói những người sang trọng ngày xưa đi tắm còn có người mang gương lược quần áo theo hầu, thị nữ kề bên, thì cái thú tắm suối còn thích đến đâu. Tôi vốn không phải người hưởng thụ, công việc bận rộn suốt ngày, thế mà rất thích những người biết hưởng thụ, suốt ngày nằm trên cỏ nhìn mây trời, miệng ngậm một nhánh cỏ mà nhớ về xứ đã mất. Tôi không phải là người thích đánh bạc, nhưng mỗi lần đi qua sòng bài đều đứng lại ngắm vì thích cảnh sát phạt, cái thú chơi bời nhân gian, mà không cảm thấy ganh tị chút nào. Nếu bạn cứ ganh tị với những người may mắn hơn thì bạn không sống được. Ở đời những kẻ may mắn hơn ta nhiều quá, ví dụ xấu trai hơn mà có vợ vừa ngoan vừa sexy hơn, học dốt hơn ta mà làm lớn.

Tháng Năm ve còn kêu vang khắp xóm, tôi nghe nói ở một vài nơi người ta còn ăn ve chiên, nhưng tôi không thể ăn được chúng. Làm sao có thể ăn được tiếng hót rền vang ấy, tiếng khóc cho một đất nước đã mất ấy. Mùa nhãn, dọc theo những con sông chim tu hú về hót, chúng hót hay hơn những con chim cuốc trong bụi rậm, nhưng nghe nói chúng là bà con của nhau, vào mùa này những thanh niên trong làng tôi vừa gặt lúa xong, con trâu mộng đang đạp lúa ngoài sân của mẹ tôi thì người trai trẻ ngồi ăn bữa cơm trắng đầu tiên thơm phức với dưa chua và cà pháo, uống nước rau muống luộc thay nước lã, ăn bát chè giải khát bữa trưa mẹ tôi nấu. Đậu xanh thả vài hạt sen hay hạt nhãn, mà thời ấy còn nghèo không phải hôm nào cũng có, đôi khi nhịn miệng đãi khách, mẹ tôi bao giờ cũng để cho thợ cày thợ gặt ăn trước cả nhà. Bây giờ mỗi lần đi dọc hè phố, nhìn thấy một người bán hàng rong bán chè hay đậu hủ, tiếng rao lanh lảnh thì nhớ chén chè thôn dã, nhớ những người thanh niên trai tráng lực lưỡng làm quần quật trên cánh đồng mà vẫn vui vẻ, tất cả bị ném vào chiến tranh, chết vì chiến tranh, thì cái ngọt bùi của đời sống dù ngọt đến đâu cũng không chuộc được lỗi lầm của thế gian.

Một ngày một người đã nói, em rất nhớ anh, trong lòng nôn nao và buồn bã. Cuối một ngày, không có gì đẹp hơn một người đứng trước mặt bạn và nói rằng người ấy đã chọn bạn trong cuộc đời. Cuối một ngày không có gì quý giá hơn sự xuất hiện và hiện hữu. Có những hiện hữu không nhìn thấy, nhưng những hiện hữu mà bạn có thể nhìn thấy làm một người yếu đuối an tâm hơn. Chúng ta là những người yếu đuối. Chúng ta cần sự an ủi của sự xuất hiện. Tôi cần em ở bên cạnh. Khi tôi sẵn sàng đặt trái tim của mình vào lòng bàn tay của cuộc đời, tôi không đi tìm sự thừa nhận của người khác, sự bảo đảm chỉ có thể đến từ một người, một công việc, một nơi chốn. Tôi không tìm kiếm sự quen thuộc, tôi không tìm kiếm quá khứ của mình trong tương lai. Tôi tin vào cái sắp tới. Tháng Năm là tương lai của tôi. Nếu chúng ta tìm cách để quên đi một phần quá khứ của mình, bạn không thể làm được. Bạn không thể làm thanh sạch ký ức, không thể cắt bỏ sự đau khổ ra khỏi đời sống. Tôi để ý rằng nhiều người hay nói đến ba chữ “có một thời”, với ý nghĩa là cái thời ấy dù đen tối đến đâu, sai lầm đến đâu, thì chúng ta đã nhận ra, đã sửa chữa, và nó đã đi qua rồi. Điều đó không đúng. Không có một thời đại nào là đã qua. Không có một vết thương nào là biến mất. Chúng ở lại với chúng ta, vì quá khứ là một phần của đời sống, chính chúng làm ra bạn và tôi và chúng ta. Chúng ta sống với sự đau khổ ấy, vì vậy mà chúng ta lớn lên. Một dân tộc không những phải nhận ra quá khứ của mình mà còn phải sống với nó thì may ra mới lớn lên được. Đôi khi ngay cả một người thân yêu nhất, bạn phải đặt họ nằm xuống, trên giường bệnh, trong bụi cỏ ở ven đường, như tôi đã đặt một người thân của tôi, đặt họ xuống đất, đôi khi bạn phải làm thế để tiếp tục bước đi. Nhưng người mà bạn đặt xuống ấy sẽ đi theo bạn mãi mãi, người khác không thể nhìn thấy. Khi tôi có một xúc động về người khác, tôi cảm ơn sự xúc động ấy. Đôi khi tình yêu không chiến thắng. Đôi khi sự tốt đẹp không cất lên tiếng nói cuối cùng. Đôi khi cái tốt thua trận và bị làm nhục bởi văn chương. Bạn không thể thay đổi được điều ấy, nhưng bạn phải biết được điều ấy, nhưng sự hiểu biết làm cho chúng ta khác nhau, làm cho bạn khác với kẻ khác, làm cho con người khác với muôn loài. Tình yêu mà bạn xứng đáng được hưởng sẽ chọn lấy bạn. Tình yêu mà bạn xứng đáng được hưởng sẽ trở thành tiếng nói của bạn, bí mật, tự tin, kiên nghị, không bao giờ biết xin lỗi và đầy cảm hứng.

