Thuyền và những mảnh vỡ căn tính

Tino Cao

Tôi chỉ mới đọc Thuyền gần đây sau khi được nhà văn Nguyễn Đức Tùng kí tặng hôm gặp ông ở Quận Cam, California, dịp ông từ Canada sang Mĩ có việc riêng. Dù nghe danh tiếng tác giả đã lâu và biết tác phẩm được Nhà xuất bản Phụ nữ Việt Nam ấn hành năm ngoái trong nước, nhưng ở xa quê hương, việc tiếp cận một cuốn sách in như vậy không dễ dàng như những ngày tôi còn ở gần nhà sách Minh Khai Sài Gòn thuở trước. Cầm tác phẩm trĩu nặng những suy tư đường trường, tôi hiểu mình không thể làm cái việc của một kẻ viết hời hợt, đi gánh bọc cốt truyện bày hàng xén. Văn chương của Nguyễn Đức Tùng, thứ văn xuôi được chưng cất từ cái lõi đặc của một tâm hồn thơ di dịch, đòi hỏi người thưởng ngoạn phải có cái thú nhấm nháp một thứ biệt đãi thi ca, một cuộc chơi độc vị. Tôi từ bỏ lối mòn để xoáy sâu vào một ẩn dụ cốt tử, một cái nút thắt chấn thương ghê gớm nhất chi phối toàn bộ cấu trúc năm mươi lăm chương của tác phẩm, ấy là trận đồ kí ức phân mảnh qua mô-típ tiếng vọng từ “chiếc bình gốm vỡ” tôi nghĩ ra. Ẩn dụ này, tôi xin phép dùng nó như một biểu tượng cho cái căn tính toàn vẹn, cho gia đạo và phong thổ truyền đời mà các nhân vật mang theo trước khi bước xuống Thuyền. Giữa lòng đại dương bão táp, một biến cố khốc liệt giáng xuống đập tan chiếc bình gia bảo ấy thành trăm mảnh mẻ, là cái chết gieo mình vào lòng biển sâu của người bạn gái để bảo toàn nhân phẩm trước nạn hải tặc Thái Lan. Nguyễn Đức Tùng không chép lại những dặm dài địa lí hay những cuộc nổi trôi của thể xác; ông đi sâu giải phẫu một bi kịch tinh thần sâu xa: hành trình nhặt nhạnh những mảnh vỡ ngôn từ và kí ức của cuộc lưu vong suốt hơn nửa đời tha hương nơi Bắc Mĩ.

Cái thế giới nghệ thuật trong Thuyền thoạt kì thủy cứ như một trận đồ của những luồng kí ức xô đẩy, liên tục chồng chéo lên nhau, dễ làm những ai quen lối đọc biên niên phải ngỡ ngàng. Nhưng nếu thưởng thức những âm thanh thuộc về cõi lặng, ghé tai vào vách thời gian mà lắng đợi, tôi nghĩ chắc hẳn sẽ nhận ra cấu trúc tác phẩm chính là hình ảnh hoán dụ của một sự đổ vỡ. Năm mươi lăm chương truyện, rời rạc không được sắp đặt theo một trật tự nhân quả tuyến tính phẳng hớt mà tồn tại như những mảnh gốm rời sau một trận đại hồng thủy. Nguyễn Đức Tùng đóng vai một kẻ lượm lặt cổ vật sau cơn biến động, nâng niu từng mảnh mẻ của quá khứ, soi chiếu nó dưới thứ ánh sáng tà dương của ga tàu biệt xứ để tìm kiếm những ảnh hình còn sót lại. Hành vi lao mình xuống đại dương của người con gái năm ấy chính là điểm rạn nứt đầu tiên và chí mạng nhất trên thân bình. Biến cố đau thương đó không xuất hiện như một chi tiết rẻ tiền, nó hóa thành một bóng ma chấn thương tâm lí bám đuổi nhân vật “tôi” ngay cả khi đã ngồi an ổn giữa một đô thị phương Tây đầy đủ tiện nghi, khiến thực tại của ông luôn bị cộng hưởng bởi tiếng vọng u u uất uất phát ra từ đáy sâu kí ức.

