Nghệ sĩ dấn thân: Khi đời sống đi xuyên qua

Tobi Trần – Giám tuyển Độc lập

“Nghệ sĩ dấn thân” có lẽ là một trong những cụm từ được nhắc nhiều nhất trong nghệ thuật hiện nay. Người ta dùng nó như một lời khen, một vị thế đạo đức và đôi khi là như một thứ hào quang tự nhiên dành cho những ai dám bước ra khỏi xưởng vẽ hay phòng thu để đi về phía đời sống. Chỉ cần nghệ sĩ xuất hiện giữa một khu lao động, thực hiện một dự án cộng đồng, làm tác phẩm về người yếu thế hay cất lên vài phát biểu đầy trăn trở về xã hội thì người ta rất dễ cảm thấy ở đó đã có một dạng “dấn thân” nào rồi. Nhưng càng nghe nhiều, tôi lại càng thấy cụm từ này khó hiểu hơn, “dấn thân” thực sự là gì? Có phải là làm nghệ thuật về người nghèo? Là đi thực địa vài chuyến rồi mang về hàng trăm bức ảnh? Là đứng giữa khói bụi của một công trường để cảm thấy mình đang gần với hiện thực hơn? Hay chỉ đơn giản là có một thái độ xã hội đủ mạnh để chống lại sự vô cảm?

Tôi không biết và có lẽ chính sự không biết này mới là điểm bắt đầu trung thực nhất cho câu chuyện này. Bởi vì đời sống thật luôn phức tạp hơn mọi diễn ngôn về đời sống, nó không nằm gọn trong các tuyên ngôn nghệ thuật, cũng không vận hành như những hình ảnh đẹp mà người ta có thể dễ dàng đưa vào gallery hay sách ảnh. Đời sống thật thường bắt đầu ở những nơi ít được nhìn thấy nhất, nơi con người không nghĩ mình đang “đại diện” cho bất kỳ điều gì cả mà chỉ đang cố sống qua ngày.

Trong cái nóng gần 40 độ ở Tiền Giang hay Vĩnh Long, người nông dân vẫn cúi xuống ruộng lúa như một phản xạ đã ăn vào cơ thể qua nhiều thế hệ. Họ nhìn trời nhiều hơn nhìn đất, không phải vì lãng mạn mà vì một cơn mưa sai lúc, một mùa hạn mặn kéo dài hay một con nước đổi chiều cũng đủ làm lệch cả cuộc sống của một gia đình. Nói về họ thì dễ nhưng để đứng cạnh họ đủ lâu thì khó hơn nhiều. Không phải vì lao động cực nhọc mang một vẻ đẹp bi tráng nào đó mà bởi phần lớn thời gian lao động chỉ tạo ra mệt mỏi, da cháy nắng, đau lưng, mùi bùn và một thứ im lặng kéo dài đến mức gần như hòa vào không khí. Một nghệ sĩ có thể chưa từng cày ruộng, điều đó không quan trọng. Nhưng nếu họ chưa từng ở đủ gần để cảm được nỗi bất an thường trực của một con người sống phụ thuộc vào thời tiết, nợ nần và mùa vụ thì hình ảnh “người nông dân” trong tác phẩm rất dễ chỉ còn là một biểu tượng thị giác cho sự nghèo khó.

Có lẽ đó cũng là điều thường xảy ra với cách nghệ thuật nhìn về đời sống khi người ta rất dễ yêu hình ảnh của hiện thực mà quên đi trọng lượng thật của hiện thực. Ví như ở Cần Thơ, có những buổi chợ nổi bắt đầu khi thành phố còn chưa thức giấc, ghe trái cây đi trong bóng tối lẫn sương sớm, người ta chuyền hàng, cân hàng, mặc cả hàng hóa rồi ăn vội tô hủ tiếu cho xong để tiếp tục một ngày bươn chải trên sông khác. Nếu chỉ nhìn bằng ánh mắt du lịch thì người ta sẽ chỉ thấy một thứ “bản sắc miền Tây” rất đẹp. Nhưng nếu ở lâu hơn một chút, có thể bạn sẽ thấy một thứ khác nằm bên dưới sự nhộn nhịp đó, ở đây luôn tồn tại sự bấp bênh về kinh tế đang lặng lẽ đi qua từng chiếc ghe, từng mùa nước, từng khuôn mặt ít nói.

