Lợi Phan Mai
ĐÊM TRƯỚC ĐỔI THAY
Tiếng chuông chùa Bồ Đề và tờ giấy mời hỏa tốc
27/5/2026. Hà Nội nóng như chảo lửa. Dọc bờ sông Hồng, từ Tây Hồ xuống Thanh Trì, những ngôi làng bãi bồi đang sống những ngày cuối cùng của sự yên tĩnh…
Có hai tờ giấy mời đang lưu hành trong cùng một chiều muôn hôm qua, 26/5/2026. Cả hai đều có dấu đỏ, chữ ký đen, và mục đích liên quan đến cùng một dự án: Trục Đại lộ Cảnh quan Sông Hồng.
Tờ thứ nhất: Giấy mời số 43-GM/ĐU, Đảng ủy phường Bồ Đề, đóng dấu đỏ to “HỎA TỐC”, họp lúc 14g chiều 27/5/2026 – tức là buổi chiều ngày hôm nay – tại số 101 phố Ái Mộ.
Thành phần được mời: Thường trực Đảng ủy, Phó Chủ tịch UBND phường, tổ đại biểu HĐND, cụm trưởng cơ sở đảng, Ban công tác 35 phường, Trưởng phòng Kinh tế – Hạ tầng, Ban Quản lý dự án, Ban Thường trực MTTQ, cán bộ Xây dựng Đảng, và Bí thư, tổ trưởng, tổ phó các chi tổ dân phố thuộc các tổ 8, 10, 34, 35, 36, 38 cụm Ngọc Thụy; TDP số 27 cụm Ngọc Lâm.
Mục đích, ghi rõ: “Thông tin và tuyên truyền Dự án đầu tư xây dựng Trục đại lộ cảnh quan sông Hồng trong Quy hoạch tổng thể Thủ đô với tầm nhìn 100 năm.”
Không một đại diện người dân thường trong danh sách. Không ai từ thôn Bắc Biên – nơi hơn 1.000 hộ đang nắm giữ số phận của chính mình trong cuộc họp này.
Tờ thứ hai: Giấy mời số 258/GM-UBND, UBND xã Thanh Trì, ngày 25/5/2026. Thời gian: 19g30 tối 27/5, tại Nhà Văn hóa Thôn 1 Yên Mỹ. Thành phần: Đại biểu thôn 1, 2, 3 Yên Mỹ – Bí thư chi bộ, Trưởng thôn, Phó Trưởng thôn, Trưởng ban CTMT, Chi hội trưởng các chi hội đoàn thể.
Và đặc biệt: “Đại diện nhân dân – đề nghị các thôn thống nhất mời đại diện nhân dân các thôn để đảm bảo cơ sở vật chất hội trường thôn. Dự kiến mỗi thôn mời 50 đại biểu nhân dân.”
Lần đầu tiên, người dân bãi sông được mời – không phải để “nghe tuyên truyền” mà để “lắng nghe ý kiến nhân dân.”
Hai cuộc họp trong một ngày, cách nhau vài tiếng: buổi chiều 14g, cán bộ Bồ Đề ngồi họp nội bộ “tuyên truyền dự án” – không một đại diện dân thường. Buổi tối 19g30, người dân thôn Yên Mỹ lần đầu tiên được ngồi xuống để nói.
I. TIẾNG NÓI ĐẦU TIÊN TỪ LÀNG ĐẠI LAN
Hôm qua, trong nhóm Facebook “Làng Đại Lan, Nam Phù” với hàng nghìn thành viên, một người tên Trần Tân đăng bài lên lúc 15g29:
“Mời cái kiểu hôm nay thông báo, mai đòi mở họp để đánh úp dân, không ai kịp chuẩn bị đúng chỉ có ở Việt Nam! Lại còn chỉ mời đại diện khu lẫn nhau, không mời dân là biết làm ăn như nào rồi đấy! Dân sông hồng kéo tới phản ánh ý kiến nhé! Dân kêu oan quá nên phải tổ chức họp nội bộ tuyên truyền dự án! Nát quá nát! Chúng ta kéo đến yêu cầu giải thích, yêu cầu giữ nhà dân, khu dân cư hiện hữu thôi các bác ơi!”
Bài đăng đạt 448 lượt thích và 77 bình luận trước khi trời tối.
Anh Trần Tân không phải người phá rối. Đọc kỹ bài viết của anh, người ta thấy một người biết đọc văn bản, biết so sánh, và biết phân biệt giữa “lắng nghe ý kiến” và “tuyên truyền chủ trương.” Anh đã đọc giấy mời của Đảng ủy phường Bồ Đề, nhận ra không có dân trong danh sách, và kêu gọi mọi người chuẩn bị tinh thần.
Đây là thế hệ bãi sông Hồng của năm 2026: họ có Facebook, có nhóm Zalo, có con cái học đại học biết đọc văn bản pháp lý. Họ không thụ động chờ thông báo.
Và họ gọi “đánh úp” đúng là “đánh úp.”
II. BẮCBIÊN – NGÀN NĂM TRƯỚC ĐÊM HỌP
Cách Ái Mộ chừng 2 km, làng Bắc Biên nằm ngoài đê, sát sông Hồng, thuộc phường Bồ Đề, quận Long Biên.
Buổi chiều tháng 5, ánh nắng nghiêng chói qua cổng đình Phúc Xá. Đình làng Bắc Biên – tên chữ là Phúc Xá – đứng từ bao đời trên mảnh đất bãi bồi ven sông, mái ngói rêu phong, sân đình rộng bằng phẳng. Từ đình nhìn ra là cổng chùa Linh Sơn, và xa hơn là mặt nước sông Hồng cuộn đỏ phù sa.
Cụ Nguyễn Văn Chính, sinh năm 1951, người am tường Hán Nôm và văn hóa cổ của địa phương, vẫn thường ngồi dưới bóng cây đại trong sân đình. Ông đã ngồi đây từ thuở còn nhỏ, theo cha vào đình xem các cụ đọc sắc phong. Ông đã ngồi đây khi con ông ra đời, khi cháu ông bước đi những bước đầu tiên. Ông ngồi đây hôm nay và nói về điều ông lo sợ nhất không phải là mất nhà.