Tình yêu thể hiện sức mạnh của nó bằng sự vắng mặt.

Đời sống nội tâm của bạn tràn đầy ra ngoài, và nó làm cho bạn khác biệt với người khác, đời sống nội tâm làm cho bạn vừa trở nên mạnh mẽ, vừa trở nên yếu đuối. Người đời nhìn thấy điều ấy và sẽ ca ngợi sức mạnh của bạn và sẽ quyết định tấn công vào các điểm yếu của bạn. Vào lúc này những người bạn thân nhất của chúng ta sẽ xuất hiện. Họ không nhiều lắm, một vài người trong đời. Khi ánh sáng bắt đầu tháng Năm, từ mặt trời và những thiên hà xa xôi, chúng tạo ra những vạch trên tường, trên một bức tường bằng gạch màu nâu xám, nơi tôi đi qua mỗi ngày, giữa những tòa building rộng lớn, ở đó có một nhánh cỏ mọc ra giữa hai viên gạch, năm nào cũng vậy, tháng Năm. Những nhánh cỏ đầu tiên chờ đợi cơn mưa, chờ ánh sáng, lớn lên ở đó, sẽ tàn lụi ở đó, và năm sau sẽ trở lại, đúng vào lúc tôi đi ngang qua, như vậy đã đúng hai mươi sáu năm. Bao giờ tôi cũng đi chậm lại ngước nhìn lên và khi không có người chung quanh, biết chắc không làm phiền đến ai, tôi đứng hẳn lại, ngước mặt lên. Vào lúc ấy, một người bán hàng rong đẩy chiếc xe đẩy bán những loại kẹo bánh dành cho trẻ con, các loại kem sặc sỡ có mùi dâu tây, mùi táo, mùi lilacs, dâu tằm, đẩy xe băng ngang đường với tiếng chuông leng keng, anh ta đội chiếc mũ rộng vành, khuôn mặt rám nắng của người da đỏ hay người Mễ tây cơ, làm tôi nhớ lại người bán hàng rong trước cổng trường tiểu học công lập Triệu Thượng, một ngôi trường ngày nay không còn nữa, cũng như tất cả những thứ khác trên quê hương tôi, nhưng người bán hàng rong ấy bao giờ cũng đúng hẹn, thế nào cũng có một buổi sáng tôi gặp anh ta, mỗi năm một lần hoặc nhiều hơn. Thơ và âm nhạc, phim ảnh và kịch nghệ, đều dựa vào nhịp điệu, tức là sự lặp lại các mẫu, các chuỗi. Vì một lý do nào đó, bí ẩn, con người hứng thú với sự lặp lại, tức là các trật tự của sự vật, sự tuần hoàn, sự trở đi trở lại như sóng biển, như ký ức. Bởi thế khi một người ra khỏi tình yêu, hãy còn ngoái lại. Mùa tan trường thời tuổi nhỏ của tôi, những kỳ thi cuối cùng, đi xem bảng điểm rồi rủ nhau ra về, cởi áo bơi qua sông, bơi qua dòng nước đã bắt đầu cạn, leo lên bờ cỏ cao, đứng nhìn những lớp đàn anh chơi bóng, nắng vàng hoe sắp tắt, thấy đời dịu dàng thong thả. Tháng Năm, nghỉ hè, bạn mắc cái võng vào giữa hai cây thanh trà nghe tiếng ve rền trên ngọn cây, mở cuốn tiểu thuyết trinh thám, đang mơ màng sắp ngủ mà ngồi bật dậy vì một cuộc đấu súng. Trong cái nền âm nhạc ấy của mùa hè tuổi thơ, đọc ngụ ngôn La Fontaine chế nhạo con ve ca hát suốt hè, bạn mỉm cười, thầm cảm ơn cái loài vô dụng ấy. Ở miền Trung không có nhiều vải và nhãn như ở miền Bắc, nên thỉnh thoảng mẹ tôi mua được vải khô hay nhãn khô đâu đó liền đem về đựng trong những cái thẩu thủy tinh. Nhìn thấy vải khô và nhãn khô, ba tôi liền thở dài mà kể rằng ngày xưa đã từng ra Bắc trong kháng chiến chống Pháp và được ăn vải tươi ngon nhớ đời.

