Tranh luận cùng Tiến sĩ Nguyễn Hồng Anh

Đinh Thanh Huyền

Vừa rồi, TS. Nguyễn Hồng Anh có phản biện[1] bài viết “Đọc Thuyền của Nguyễn Đức Tùng[2] của tôi với những lập luận được xây dựng từ lí thuyết về Văn học di dân (VHDD), phần mà TS. Nguyễn Hồng Anh rất mạnh. Cảm ơn TS Nguyễn Hồng Anh vì đã mở ra cơ hội để tôi có thể nói rõ thêm về quan điểm của mình, điều mà trong khuôn khổ bài viết trước tôi đã nén lại. Xin được trao đổi với TS. Nguyễn Hồng Anh như sau:

Trong phần tranh luận này, tôi sẽ không phản biện lần lượt từng luận điểm của chị, vì như thế dễ rơi vào tình trạng tranh luận “cò cưa”. Tôi muốn từ những ý kiến của TS. Hồng Anh nhìn sâu, mở rộng hơn các vấn đề liên quan. Tôi sẽ đi vào mấy ý sau:

Vấn đề căn tính di dân hoàn toàn không phải mối quan tâm của tôi trong bài “Đọc “Thuyền” của Nguyễn Đức Tùng”. Bởi thế, cụm từ “tư cách thuyền nhân” trong bài được dùng với tính chất là một định danh chỉ những người vượt biên trốn khỏi Việt Nam sau năm 1975 bằng đường biển và tìm cách định cư ở nước ngoài. Nghĩa là, hai chữ “thuyền nhân” trong bài viết của tôi đang được dùng với tính chất chính trị – xã hội đặc thù. TS Hồng Anh đánh đồng “tư cách thuyền nhân” với “căn tính thuyền nhân” là do ảnh hưởng của lí thuyết về căn tính mà chị đang làm việc nhưng không phải định hướng của tôi. Việc các nhà văn, nhà nghiên cứu gốc Việt trên thế giới đang muốn xoá bỏ thứ “tư cách nạn nhân” đó không xung đột với quan điểm của tôi vì tôi không tiếp cận vấn đề từ phương diện này. Tôi  chỉ tập trung vào một trọng điểm: “Thuyền” không dựng bối cảnh lịch sử.

Tiếp theo, không phải di dân nào cũng là nạn nhân, nhưng “thuyền nhân” đương nhiên là nạn nhân của một điều kiện lịch sử cụ thể. Nếu không, vì sao họ phải bỏ trốn? Rõ ràng, “thuyền nhân” không phải là người lên tàu đi định cư nơi khác một cách công khai, an toàn. Nếu được hạnh phúc ở quê nhà, không ai bỏ nước mà đi, đi một cách khốn khổ, đau thương, đi mà không biết sống chết ra sao như thế.

Ở đây, hai chữ “thuyền nhân” là một quy ước ngôn ngữ. Chúng ta có thể tạo ra một định danh khác, thậm chí không cần định danh mà gọi đầy đủ là: “những người vượt biên trốn khỏi Việt Nam sau năm 1975 bằng đường biển, tìm cách định cư ở nước ngoài” cũng không sao. Vấn đề là nội hàm không thay đổi.

Một tiểu thuyết viết kí ức cá nhân có nhất thiết phải dựng bối cảnh lịch sử không? Theo tôi là không, nhưng tiểu thuyết về “thuyền nhân” thì cần. Trong “Thuyền”, nhân vật trung tâm mang dấu ấn rất rõ của một thuyền nhân: vượt biển, li hương, chấn thương tinh thần. Tác giả sử dụng toàn bộ vốn biểu tượng và sức nặng cảm xúc của lịch sử thuyền nhân để xây dựng nhân vật nhưng lại làm mờ lịch sử đã tạo ra thân phận ấy. Nghĩa là, tác phẩm hưởng lợi từ lịch sử nhưng không thừa nhận vai trò nguyên nhân của lịch sử. Tác giả có thể dựng bối cảnh lịch sử hoặc không, đó là quyền của ông. Nhưng người tiếp nhận có quyền đặt câu hỏi: Vì sao không có bối cảnh?