“Mất nhà thì còn xây lại được. Mất đình này, mất chùa này, mất lễ rước nước tháng 3 này – không xây lại được. Vì đình không phải là cái nhà. Đình là nơi ba, bốn trăm năm trước cha ông chúng tôi đứng cầu mưa thuận gió hòa. Nơi nghi lễ rước nước tế thánh diễn ra. Những điều đó không có địa chỉ nào khác. Chỉ có ở đây.”
Lễ hội truyền thống làng Bắc Biên diễn ra từ mồng 6 đến mồng 10 tháng 3 âm lịch hàng năm, với nghi thức rước nước tế thánh trên sông Hồng và rước văn bằng chữ Hán Nôm. Đội bát âm cử nhạc réo rắt, đội cầm cờ bát quái, hàng tàn lọng tía rợp một góc trời ven bờ sông bãi. Đây không phải màn trình diễn cho khách du lịch. Đây là cuộc gặp gỡ hàng năm của người sống với người đã khuất, của hiện tại với nghìn năm lịch sử.
Nghi lễ này không thể “tái định cư.” Không thể mang đến địa chỉ mới, mang lên chung cư và tiếp tục. Nó chỉ sống khi người thực hiện nó đang đứng trên đúng mảnh đất mà cha ông họ đã đứng.
III. BỒ ĐỀ – KHI HAI CÂY BỒ ĐỀ ĐỐI XỨNG VỚI THÁP BÁO THIÊN
Phường Bồ Đề nhận tên từ hai cây bồ đề cổ thụ ngày xưa – cao đến nỗi từ bờ đông sông Hồng có thể nhìn thấy ngang bằng với đỉnh tháp Báo Thiên ở Kinh thành Thăng Long bờ tây. Trục tâm linh đó tồn tại từ thời Lý – hai bờ sông nối nhau qua cây và tháp, qua không gian thiêng liêng không cần cầu bê tông.
Chùa Bồ Đề – Thiên Sơn tự – tọa lạc trên bãi bồi ven sông, cách chân cầu Chương Dương 500 mét. Tương truyền được xây trên đất dinh Bồ Đề của Lê Lợi khi vua bao vây thành Đông Quan năm 1427. Sử cũ chép: “Vua làm lầu nhiều tầng ở dinh Bồ Đề trên bờ sông Lô, cao bằng tháp Báo Thiên, hàng ngày ngự trên lầu quan sát vào trong thành xem giặc làm gì.”
Bờ đông sông Hồng – vùng đất mà chiều nay Đảng ủy phường Bồ Đề sẽ họp “tuyên truyền dự án” – là nơi Lê Lợi đứng nhìn vào kinh thành để giải phóng đất nước.
Gần 600 năm sau, người dân của mảnh đất đó đang nhìn sang bờ tây và tự hỏi: Cái gì sẽ biến mất khỏi nơi họ đang đứng?
IV. NGHỊCH LÝ CỦA MỘT NGÀY NẮNG CHÁY
Cùng hôm qua, một văn bản khác cũng đang lưu hành trong hệ thống hành chính Hà Nội – ít người biết hơn nhưng quan trọng không kém.
Ngày 18/5/2026, Bộ Nông nghiệp và Môi trường ban hành công văn số 4917/BNNMT-ĐĐ, đề nghị UBND TP Hà Nội cấp phép khoan khảo sát địa chất trong phạm vi bảo vệ đê hữu Hồng và đê tả Hồng để thực hiện dự án. Cụ thể: 60 hố khoan, gồm 51 hố trên tuyến đê hữu Hồng và 09 hố trên tuyến đê tả Hồng. Đường kính hố khoan D110-127mm.
Dự án Trục Đại lộ Cảnh quan Sông Hồng đã khởi công ngày 19/12/2025. Đến ngày 18/5/2026 – tức là gần 5 tháng sau lễ khởi công – Bộ Nông nghiệp mới có ý kiến về cấp phép khoan khảo sát địa chất đê.
Đây không phải lỗi kỹ thuật nhỏ. Địa chất đê là điều kiện tiên quyết để tính toán tác động của mọi công trình xây dựng ven sông lên hệ thống đê điều. Khoan khảo sát sau khi khởi công không phải là “làm thêm để chắc chắn hơn” – đó là bằng chứng rằng bước quan trọng nhất trong quy trình an toàn đã bị bỏ qua.
Tối 27/5/2026, khi người dân thôn Yên Mỹ lần đầu tiên được mời lên nói, và khi Đảng ủy phường Bồ Đề đã họp “tuyên truyền” cho cán bộ từ chiều và đã tan, thì đất dưới chân mọi người – cả người nói lẫn người nghe – vẫn chưa được khảo sát đủ để biết có thể xây gì trên đó mà không ảnh hưởng đến hành lang thoát lũ.
Đây là điểm khởi đầu của loạt ghi chép này: không phải từ những bản đồ quy hoạch đẹp hay những số liệu đầu tư hoành tráng, mà từ ngày 27/5/2026 – ngày nắng lửa mà tiếng nói đầu tiên của người dân bãi sông chính thức được cất lên, dù muộn hơn rất nhiều so với lẽ ra phải như vậy.






CÔNG VIÊN PHÚ THƯỢNG – XÂY TRƯỚC KHI PHÊ DUYỆT
Khi máy móc đã vào công trường mà phương án bồi thường vẫn đang chờ ký
Năm 1998, một đoàn du khách Nhật Bản đứng trên bãi ven sông Hồng phía đông cầu Long Biên. Người hướng dẫn người Việt dịch câu hỏi của họ: “Đây là nơi Lê Lợi đóng quân khi giải phóng Thăng Long?”
“Đúng. Đây là dinh Bồ Đề.”
Họ im lặng một lúc rất dài. Rồi một người trong đoàn nói: “Ở Nhật, mảnh đất có lịch sử 600 năm như thế này không thể bị xây đè lên. Người ta sẽ dựng biển, làm bảo tồn, và dạy con cái đến đây học.”
28 năm sau, mảnh đất đó nằm trong phạm vi dự án lớn nhất lịch sử Hà Nội.
I. SÁU TRĂM NĂM TRÊN MỘT MẢNH ĐẤT BÃI BỒI
Để hiểu làng Bắc Biên – thôn nằm trong phường Bồ Đề, quận Long Biên – cần ngược dòng về năm 1418.