Rồi từ miền Tây nhìn lên các đô thị lớn, cảm giác bấp bênh đó lại hiện ra theo một hình dạng khác. Khi bạn quan sát những buổi đêm ở Sài Gòn nhưng đừng nhìn vào những ánh đèn rực sáng mà hãy nhìn vào những góc tối bên đường góc chợ, có những người vô gia cư hạnh phúc chỉ vì tìm được một góc ngủ không bị đuổi đi trong đêm. Có những người chạy xe ôm dù là công nghệ hay truyền thống vẫn ngủ ngồi trên xe ở công viên vì tiền thuê trọ đã vượt khỏi khả năng của họ từ lâu. Rồi bạn lại nhìn vào các khu công nghiệp ở Biên Hòa hay Bình Dương đi, những công nhân tan ca gần nửa đêm ngồi ăn tô mì gõ ven đường trong ánh đèn trắng lạnh rồi sáng hôm sau lại tiếp tục vòng lặp cũ. Ngay ở chính thủ đô Hà Nội vào mùa đông, hãy đến gần các bệnh viện lớn sẽ luôn có những khuôn mặt thức trắng, có người từ Hòa Bình xuống chăm người thân, có người từ Cao Bằng đi xe đêm hàng trăm cây số để chờ một kết quả xét nghiệm, một cô điều dưỡng vừa đi vừa ăn vội chiếc bánh đa nguội giữa ca trực.

Những nơi đó không có chất thơ như người ta tưởng mà phần lớn chỉ có sự kiệt sức và có lẽ đây là điều mà nghệ thuật thường né tránh nhất: đời sống thật không phải lúc nào cũng đẹp theo cách có thể đưa vào nghệ thuật. Nó có mùi tanh ở chợ cá lúc 2 giờ sáng, có tiếng máy chạy liên tục trong xưởng may đến mức khiến đầu óc tê đi, có hơi nóng hắt lên từ mặt đường Sài Gòn giữa trưa, có sự ngột ngạt của những nhà kính kéo dài vô tận ở Đà Lạt, có những căn nhà cũ ẩm thấp bên sông ở Huế, là nơi nhiều thế hệ sống cùng nhau trong một thứ chịu đựng âm thầm mà người ngoài rất khó nhìn thấy nếu chỉ ghé qua vài ngày.

Có lẽ vì thế mà tôi ngày càng cảm thấy nghi ngờ cách nghệ thuật thường nói về “con người”. Rất nhiều nghệ sĩ yêu ý niệm về con người hơn là con người thật khi họ yêu hình ảnh của nghèo khó, của lao động, của ký ức chiến tranh, của đô thị hóa hay của những cộng đồng bên lề. Nhưng hình ảnh thì luôn dễ yêu, dễ thích hơn đời sống thật bởi đời sống thật không vận hành như biểu tượng. Người nghèo không phải lúc nào cũng cao quý, người lao động không phải lúc nào cũng có khả năng truyền cảm hứng, nỗi đau cũng không tự động tạo ra vẻ đẹp và ở điểm nay hiện thực không tồn tại để phục vụ nghệ thuật.

Nhưng càng nghĩ tới đó, tôi lại càng nhận ra một nghịch lý mà chính mình cũng không thể đứng ngoài, bởi khoảnh khắc tôi viết những dòng này về người vô gia cư, về bà bán cá, về công nhân tan ca hay những bệnh nhân ngồi co ro trong đêm lạnh ở Hà Nội, có lẽ tôi cũng đang làm điều mà mình vừa phê phán. Tôi cũng đang chọn lọc hiện thực, sắp đặt nó bằng ngôn ngữ, biến những lát cắt đời sống thành hình ảnh để tạo lực cho một bài viết này. Có thể tôi cũng đang “chụp ảnh với hiện thực” chỉ bằng chữ thay vì bằng máy ảnh.