Ở đây, cũng không thể cho rằng “việc làm mờ nhoà bối cảnh càng cho thấy sự tổn thương của kí ức đến không thể chịu đựng nổi”. Không thể từ thủ pháp kể chuyện suy thẳng ra trạng thái tâm lí nhân vật. Làm mờ bối cảnh lịch sử là một thủ pháp tự sự. Nó có thể gợi chấn thương, nhưng cũng có thể phục vụ nhiều mục đích khác. Đồng nhất hình thức văn bản với tâm lí nhân vật là suy luận không đủ bằng chứng. Nếu cứ thấy văn bản đứt gãy rồi nói nhân vật bị tổn thương, ta đang biến phê bình văn học thành đọc triệu chứng tâm lí. Việc “chẩn đoán từ văn bản” như vậy không thuyết phục.

Bởi “thuyền nhân” là một định danh ra đời trong và chỉ trong một điều kiện lịch sử cụ thể, đương nhiên ta cần quan tâm xem bối cảnh lịch sử đó là thế nào. Trong bài phản biện, TS. Hồng Anh có viết “căn tính nhân vật không phụ thuộc vào bối cảnh – như chị khẳng định – mà phụ thuộc vào không-thời gian kể chuyện”. Nhưng tôi không bàn về căn tính nhân vật. Vấn đề tôi đặt ra là chức năng của bối cảnh lịch sử trong một tiểu thuyết viết về thuyền nhân. Nhân vật được cấu tạo thế nào là câu chuyện khác. Dù căn tính do chronotope tạo nên, tác phẩm vẫn phải đối diện câu hỏi: khi kể về thuyền nhân mà làm mờ lịch sử, điều gì sẽ xảy ra?

Dựng bối cảnh lịch sử như thế nào là công việc của nhà văn. Trong bài phản biện, TS. Nguyễn Hồng Anh có nhắc đến “Gã du đãng chúng ta đang lùng kiếm” – một tiểu thuyết đã được xếp vào hàng kinh điển của Mỹ ở cùng hệ đề tài – của Lê Thị Diễm Thuý… Và trong tiểu thuyết tuyệt vời này, bối cảnh đã bị làm nhoè hết mức có thể, khiến người đọc rất khó khăn để hiểu liền mạch câu chuyện nối kết từ quá khứ đến hiện tại”. Do tôi chưa đọc tác phẩm này nên không thể nêu ý kiến. Tuy nhiên, tôi đoán rằng việc làm nhòe bối cảnh trong tác phẩm của Lê Thị Diễm Thuý là một chiến lược thẩm mĩ có hiệu quả cao. Vậy, nếu hai tác phẩm đều làm mờ bối cảnh hết sức có thể mà ở Mĩ  “Gã du đãng chúng ta đang lùng kiếm” được xem là “một tiểu thuyết đã được xếp vào hàng kinh điển của Mỹ ở cùng hệ đề tài”. Còn ở Việt Nam, “Thuyền” đang được phê phán thì lỗi thuộc về trình độ đọc của độc giả. Có lẽ người đọc Việt Nam (trong đó có tôi) không đủ trình độ để đọc những thủ pháp nghệ thuật cao như vậy!

Luận điểm thú vị nhất mà TS. Nguyễn Hồng Anh nêu ra là: “chị (ĐTH) đã chia tách kí ức cộng đồng khỏi kí ức cá nhân, cho rằng vì thiếu kí ức cộng đồng nên kí ức cá nhân “trở thành vô nghĩa”. Thực chất, tôi không chia tách kí ức cộng đồng và kí ức cá nhân. Tôi đang mô tả việc chính tác giả Nguyễn Đức Tùng đã “nhấc” nhân vật của mình ra khỏi bối cảnh khiến anh ta trở thành “thuyền nhân” từ đó có những kí ức cá nhân khủng khiếp.

Trái lại, vì cho rằng kí ức cá nhân không thể tách khỏi kí ức cộng đồng nên việc cắt lìa nhân vật “thuyền nhân” ra khỏi bối cảnh lịch sử sẽ dẫn đến việc kí ức cộng đồng của sự kiện này không bị đánh thức theo cách lẽ ra phải có. Khi nhắc đến “Nỗi buồn chiến tranh” (Bảo Ninh), tôi cho rằng vì kí ức của nhân vật Kiên được đặt trong bối cảnh lịch sử đậm đặc nên đã kích hoạt kí ức cộng đồng. Hệ quả là “Nỗi buồn chiến tranh” bị phản ứng dữ dội. Cộng đồng bị phân hóa bởi cuộc chiến tiếp tục phân hóa xung quanh một tác phẩm văn học. Nỗi đau đớn hoặc niềm tự hào của các nhóm người đọc khác nhau chính là kí ức cộng đồng bị khơi dậy.