Năm đó, Lê Lợi dựng cờ khởi nghĩa ở Lam Sơn. Mười năm sau, năm 1427, nghĩa quân Lam Sơn tiến ra Bắc bao vây thành Đông Quan – tên lúc đó của Thăng Long dưới ách đô hộ nhà Minh. Đại bản doanh của cuộc kháng chiến đặt trên bờ đông sông Hồng, tại vùng đất có hai cây bồ đề cổ thụ mà người ta có thể trông thấy từ trong thành.
Nơi đó được gọi là dinh Bồ Đề.
Sử sách chép: “Vua làm lầu nhiều tầng ở dinh Bồ Đề trên bờ sông Lô, cao bằng tháp Báo Thiên, hàng ngày ngự trên lầu quan sát vào trong thành xem giặc làm gì.” Cụm từ “cao bằng tháp Báo Thiên” không phải so sánh vật lý – đó là tuyên bố chính trị: chính thống của người Việt đứng ngang hàng với kinh thành, nhìn thẳng vào nhau qua dòng sông.
Cuộc kháng chiến thành công. Thăng Long được giải phóng năm 1428. Và mảnh đất bờ đông sông Hồng đó đi vào lịch sử – không chỉ như địa điểm quân sự mà như biểu tượng của sức bền và ý chí của người Việt.
Chùa Bồ Đề – Thiên Sơn tự – được xây ngay trên đất dinh Bồ Đề xưa. Trải qua gần sáu thế kỷ, ngôi chùa vẫn đứng đó, mái ngói cong uốn góc kiểu Hậu Lê, 11 bậc thềm cao để tránh ngập lụt – kiến trúc của người hiểu sống chung với sông.
II. GIÁ TRỊ KHÔNG CÓ TRONG BẢN DỰ TOÁN
Anh Nguyễn K. D., sinh năm 1989, lớn lên ở làng Bắc Biên. Anh học kiến trúc, làm việc ở Hà Nội nội đô, và vẫn về làng mỗi cuối tuần. Anh đọc các văn bản quy hoạch và hỏi thẳng: “Trong toàn bộ hồ sơ dự án, tôi không thấy một dòng nào định giá chùa Bồ Đề. Không thấy một dòng nào định giá lễ hội rước nước. Không thấy một dòng nào định giá 600 năm lịch sử của mảnh đất này. Chỉ thấy: đất bãi, diện tích X, đền bù Y.”
Anh Dũng không phải người muốn giữ lại mọi thứ bằng mọi giá. Anh hiểu thành phố phải phát triển. Nhưng anh hỏi câu hỏi mà không ai trong bộ máy hành chính tự đặt ra cho mình: nếu phải định giá tất cả những gì đang sống trong làng này – không phải giá đất, mà giá của lịch sử, của cộng đồng, của ký ức – thì con số là bao nhiêu?
Những gì có thể định giá:
Giá đất thị trường tại khu vực Bồ Đề – Long Biên hiện tại dao động 50–80 triệu đồng/m², đặc biệt các vị trí view sông Hồng. Hơn 1.000 hộ dân làng Bắc Biên sở hữu tổng diện tích đất ở và đất canh tác hàng chục héc ta. Theo giá thị trường, tổng giá trị đất đai trong làng có thể ước tính vài nghìn tỷ đồng.
Kinh tế phi chính thức: chợ làng, dịch vụ, tiểu thương phục vụ cộng đồng – khoảng 1.000 hộ với thu nhập trung bình tạo ra vài trăm tỷ đồng giá trị kinh tế mỗi năm.
Những gì không thể định giá:
Chùa Bồ Đề là một trong rất ít ngôi chùa Hà Nội có lịch sử trực tiếp gắn với sự kiện giải phóng dân tộc. Giá trị của nó không phải giá trị kiến trúc – là giá trị biểu tượng. Mất chùa này không giống mất một ngôi nhà cổ. Đó là mất một chứng nhân.
Lễ hội rước nước tế thánh: đây là nghi lễ cộng đồng diễn ra tại đúng địa điểm này, với cộng đồng này, từ nhiều thế hệ. Không thể di dời nghi lễ như di dời đồ vật. Nghi lễ sẽ chết khi cộng đồng bị phân tán – và không có khoản “hỗ trợ” nào bù đắp được.
Vốn xã hội: mạng lưới tin tưởng, tương trợ, tự quản của cộng đồng làng Bắc Biên tích lũy qua nhiều thế hệ. Khi 1.000 hộ bị phân tán về 5–6 khu chung cư khác nhau, mạng lưới đó tan rã.
Nghiên cứu xã hội học về tái định cư đô thị toàn cầu chỉ ra nhất quán: tỷ lệ trầm cảm, cô đơn, và các vấn đề sức khỏe tâm thần tăng mạnh trong 5 năm đầu sau tái định cư cưỡng bức – đặc biệt với người cao tuổi.
III. PHÉP TÍNH KHÔNG AI DÁM LÀM
Giả sử dự án tiến hành giải tỏa toàn bộ làng Bắc Biên – 1.000 hộ dân, trung bình 4 người/hộ, tức 4.000 người.
Chi phí giải tỏa trực tiếp (ước tính thô):
– Đền bù đất và nhà theo giá thị trường: trung bình 3–5 tỷ đồng/hộ × 1.000 hộ = 3.000–5.000 tỷ đồng
– Xây dựng và bàn giao căn hộ tái định cư: trung bình 1,5–2 tỷ đồng/căn × 1.000 căn = 1.500–2.000 tỷ đồng
– Tổng chi phí giải tỏa 1 làng: 4.500–7.000 tỷ đồng
Chi phí gián tiếp (không ai tính):
– Mất sinh kế tạm thời trong 1–3 năm chuyển đổi
– Chi phí hỗ trợ thuê nhà trong thời gian chờ tái định cư
– Chi phí y tế và xã hội từ tác động tâm lý tái định cư
– Mất giá trị thương hiệu và du lịch của khu di tích – ước tính hàng chục tỷ đồng/năm
Giá trị tạo ra để bù đắp:
– Khu công viên hoặc đại lộ thay thế làng Bắc Biên: GDP thực tế từ công viên đô thị tại vị trí này?