Sau chiến tranh, tôi muốn về nhà. Bạn muốn về nhà: tình yêu được định nghĩa là sự quyến rũ. Sự quyến rũ của một đất nước tự do cũng say đắm như sự quyến rũ của một người đàn bà, ngay khi họ đã chết.

Mọi thứ đều có thể xảy ra vào tháng Năm. Vì vậy mà trong ngôi nhà hiện tại của tôi bên cạnh những đồ đạc thông thường, bao giờ tôi cũng thu xếp một chỗ ngồi riêng, kín đáo, khách mới vào nhà không để ý, từ chỗ ngồi ấy tôi luôn nhìn được qua cửa sổ ánh sáng và sự thay đổi của nó, từ buổi sáng đến khi chiều tối, lúc mặt trời lên, lúc sao mới mọc. Cái cửa sổ ấy và những ánh sáng bên ngoài làm đầy tâm thức của tôi. Chính những giây phút mà chúng ta sống mỗi ngày, giữa cuộc đời bình thường, quan trọng hơn những sự kiện trọng đại. Một dân tộc bị xua đi bởi các sự kiện trọng đại, trong những cơn sóng của chiến tranh, cách mạng, đảo chánh, sẽ lay động đến tầng sâu nhất của cuộc sống bình thường, làm chúng tan vỡ, có sức tàn hại vô cùng đối với dân tộc ấy, đến mức tận diệt. Nếu chúng ta không biết cách tử tế với chúng ta, thì chúng ta không biết cách tử tế với người khác. Chính sự hèn mọn của con người làm bạn nổi giận hơn là tội ác của họ.

Tháng Năm, tôi có cuộc hội chẩn, đi ngang qua khu vực ăn trưa trong bệnh viện nhi đồng, xuyên qua một hành lang dài. Một người phụ nữ bồng đứa con trai khoảng gần một tuổi trên tay, xách một giỏ nặng đứng chờ mua thức ăn ở đó, chị đánh rơi cái bình sữa xuống đất, nó lăn đi, chị lúng túng chạy theo. Tôi đi ngang qua, bất ngờ nheo mắt đùa với thằng bé, nó liền chồm người qua vai mẹ đưa tay níu lấy tôi, khiến cho mẹ nó phải dừng lại, nó nhìn đăm đăm vào mặt tôi, rồi bỗng mỉm cười, như một người quen biết đã lâu. Những đứa bé vui tính, thân thiện, bạn cũng từng gặp, nhưng thân thiện thản nhiên như thế thì cũng ít có, tôi xin phép người mẹ rồi đưa tay đón lấy nó, giữ đứa bé trong tay lâu hơn dự định, nó đăm đăm nhìn vào mặt tôi, mỉm cười, nửa tò mò nửa hỏi han, như một người bạn lâu ngày gặp lại, đứa bé không có một nhu cầu nào cả, trước đó nó tỏ ra bình thản trên tay mẹ nó, không đói khát hay bệnh tật, không có một nhu cầu nào cả, rõ ràng là một đứa bé hạnh phúc, như cái cách mà nó nhìn vào mặt tôi, cái cách mà nó giữ chặt tay tôi trong tay mình, làm cho tôi tin chắc rằng, khuôn mặt của người khác, đàn ông hay đàn bà, già hay trẻ, có ấn tượng đối với một người, là một niềm vui, là một trong những niềm vui lớn nhất, vô tư, trong sạch của con người, từ lúc sinh ra, khuôn mặt của một con người.

Đôi khi trong tro bụi, tôi cũng nhìn thấy khuôn mặt của một người.

This entry was posted in Văn and tagged . Bookmark the permalink.