Và có lẽ không ai thực sự đứng ngoài nghịch lý đó vì ngay khi đời sống bước vào nghệ thuật thì nó đã bắt đầu bị cấu trúc lại. Một nỗi đau khi đi vào hội họa sẽ trở thành hình ảnh, khi đi vào điện ảnh sẽ trở thành cảnh quay, khi đi vào văn chương sẽ trở thành nhịp câu và lựa chọn ngôn từ. Lúc này không có sự tái hiện nào là hoàn toàn vô tội cả.

Có lẽ nghệ thuật chưa bao giờ có khả năng giữ nguyên hiện thực như nó vốn là mà nó chỉ có thể đi càng gần càng tốt tới một thứ gì đó đang luôn trượt khỏi tay chính mình. Nhưng điều đó cũng không có nghĩa nghệ sĩ phải im lặng trước đời sống, Kafka đâu phải công nhân nhà máy theo nghĩa thông thường, Flaubert không phải Emma Bovary, Tolstoy không phải nông nô. Vậy mà họ vẫn chạm tới những sự thật rất sâu của con người.

Cho nên dấn thân không đơn giản là sống giống đối tượng mình viết về. Một nghệ sĩ có thể không sống đời công nhân nhưng dành nhiều năm ở cạnh công nhân, lắng nghe họ, để rồi dần hiểu được một thứ mà người đứng ngoài không nhìn thấy. Và ngược lại, cũng có người sống giữa đời sống đó cả đời nhưng không nhìn thấy gì ngoài thói quen.

Có lẽ điều quan trọng nhất không phải là bạn đã khổ cực giống họ chưa mà là bạn có thật sự để đời sống đi xuyên qua mình hay không. Bạn có chấp nhận bị thay đổi bởi điều mình chứng kiến không hay bạn chỉ đi ngang qua hiện thực để mang về chất liệu cho tác phẩm?

Tôi nghĩ nghệ sĩ dấn thân thật sự không phải người nói về xã hội lớn tiếng nhất, cũng không phải người sở hữu nhiều hình ảnh “đời” nhất mà đôi khi họ chỉ là người đủ kiên nhẫn để ở lại lâu hơn. Đủ lâu để những điều mình thấy bắt đầu phá vỡ các định kiến sẵn có. Đủ lâu để mất dần cảm giác mình hiểu hết mọi thứ. Và cũng đủ lâu để nhận ra rằng mỗi con người đều có một phần chìm mà người ngoài sẽ không bao giờ chạm tới hoàn toàn.

Một công nhân ở Biên Hòa.

Một bà bán cá ở Sài Gòn.

Một người chèo ghe ở Cần Thơ.

Một gia đình sống ven sông ở Huế.

Một người nông dân ở Vĩnh Long.

Một bệnh nhân từ Cao Bằng xuống Hà Nội chữa bệnh.

Không ai trong số họ tồn tại để trở thành biểu tượng cho nghệ thuật, họ chỉ đang cố sống…

Và cũng vì vậy, ngay chính tôi vẫn chưa biết dấn thân thực sự là gì?

Có thể đó không phải một định nghĩa để đạt được mà là một câu hỏi phải tiếp tục sống cùng, ngay cả khi biết rằng bản thân mình cũng không đứng ngoài được với những giới hạn mà mình nhìn thấy ở người khác.

Có thể nghệ sĩ cũng sẽ luôn mắc kẹt trong khoảng cách giữa đời sống và sự tái hiện đời sống. Nhưng biết mình đang mắc kẹt trong khoảng cách đó có lẽ đã là một dạng trung thực hiếm hoi rồi.

Đó không phải một vị thế đạo đức.

Đó là một dạng khiêm tốn chưa bao giờ hoàn tất…

This entry was posted in Vấn đề hôm nay and tagged . Bookmark the permalink.