– Nghiên cứu so sánh tại Seoul cho thấy: một làng hanok như Bukchon đóng góp hơn 400 triệu USD/năm vào nền kinh tế thành phố – công viên đô thị thông thường tại vị trí tương tự không tạo ra một phần mười con số đó!
Câu hỏi đơn giản nhất, chưa có ai trả lời: nếu phá làng Bắc Biên để làm công viên, bao nhiêu năm để giá trị kinh tế của công viên đó bù đắp chi phí giải tỏa – chưa kể giá trị văn hóa và lịch sử mất đi vĩnh viễn?
IV. BÀI HỌC TỪ NHỮNG LÀNG CHÂU Á BIẾT MÌNH LÀ GÌ
Trong khi Hà Nội đang cân nhắc “tái thiết” khu vực này, các thành phố châu Á khác đang làm điều ngược lại – và thu về kết quả kinh tế vượt trội.
Bukchon Hanok, Seoul: Vào thập niên 1990, Seoul định phá bỏ 900 ngôi nhà hanok truyền thống này để xây hiện đại. Một phong trào bảo tồn của cư dân và kiến trúc sư đã ngăn lại.
Kết quả: hôm nay Bukchon thu hút hơn 10 triệu khách mỗi năm, giá thuê mặt bằng xung quanh tăng 300%, và trở thành điểm nhận diện thương hiệu Seoul trên toàn cầu. Hỏi bất kỳ khách du lịch quốc tế nào về Seoul – họ nhắc Bukchon trước khi nhắc bất kỳ tòa cao ốc nào.
Làng Hahoe, Andong (Hàn Quốc): Làng cổ ven sông, UNESCO 2010. Không có gì “hiện đại” – đường đất, nhà mái rơm, giếng cổ. Thu hút 2 triệu khách mỗi năm. GDP du lịch khu vực tăng 5 lần sau khi được UNESCO công nhận.
Bài học: không ai đến xem cái mới – người ta đến xem cái không còn ở đâu khác.
Làng Wuzhen, Chiết Giang (Trung Quốc): Làng cổ ven sông kênh Giang Nam. Bảo tồn toàn bộ kiến trúc, dân cư được hỗ trợ ở lại làm dịch vụ. Doanh thu du lịch đạt 1 tỷ USD mỗi năm – bằng tổng thu ngân sách của một tỉnh trung bình Việt Nam.
Đối lập: nếu Wuzhen bị phá để xây khu đô thị mới, nó sẽ chỉ là một trong hàng trăm khu đô thị thông thường. Giá trị cạnh tranh bằng không.
Điểm chung của tất cả: khách du lịch toàn cầu – người Nhật, người Hàn, người châu Âu, người Mỹ – trả tiền cho sự xác thực, không phải sự hoàn hảo. Họ muốn thấy điều không thể thấy ở nơi khác.
Và điều không thể thấy ở nơi khác, với các làng bãi sông Hồng, chính là 600 năm lịch sử đang sống – không phải trong bảo tàng, mà trong những ngôi nhà có người đang ở, trong tiếng chuông chùa đang ngân, trong nghi lễ đang được thực hiện.
V. CUỘC HỌP KẾT THÚC, CÂU HỎI CHƯA CÓ LỜI GIẢI
Tối 27/5, cuộc họp “tuyên truyền” chiều 14g6 tại số 101 phố Ái Mộ đã kết thúc. Cán bộ ra về. Làng Bắc Biên không biết gì về nội dung cuộc họp.
Nhưng trong tuần qua, một bộ hồ sơ ba tầng đang lưu hành – và khi đặt ba tầng đó cạnh nhau, bức tranh hiện ra rõ hơn bất kỳ cuộc họp nào.
Tầng 1 – Người dân gửi đơn (tháng 3/2026):
Một công dân phường Hồng Hà gửi đơn kiến nghị đồng thời đến Đoàn ĐBQH, HĐND, UBND Thành phố và Sở Xây dựng ngày 11/3/2026 – đúng hơn ba tháng sau lễ khởi công.
Đơn viết thẳng: “Từ khi khởi công tới giờ, dự án đã làm cho tôi và nhiều người dân trên địa bàn Phường ngày đêm mất ăn mất ngủ vì nỗi lo bị mất nhà, đảo lộn cuộc sống, con cái phải chuyển trường học.”
Người này sống ở khu vực phường Tứ Liên, quận Tây Hồ cũ, nay thuộc phường Hồng Hà – nơi làng nghề quất cảnh Tứ Liên đã tồn tại hàng trăm năm. Đơn nêu ba luận điểm rõ ràng: Tứ Liên là nơi có làng nghề truyền thống quất cảnh đã được công nhận di sản văn hóa phi vật thể; người dân có đất đầy đủ số đỏ, đã ăn cư lạc nghiệp ổn định; và các chuyên gia đều không ủng hộ phương án xóa trắng.
“Việc phá dỡ toàn bộ sẽ khiến cho nguy cơ tuyệt chủng làng nghề rất cao, từ đó làm mất đi một nét văn hóa lâu đời.”
Kiến nghị cuối đơn không phải chống dự án mà là điều chỉnh: “Thành phố nên điều chỉnh theo hướng giữ lại những khu dân cư hiện có đang ổn định, các làng nghề truyền thống và chỉ quy hoạch lại những nơi nhếch nhác.”
Tầng 2 – Sở Quy hoạch – Kiến trúc trả lời (25/5/2026 – hai ngày trước):
Trung tâm Phục vụ hành chính công Hà Nội chuyển câu trả lời từ Phòng Quy hoạch – Kiến trúc Bắc sông Hồng ngày 25/5/2026 – đúng hai ngày trước cuộc họp hỏa tốc của Đảng ủy phường Bồ Đề.
Câu trả lời nêu ba nguyên tắc quy hoạch: đảm bảo an toàn thoát lũ; “bảo tồn các di tích lịch sử văn hóa, ngành nghề truyền thống, làng cổ – quy hoạch chủ trương giữ lại và tôn vinh các di tích lịch sử, văn hóa, làng cổ và vùng nông nghiệp đặc thù như làng đào, làng quất Nhật Tân, Tứ Liên, đề xuất các giải pháp để làng nghề quất cảnh không bị mất đi mà kết nối làng đào, làng quất Nhật Tân, Tứ Liên vào chuỗi công viên sinh thái 3.300 ha”; và đảm bảo quyền lợi người dân với tái định cư tại chỗ là ưu tiên.