Sự độc đáo trong văn của Nguyễn Đức Tùng là ông đã thấu thị một thực tế nghiệt ngã. Sau những cuộc vượt biển, thứ bị tổn thương nghiêm trọng nhất không chỉ là thể xác hay số phận con người mà chính là cái năng lực biểu đạt của ngôn từ trước sang chấn. Biến cố mười tám ngày đêm trên con Thuyền chật hẹp cùng hơn một trăm năm mươi con người thiếu thốn đủ bề, đối mặt với bão tố và sự tàn bạo của hải tặc, đã bị cô đặc lại trong cái chết trắng của người bạn gái. Khi chiếc bình căn tính đã vỡ, ngôn ngữ cũng theo đó mà di tản, gãy vụn. Người cha, người mẹ ôm giữ trong lòng cả một đại dương kí ức cuồn cuộn bão dông, nhưng cứ mỗi bận đối diện với máu mủ của mình, họ lại chọn lấy sự im lặng tịch mịch hoặc giả có cố thốt lên thì cũng chỉ là những thanh âm ú ớ, thiếu hụt vựng tập. Họ e sợ rằng, nếu cứ cố tình chạm mạnh vào khối quá khứ đầy gai góc ấy, những mảnh gốm sắc lẹm của kí ức sẽ làm rách nát tâm hồn của những đứa trẻ vốn thuộc về một thế giới phẳng lì và thực dụng ở bờ bên kia đại dương. Sự tiết chế chữ nghĩa đến mức tối giản, lối dồn nén ngôn từ ấy đã tạo nên một áp suất thẩm mĩ lớn cho trang văn, khiến tôi có cảm giác mỗi câu chữ hiển lộ trên mặt giấy chỉ là phần nổi của một tảng băng trôi lênh đênh trong ẩn ức.

Khi bóc tách những cuộc đối thoại giữa hai thế hệ trong cuốn tiểu thuyết, tôi nhận ra một bi kịch kép của sự thông dịch căn tính khi đứng trước những mảnh vỡ ấy. Thế hệ cha anh, những kẻ mang nặng mặc cảm lưu vong, luôn nhọc nhằn trong việc diễn dịch nỗi đau của mình sang một thứ ngôn ngữ hiện đại và lí tính của xứ người. Họ hoàn toàn thất thủ vì có những tầng chấn thương đã nằm ngoài giới hạn từ vựng thông thường. Làm sao có thể dùng thứ tiếng Anh, tiếng Pháp rạch ròi và thực dụng để giải thích cho đứa con hậu sinh hiểu được cái khoảnh khắc một bờ vai phải buông xuôi, một thân xác phải chìm vào lòng biển lạnh để đổi lấy sự trinh bạch? Tác giả đã chộp được những khoảnh khắc vô cùng đắt giá khi người cha cố công giải thích cho đứa con về khái niệm mơ hồ mang tên Quê Hương, hay cái lí do định mệnh nào đã đẩy đưa họ phải bước chân lên một con thuyền vô định. Câu trả lời của người cha không bao giờ là những lời phân trần gãy gọn; nó chỉ là một cái với tay hụt hẫng giữa khoảng không, một ánh nhìn đăm đắm vào cõi hư vô ngoài cửa sổ, hay một thói quen kì quặc được lặp đi lặp lại hằng ngày như nghi thức bái vọng sự sống của kẻ mất hồn. Ngôn từ lúc này đã rời bỏ thiên chức kết nối; nó tự dựng lên một bức tường vô hình, khoét sâu thêm một cái hố ngăn cách giữa hai bờ tư tưởng giữa hai thế hệ di dân.

Tư duy cấu trúc của Nguyễn Đức Tùng trong tác phẩm này quả thực là một sự bạo liệt nghệ thuật khi ông kiên quyết không cho các mảnh vỡ một cơ hội nào để hàn gắn theo lối thông thường. Đọc Thuyền, người đọc liên tục phải đối mặt với những khoảng trống văn bản, những cái bẫy im lặng đầy ngụ ý giữa các chương truyện. Những khoảng trống ấy chính là những vết nứt chí mạng trên thân chiếc bình gốm quá khứ. Tác giả cứ cố tình bỏ lửng một dòng suy tưởng đang cao trào, đột ngột cắt ngang một mạch tự sự bằng một câu văn như thơ, bảng lảng như khói sóng, hoặc một đoạn miêu tả thiên nhiên lạnh lùng, dửng dưng. Thủ pháp nghệ thuật này buộc người đọc không thể đọc nhanh, đọc nhảy cóc, mà phải dừng lại, phải tự dùng chính trải nghiệm sống, vốn liếng văn hóa và sự suy tưởng của bản thân để trám cho đầy những khoảng trống hoác ấy. Bản thân tôi khi lật trang sách lúc này cũng bị biến thành một người thợ gốm, cứ cặm cụi lắp ghép những mảnh vỡ của câu chuyện để mong tìm lại một hình hài nguyên vẹn thuở ban đầu, nhưng càng cố công gắn kết, tôi chỉ lại thêm nhận ra sự bất khả của mình của việc phục dựng những gì đã bị dòng thác lịch sử cuốn phăng.