Đây là những cam kết đúng đắn và đáng hoan nghênh. Sở Quy hoạch – Kiến trúc đang nói đúng những điều mà loạt bài này muốn ghi nhận.
Tầng 3 – Liên danh nhà đầu tư gửi văn bản thúc tiến độ (21/5/2026 – sáu ngày trước hôm nay):
Ngay bốn ngày trước khi Sở QH-KT trả lời dân, liên danh Đại Quang Minh – THACO – Hòa Phát gửi văn bản số 425/2026/CV-LD ngày 24/5/2026 đến UBND Thành phố Hà Nội, đề xuất tiến độ triển khai trong tháng 6/2026 như sau:
– Hoàn thành phê duyệt dự án Công viên Phú Thượng: trước 15/6/2026
– Hoàn thành phê duyệt thiết kế kỹ thuật: trước 22/6/2026
– Hoàn thành giải phóng mặt bằng phần không bao gồm nghĩa trang Liên Ngạc: trước 15/6/2026
– Hoàn thành bàn giao đất: trước 20/6/2026
– Thực hiện thi công xây dựng trên toàn bộ diện tích được giao: trước 22/6/2026
Đọc kỹ lịch trình này: phê duyệt dự án trước 15/6, phê duyệt thiết kế kỹ thuật trước 22/6, và thi công cũng trước 22/6. Tức là dự án được phê duyệt và thi công trong cùng một tuần, thậm chí có thể cùng một ngày.
Liên danh còn đề xuất áp dụng Nghị định 49/2026/NĐ-CP để thực hiện thu hồi đất đối với “phần diện tích không phải là đất ở” mà không cần qua đầy đủ thủ tục niêm yết phương án bồi thường thông thường.
Đây chính xác là cơ sở pháp lý đã được dùng để phát hành những tờ phương án bồi thường 0 đồng mà bà Ngọc, anh Nam, bà Hợi ở ngõ 150 An Dương Vương nhận được.
Ba tầng, một bức tranh:
Người dân gửi đơn tháng 3: giữ lại làng nghề, đừng xóa trắng.
Sở QH-KT trả lời tháng 5: sẽ bảo tồn làng nghề, quy hoạch theo ba nguyên tắc.
Liên danh gửi văn bản cùng tuần đó: thi công Phú Thượng trước 22/6, áp dụng thu hồi không qua niêm yết đầy đủ.
Ba văn bản đang nói ba điều khác nhau về cùng một vấn đề. Câu hỏi không phải ai nói đúng – mà là ai đang thực sự quyết định điều gì xảy ra trên mặt đất?
Cách đó 15 km, tại Nhà Văn hóa Thôn 1 Yên Mỹ, xã Thanh Trì, 150 người dân từ ba thôn Yên Mỹ đang ngồi chờ đến 19g30. Lần đầu tiên họ được mời – không phải để nghe, mà để nói. Họ đã gửi đơn kiến nghị nhiều tháng liên tục. Họ đã chờ buổi họp này từ rất lâu.
Cụ Chính ở làng Bắc Biên thì chưa được mời đến bất kỳ cuộc họp nào như vậy. Cụ ngồi trong sân đình, nhìn về phía sông, và nói câu cuối cùng trong buổi chiều hôm đó: “Tôi không biết họ sẽ làm gì với mảnh đất này. Nhưng tôi biết một điều: khi tôi chết, tôi muốn được an nghỉ ở đây, gần sông, gần đình. Đó là điều cha ông chúng tôi đã làm. Liệu con cháu tôi còn có quyền làm điều đó không?”
Đó là câu hỏi không có trong bất kỳ bản dự toán hay quy hoạch nào.
PHÚ THƯỢNG: VỪA CHẠY, VỪA MẶC QUẦN VỪA XẾP HÀNG…
Cuối tháng 5/2026, phóng viên Dân trí ghi lại cảnh tượng tại khu đất gần 20 ha ven sông Hồng, chân cầu Thăng Long, phường Phú Thượng: máy xúc đang ủi đất, công nhân di chuyển vật liệu, đường nội bộ nhầy nhụa bùn sau mưa. Công viên công cộng phường Phú Thượng – công trình đầu tiên của toàn bộ Trục Đại lộ Cảnh quan Sông Hồng – đang được xây dựng.
Cũng cùng thời điểm đó, tại ngõ 150 đường An Dương Vương cách đó vài trăm mét, bà Dương Thị Bích Ngọc vẫn đang cầm tờ dự thảo phương án bồi thường nhận từ UBND phường: đất sử dụng 201,8 m² – bồi thường 0 đồng.
Đây là công trình đầu tiên. Và đây cũng là mâu thuẫn đầu tiên – hiện ra ngay tại điểm khởi đầu.
I. CÔNG TRƯỜNG ĐANG XÂY – VÀ NHỮNG GÌ CHƯA XONG
Công viên công cộng phường Phú Thượng có quy mô gần 20 ha, tổng mức đầu tư dự kiến khoảng 1.727 tỷ đồng, được kỳ vọng hình thành không gian công cộng lớn ven sông Hồng, ngay khu vực chân cầu Thăng Long.
Theo ghi nhận thực địa, dự án được xây dựng trên một khu đất với nhiều hộ dân sinh sống bên trong, ở giữa khu đất là một khu nghĩa trang với hàng trăm ngôi mộ.
Phần lớn diện tích khu vực hiện vẫn còn bị bao phủ bởi đầm lầy, cỏ cây, bụi rậm, khá hoang sơ. Tới nay khu vực triển khai dự án vẫn chưa được giải phóng mặt bằng đồng bộ – xen giữa các ô đất trống vẫn còn các dãy nhà xưởng tạm, công trình, đường nội bộ và các khoảng đất canh tác.
Dự án dự kiến thu hồi đất của 79 trường hợp là hộ gia đình, cá nhân và tổ chức, với tổng diện tích khoảng 19,99 ha.
79 hộ. Chưa đến trăm gia đình. Nhưng câu chuyện của một số trong đó phản chiếu toàn bộ những gì sẽ xảy ra trên 80 km sông Hồng.
Có điều quan trọng hơn cả con số: theo văn bản của liên danh ngày 21/5/2026, báo cáo nghiên cứu khả thi của công viên Phú Thượng dự kiến trình phê duyệt trước 15/6/2026, phê duyệt thiết kế kỹ thuật trước 22/6/2026. Nhưng thi công cũng được yêu cầu hoàn thành trước 22/6/2026.
Cùng một ngày phê duyệt thiết kế và cùng ngày đó phải xong thi công. Máy xúc đang chạy từ cuối tháng 5 – trong khi thiết kế kỹ thuật chính thức chưa được phê duyệt.
II. BÀ NGỌC VÀ 34 NĂM CANH TÁC VÙNG ĐẦM LẦY
Năm 1992, bà Dương Thị Bích Ngọc nhận mảnh đất từ hợp tác xã – không phải đất ở, mà là đất hợp tác xã giao để canh tác vùng thùng vũng hoang hóa.
Bà cải tạo nó bằng tay, bằng công sức, bằng tiền bạc trong suốt 34 năm. Đất thoát nước được. Nhà dựng lên được. Cuộc sống ổn định.
Năm 2026, UBND phường gửi dự thảo phương án bồi thường: 201,8 m² đất – bồi thường 0 đồng. Bồi thường cây cối và hoa màu: 2.248.200 đồng.
“Tôi cảm thấy rất buồn và ngỡ ngàng,” bà nói. “Bây giờ tôi nhận quyết định tiền bồi thường đất là 0 đồng trong khi tôi không có nơi nào khác để ở.”
Cơ sở pháp lý: liên danh đề xuất áp dụng Nghị định 49/2026 để thu hồi “đất không phải đất ở” mà không qua đầy đủ thủ tục niêm yết phương án bồi thường. Đất hợp tác xã giao từ năm 1992 – không có sổ đỏ – rơi vào diện này.
Anh Hoàng Thế Nam: 825 m² – bồi thường 17.717.600 đồng (chỉ tính cây cối). Bà Trần Thị Kim Hợi: 294,6 m² – bồi thường 5.819.000 đồng. Nhà đất: 0 đồng.
Phép tính giản đơn: đất bãi ven sông vị trí Phú Thượng, sát cầu Thăng Long, sau khi có công viên và đại lộ sẽ có giá thị trường bao nhiêu? Và những người nhường đất đó nhận về bao nhiêu?
III. BA VĂN BẢN CÙNG MỘT TUẦN
Tuần cuối tháng 5/2026, ba tờ giấy lưu hành song song – cùng về dự án sông Hồng, cùng về người dân bãi sông, cùng về bồi thường.
Tờ 1 – Đơn dân phường Hồng Hà (11/3/2026, hai tháng trước):
“Từ khi khởi công tới giờ, dự án đã làm cho tôi và nhiều người dân trên địa bàn phường ngày đêm mất ăn mất ngủ.” Kiến nghị: “Giữ lại những khu dân cư hiện có đang ổn định, các làng nghề truyền thống và chỉ quy hoạch lại những nơi nhếch nhác.” Đơn gửi đi từ tháng 3. Không một buổi tham vấn nào được tổ chức trong hai tháng rưỡi đó.
Tờ 2 – Sở QH-KT trả lời (25/5/2026):
Ba nguyên tắc quy hoạch tốt: an toàn thoát lũ; bảo tồn di tích và làng nghề – cam kết “giữ lại và tôn vinh làng đào, làng quất Nhật Tân, Tứ Liên, kết nối vào chuỗi công viên sinh thái 3.300 ha”; đảm bảo quyền lợi người dân. Đây là những cam kết đúng hướng, đáng ghi nhận.
Tờ 3 – Liên danh nhà đầu tư thúc tiến độ (24/5/2026 – một ngày trước Sở trả lời):
Phê duyệt dự án trước 15/6, phê duyệt thiết kế trước 22/6, GPMB trước 15/6, bàn giao đất trước 20/6, thi công toàn bộ trước 22/6. Áp dụng Nghị định 49/2026 thu hồi đất không qua niêm yết đầy đủ.
Người dân gửi đơn: giữ làng nghề, đừng xóa trắng.
Sở QH-KT hứa: sẽ bảo tồn.
Liên danh thúc: thi công trước 22/6, thu hồi nhanh theo Nghị định 49.
Ba tờ giấy nói ba điều khác nhau về cùng một vấn đề. Điều quyết định không phải ai nói gì – mà là ai đang điều khiển máy xúc trên công trường.
IV. PHỐI CẢNH ĐẸP VÀ NHỮNG GÌ KHÔNG THẤY TRONG ĐÓ
Theo quy hoạch, công viên được tổ chức với nhiều không gian chức năng đa dạng như công viên cảnh quan ven sông, công viên rừng tre – trúc, công viên hoa bốn mùa, quảng trường trung tâm, quảng trường nhạc nước, khu cắm trại và sinh hoạt cộng đồng.
Sau khi hoàn thiện, công viên được kỳ vọng trở thành điểm kết nối quan trọng giữa không gian đô thị hiện hữu với hệ sinh thái ven sông, đóng vai trò là “lá phổi xanh” điều hòa không khí cho khu vực phía Bắc Thủ đô.
Phối cảnh đẹp. Tầm nhìn hấp dẫn. Nhưng có một thứ không xuất hiện trong bất kỳ hình phối cảnh nào: 79 hộ dân đang sống trong 19,99 ha đó sẽ ở đâu sau khi công viên hoàn thành?
Bao nhiêu người như bà Ngọc – đất không sổ, đền bù 0 đồng, không có nơi nào khác để đi? Bao nhiêu người sẽ thành công dân đầu tiên đến thăm công viên mang tên phường của mình – và bao nhiêu người sẽ đứng nhìn vào từ bên ngoài hàng rào?
Đây là bài toán nhỏ nhất trong toàn bộ dự án sông Hồng: chỉ 79 hộ. Nếu không giải được bài toán nhỏ này một cách công bằng, thì 70.474 hộ còn lại trên 80 km sông Hồng sẽ phải đối mặt với điều gì?