Chất thơ trong văn xuôi của Nguyễn Đức Tùng đạt đến độ chín muồi, phát tiết tối đa thần lực của nó ở mô-típ gây ám ảnh này. Không cần dùng đến những chữ nghĩa đao to búa lớn, ông chọn cho mình một lối viết tối giản, tịch mịch nhưng lại có sức gợi dụ và đầy tính nhạc. Những câu văn ngắn, nhịp điệu ngắt quãng liên tục như nhịp thở hụt hơi của một kẻ đang kiệt sức dưới nước, đã mô phỏng tài tình sự đứt gãy trong cấu trúc tư duy của nhân vật. Khi ngòi bút của ông chạm đến biển, đến con Thuyền, hay đến những căn nhà xa lạ nơi xứ người, tất thảy đều được phủ lên một lớp sương mù nhòe mờ của các giác quan. Mùi vị, âm thanh, ánh sáng trong truyện không bao giờ tồn tại ở dạng nguyên chất, rạch ròi, mà luôn có sự thấu thị, chuyển hóa lẫn nhau. Một mùi hương thoảng qua góc phố xa lạ cũng đủ sức đánh thức cả một vùng kí ức ngột ngạt nơi hầm tàu năm cũ. Một tiếng còi tàu đêm vọng lại giữa một đô thị Bắc Mĩ tuyết phủ trắng trời lập tức biến thành tiếng sóng gào xé thịt da của những ngày lênh đênh trên biển cả. Sự hoán đổi cảm giác một cách liên tục ấy chứng minh một điều: các nhân vật của Thuyền chưa bao giờ thực sự bước chân xuống khỏi con thuyền của quá khứ. Họ sống một cuộc đời lưỡng phân, một thực tại kép, nơi chiếc bình gốm của hiện tại liên tục bị va đập bởi những tiếng vọng phát ra từ cái chết lạnh ngắt nơi đáy đại dương năm nào.

Nhìn sâu vào mô-típ, người đọc sẽ nhận ra một thông điệp triết học sâu sắc của nhà văn về bản chất của lịch sử và căn tính văn hóa. Nguyễn Đức Tùng hình như muốn gửi gắm một niềm xác tín: nỗ lực gắn kết những mảnh vỡ để đòi lại một trạng thái nguyên vẹn ban đầu chỉ là một thứ ảo tưởng phù phiếm. Con thuyền một khi đã nhổ neo ra khơi thì vĩnh viễn không bao giờ có thể tìm lại bến đỗ nguyên thủy. Chiếc bình một bận đã vỡ thì dù có khéo tay đến mấy cũng không cách gì xóa nhòa được những vết sẹo nứt rạn. Điều cốt yếu không phải là tìm cách phủ nhận, né tránh hay che giấu những vết nứt lịch sử ấy, mà là phải học cách đối diện, chấp nhận chúng như một phần tất yếu của cơ chế sinh tồn. Những nhân vật trong tác phẩm, đến cuối đoạn đường, họ đã tự tìm thấy cho mình một sự hòa giải, không phải được kiến tạo bằng thứ ngôn từ hoa mĩ mà bằng sự thấu cảm qua những khoảng lặng của tâm hồn. Họ chấp nhận sống chung với những mảnh vỡ, biết nâng niu, trân quý từng tiếng vọng dù là nhỏ nhoi, đứt quãng nhất, phát ra từ lòng bình nứt nẻ ấy. Chính thái độ ứng xử này đã nâng tác phẩm thoát khỏi tầm của một cuốn truyện kể thông thường, để hóa thân thành một bài ca về sức sống dẻo dai của con người, về khả năng tự chữa lành những vết thương tâm linh ngay cả khi thứ ngôn ngữ thiêng liêng nhất đã bị thời đại làm cho tổn thương.

Xoáy sâu vào cái chết của người con gái và bi kịch nghiệt ngã của sự chọn lựa sinh tử, tiểu thuyết Thuyền của Nguyễn Đức Tùng đã thực hiện một cuộc bứt phá, rũ bỏ lối mòn của những tác phẩm viết về đề tài di dân theo kiểu ca cẩm thông thường. Nhà xuất bản Phụ nữ khi đưa văn bản đầy thách thức này đến với công chúng đã đem lại một góc nhìn nghiêm túc và có chiều sâu về một vết cắt lịch sử chưa bao giờ nguôi rát. Cuốn sách này, quyết không phải viết ra để khơi gợi lại những hận thù cũ kĩ hay những niềm đau thương sướt mướt. Đây là một nỗ lực của một người làm chữ nghĩa, dùng quyền lực của văn chương để gọi tên những điều vốn dĩ bất khả ngôn để lắng nghe những tiếng thì thầm bị bỏ quên trong những khoảng trống hoác của lịch sử. Tác phẩm lấp lánh thứ ánh sáng của tư duy triết học và cái hồn cốt bảng lảng của một thi sĩ, nó cứ găm thẳng vào tâm trí của người đọc, bắt tôi phải ngồi lặng yên giữa cái thinh lặng của cõi vô ngôn mà suy ngẫm về giá trị đích thực của sự sống, của chữ nghĩa và của việc giữ gìn những mảnh hồn cốt thiêng liêng nhất giữa một thế giới đầy biến động và bấp bênh này.

This entry was posted in Nghiên cứu Phê bình and tagged . Bookmark the permalink.