HAI CUỘC HỌP TRONG MỘT NGÀY CHỜ MƯA
Bồ Đề và Yên Mỹ, chiều và tối 27/5/2026 – Khi tiếng dân bãi sông lần đầu được ghi vào biên bản
Hà Nội, tối 27/5/2026. Nóng hầm hập, báo hiệu cơn mưa to gió lớn, sấm chớp đùng đùng.
Tại nhà văn hóa thôn 1 Yên Mỹ, xã Thanh Trì, gần một nghìn người dân đứng chật kín sân và tràn ra cả con đường trước cổng. Họ đến dù trời nóng bức, ngột ngạt. Họ đến dù chỉ được thông báo vội vàng trước một ngày. Họ đến vì đây là lần đầu tiên – sau nhiều tháng gửi đơn kiến nghị, sau nhiều tháng lo lắng không ngủ được – họ được mời đến để nói.
Người kể lại cuộc họp để dân làng khác viết trên mạng xã hội đêm đó: “Tôi cảm nhận được lòng yêu quê hương đất nước, yêu mảnh đất chôn rau cắt rốn từ ngàn xưa đến giờ. Những lời tâm sự ruột gan từ tận đáy lòng, những giọt nước mắt của người mẹ, người bà, người cô cho đến những đứa bé còn nhỏ… Thật xúc động và đến nao lòng.”
“Tất cả bà con đoàn kết lại chỉ có một tâm tư nguyện vọng lớn lao nhất là: giữ đất thổ cư, giữ làng.”
LỐI TẮT DẪN ĐẾN HAI CUỘC HỌP
Để hiểu tại sao ngày 27/5/2026 quan trọng, cần nhắc lại những gì đã xảy ra trong những tuần trước đó.
Ngày 21/5, liên danh Đại Quang Minh – THACO – Hòa Phát gửi văn bản số 425/2026/CV-LD đến UBND Thành phố Hà Nội, đề nghị tháng 9/2026 phải giao mặt bằng, riêng tiến độ thi công công viên Phú Thượng – hạng mục đầu tiên của cả dự án – như sau: phê duyệt báo cáo nghiên cứu khả thi trước 15/6, phê duyệt thiết kế kỹ thuật trước 22/6, hoàn thành giải phóng mặt bằng trước 15/6, bàn giao đất trước 20/6, thi công toàn bộ trước 22/6. Tức là phê duyệt thiết kế và thi công xong trong cùng một ngày.
Văn bản đề xuất áp dụng Nghị định 49/2026 để thu hồi “đất không phải đất ở” mà không qua đầy đủ thủ tục niêm yết phương án bồi thường. Đây chính là cơ sở pháp lý đã tạo ra những tờ phương án bồi thường 0 đồng mà người dân ngõ 150 An Dương Vương, phường Phú Thượng nhận được – trong khi máy xúc đã ủi đất bên ngoài từ cuối tháng 5.
Tại Phú Thượng, dự án đang được thi công khi phê duyệt thiết kế kỹ thuật chưa hoàn thành. 79 hộ dân trong phạm vi dự án vẫn chưa biết chính xác họ được đền bù bao nhiêu và sẽ ở đâu. Bà Dương Thị Bích Ngọc, 34 năm cải tạo đất bãi từ vùng thùng vũng hoang hóa, nhận tờ dự thảo bồi thường với dòng chữ: đất 201,8 m² – 0 đồng.
Đó là thực tế ở Phú Thượng. Và đó là điều mà người dân Yên Mỹ, Bắc Biên, Bồ Đề đang nhìn vào như một hình ảnh dự báo cho tương lai của mình.
CHIỀU 27/5 TẠI BỒ ĐỀ: HỘI NGHỊ “TUYÊN TRUYỀN” VÀ NHỮNG CON SỐ LỘ RA
14g chiều 27/5, Đảng ủy phường Bồ Đề tổ chức hội nghị – giấy mời đóng dấu đỏ “HỎA TỐC” từ hôm trước. Thành phần: cán bộ Đảng ủy, UBND, MTTQ, tổ trưởng tổ dân phố, lãnh đạo các chi bộ. Mục đích ghi rõ: “Thông tin và tuyên truyền Dự án.”
Dù được gọi là “tuyên truyền”, cuộc họp đã tiết lộ những con số quan trọng mà người dân bãi sông lần đầu được biết chính xác.
Theo số liệu rà soát sơ bộ của UBND phường Bồ Đề: trong phạm vi bốn dự án thành phần trên địa bàn, tổng diện tích khoảng 252 ha, bao gồm 81 ha đất ở, 68 ha đất nông nghiệp và 103 ha đất công.
Phần lớn diện tích đất ở và đất nông nghiệp đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ gia đình và cá nhân. Quy mô dân cư: 4.415 hộ, khoảng 14.000 nhân khẩu. Bảy nghĩa trang với gần 15.000 ngôi mộ. Ba chợ dân sinh đang hoạt động.
Và hàng chục di tích lịch sử, tín ngưỡng: chùa Bồ Đề, chùa Lâm Du, đền Ghềnh, đền Rừng.
Con số 14.000 nhân khẩu chỉ riêng địa bàn phường Bồ Đề – một trong 16 xã phường của dự án – cho thấy quy mô thực sự của bài toán tái định cư. Nhân với 16 xã phường, con số tổng 70.474 hộ và hơn 247.000 người không phải con số trừu tượng: đó là 14.000 người ở Bồ Đề, hàng chục nghìn người ở Thanh Trì, hàng nghìn người ở Phú Thượng, Đông Ngạc, Hồng Hà…
Tại hội nghị, các đại biểu (cán bộ chủ chốt các tổ dân phố) ủng hộ dự án nhưng tập trung thảo luận về phương pháp tuyên truyền vận động. Tổ trưởng tổ 8 Nguyễn Văn Thuần nói thẳng nguyện vọng người dân: “Sinh sống ở đây bao đời nay, từ thời cha ông khai phá vùng đất bãi ven sông Hồng, có nguyện vọng lớn nhất là được tái định cư tại chỗ.”
Ông đề nghị đo đạc, khảo sát và lập quy hoạch phải được thực hiện công khai, minh bạch để người dân được giám sát.
Tổ trưởng tổ 10 Nguyễn Văn Tuyên kiến nghị xây dựng mô hình “làng trong phố” – chỉnh trang hạ tầng, bảo tồn di sản, phát triển du lịch ven sông, “không giải tỏa trắng”. Bà Nguyễn Thị Thân, Bí thư Chi bộ tổ 38 Bắc Cầu, nói ngắn gọn: “Người dân mong muốn chỉ chỉnh trang, tái thiết – chứ không đập bỏ hoàn toàn để làm lại từ đầu.”
Bí thư Đảng ủy phường Vũ Thị Thành kết luận và cam kết: công khai minh bạch các chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư; thiết lập cơ chế tiếp nhận phản hồi qua nền tảng số; “đặt quyền lợi chính đáng của người dân lên trên hết” trong suốt quá trình thực hiện dự án.
Câu cam kết đó sẽ được đo bằng những gì xảy ra tiếp theo – không phải bằng lời.
TỐI 27/5 TẠI YÊN MỸ: GẦN NGHÌN NGƯỜI CHỜ MƯA
Khác với hội nghị chiều ở Bồ Đề, buổi tối tại Nhà Văn hóa Thôn 1 Yên Mỹ, xã Thanh Trì không phải để “tuyên truyền.” Đây là cuộc họp mà xã mời 50 đại biểu nhân dân mỗi thôn – tổng ba thôn Yên Mỹ – đến để lắng nghe ý kiến.
Nhưng người dân đến nhiều hơn dự kiến rất nhiều. Ước tính gần một nghìn người.
Ngột ngạt như thể sắp mưa to. Sấm chớp như giấu ở đâu đó. Người đứng tràn ra sân, ra đường. Không ai về.
Không được quay phim chụp ảnh hay ghi âm. Không mời nhà báo. Biên bản được sao lưu và chỉ khoảng bốn người được giữ, không được phép lan tỏa ra ngoài. Chỉ có thể nghe lại từ những người có mặt.
Nhưng điều được chia sẻ lại đủ để hình dung: “Những lời tâm sự ruột gan từ tận đáy lòng, những giọt nước mắt của người mẹ, người bà, người cô cho đến những đứa bé còn nhỏ.”
Và sau tất cả những giọt nước mắt đó: “Tất cả bà con đoàn kết lại chỉ có một tâm tư nguyện vọng lớn lao nhất là: giữ đất thổ cư, giữ làng.”
Phía chính quyền xã và đại diện chủ đầu tư ngồi nghe. Ghi vào biên bản. Không đưa ra câu trả lời nào. Không có cam kết nào. Chỉ ghi nhận. Tường thuật lại của người tham dự: “Họ cũng chưa có bất kỳ câu trả lời nào, hay đơn giản chỉ là đợi chỉ thị chính thức từ Trung ương.”
Cuộc họp kết thúc trong trạng thái chờ mưa. Người dân ra về với lòng nhẹ hơn một chút – vì đã được nói – nhưng chưa biết lời mình nói sẽ đi đến đâu.
Đêm 28/5, mưa to cùng gió lốc và sét…
HAI CUỘC HỌP, MỘT BỨC TRANH
Đặt hai cuộc họp trong ngày 27/5 cạnh nhau, bức tranh hiện ra rõ hơn bất kỳ bản phân tích chính sách nào.
Chiều 14g tại Bồ Đề: hội nghị cán bộ nội bộ, thông tin được kiểm soát, mục đích là chuẩn bị bộ máy cho công tác “vận động dân vận giải phóng mặt bằng.” Nhưng đáng ghi nhận: các tổ trưởng tổ dân phố tại đây – những cán bộ cơ sở sát dân nhất – không nói về lợi ích dự án. Họ nói về nguyện vọng tái định cư tại chỗ, về mô hình “làng trong phố”, về không muốn giải tỏa trắng. Họ đang chuyển tải tiếng dân lên trong khuôn khổ một cuộc họp nội bộ.
Tối 19g30 tại Yên Mỹ: lần đầu tiên người dân được mời đến để nói thẳng. Gần nghìn người chờ mưa. Không được ghi âm. Không có câu trả lời. Nhưng biên bản được lập.
Ở Thượng Hải giai đoạn 1 những năm 1990, người ta cũng tổ chức những cuộc họp như vậy – nghe, ghi lại, và không trả lời. Hàng chục nghìn vụ khiếu kiện sau đó là kết quả của việc tiếng dân được ghi vào biên bản nhưng không được phản ánh vào chính sách. Hai mươi năm sau, Thượng Hải xây dựng cơ chế “Hai vòng tham vấn” với ngưỡng đồng thuận 70–85% bắt buộc trước khi tiến hành bất kỳ dự án tái định cư nào – chính vì họ đã học từ sai lầm đó.
Người viết bài tường thuật đêm 27/5 kết thúc với câu: “Chúng ta bình tĩnh để nhận những thông tin tiếp theo cho cuộc họp cấp cao hơn.”
Và thêm: “Sẽ có cuộc họp thứ ba.”
ĐIỀU BIÊN BẢN KHÔNG GHI ĐƯỢC
Biên bản cuộc họp tối 27/5 ghi lại những kiến nghị. Những con số. Những nguyện vọng.
Biên bản không ghi được tiếng gió, mưa sấm sét dội xuống phía Bắc và Tây của thành phố đêm hôm sau. Không ghi được khuôn mặt của người mẹ khi nước mắt chạy xuống má. Không ghi được cái cách mà người bà giơ tay muốn phát biểu dù không biết mình có được gọi không. Không ghi được giọng đứa trẻ hỏi mẹ sau cuộc họp: “Mình có phải chuyển nhà không?”
Và biên bản không ghi được điều quan trọng nhất: những người ngồi trong căn phòng ấy không phải đang phản đối sự phát triển. Họ không phản đối con đường đẹp, công viên xanh, hay thành phố văn minh.
Họ đang hỏi một câu đơn giản hơn: Trong thành phố đẹp mà người ta đang xây đó, có còn chỗ cho họ không?
Đó là câu hỏi mà không cuộc họp nào trong ngày 27/5/2026 có câu trả lời.
* Dựa trên: tường thuật từ người dân Yên Mỹ sau cuộc họp, báo cáo hội nghị phường Bồ Đề (VOV 27/5/2026), văn bản liên danh ngày 24/5/2026 và thực địa công viên Phú Thượng (Dân trí 26/5/2026)