Với “Thuyền”, kí ức của nhân vật “tôi” rõ ràng là lơ lửng vì không có bối cảnh sinh thành. Cộng đồng “thuyền nhân” nói riêng, cộng đồng dân tộc Việt nói chung đọc “Thuyền” sẽ tìm thấy điểm gắn kết kí ức nào?

Dựa vào những điều TS. Nguyễn Hồng Anh nêu ra, tôi hiểu quan điểm của chị là: việc “Thuyền” không dựng bối cảnh lịch sử không thành vấn đề bởi viết kí ức cá nhân tức là tự động kết nối đến kí ức cộng đồng. Tôi không đồng ý quan điểm này. Kí ức cá nhân không phải đường hầm dẫn đến kí ức cộng đồng. Trong bài phản biện, TS. Hồng Anh vận dụng quan điểm của Maurice Halbwachs về kí ức cá nhân: “nếu cá nhân cho rằng mình sở hữu kí ức như của riêng thì đó chẳng qua là một ảo tưởng”. Quan điểm này xem kí ức cá nhân không có giá trị tự thân mà chỉ là một phần của kí ức cộng đồng. Tuy nhiên, kí ức cá nhân không tồn tại theo cách đó. Trước hết, kí ức cá nhân là dấu vết của những hành động, suy nghĩ, lời nói, trải nghiệm của chính cá nhân đó – ở các hoàn cảnh cụ thể – để lại trong tâm thức. Đồng thời, những cá nhân tương thích gặp nhau trong một trường điều kiện phù hợp để hình thành nên kí ức cộng đồng. Kí ức cộng đồng không tự nhiên xuất hiện. Nó được hình thành từ vô số kí ức của các cá nhân trong một nhóm người, gia đình, dân tộc, thế hệ. Và đến lượt mình, kí ức cộng đồng góp phần định hình kí ức cá nhân thông qua việc cung cấp ngôn ngữ và khuôn mẫu để nhớ mà hai chữ “thuyền nhân” chính là một ví dụ.

Như vậy, kí ức cá nhân của “tôi” trong “Thuyền” là của riêng anh ta và góp phần tạo nên kí ức cộng đồng. Nhưng khi tác giả cách li nhân vật khỏi bối cảnh lịch sử, kí ức cộng đồng sẽ không được kích hoạt đầy đủ. TS. Nguyễn Hồng Anh đã có một trích dẫn nhầm lẫn: “Đây là một nhận định đi ngược lại với kết quả nghiên cứu đặc tính của kí ức: vì chị đã chia tách kí ức cộng đồng khỏi kí ức cá nhân, cho rằng vì thiếu kí ức cộng đồng nên kí ức cá nhân “trở thành vô nghĩa”. Câu chính xác của tôi là: “Nó từ chối gắn với kí ức cộng đồng trong một tình huống đặc biệt, nơi mà không có bối cảnh lịch sử, kí ức cá nhân trở thành vô nghĩa”, tức là tôi vẫn bám sát trọng tâm: bối cảnh lịch sử.

Trong phần cuối bài viết của mình, tôi khẳng định, về thủ pháp, “Thuyền” cũng chưa vượt qua được “Nỗi buồn chiến tranh” là bởi tôi đang phân tích xem ý kiến của một số nhà phê bình về “Thuyền” có thuyết phục không. TS. Nguyễn Hồng Anh cho rằng “Nỗi buồn chiến tranh” là tiểu thuyết chiến tranh, “Thuyền” là tiểu thuyết di dân. Những thủ pháp viết văn học chiến tranh không thể giống với thủ pháp của văn học di dân”. Khẳng định này khá cực đoan bởi thủ pháp không thể bị khóa chặt bởi thể loại. Vì khác bối cảnh và trọng tâm đề tài, tiểu thuyết chiến tranh và tiểu thuyết di dân thường có những xu hướng thủ pháp khác nhau, nhưng vẫn có thể chia sẻ nhiều kĩ thuật tự sự. Bằng chứng là cả hai tiểu thuyết đều có những điểm gần gũi như: kí ức đứt gãy, quá khứ ám ảnh hiện tại, mất mát không dễ gọi tên, cấu trúc kể chuyện phi tuyến tính,… Thậm chí, trong “Thuyền”, nhân vật Người kể chuyện còn có lối viết giống Kiên (Nỗi buồn chiến tranh):

nhiều năm sau nữa, sau những năm dài nội trú các bệnh viện, quên hết, anh bắt đầu đọc lại tiểu thuyết, truyện ngắn, thơ ca, nhận ra không có một tác phẩm nào dù vĩ đại đến đâu kể đúng câu chuyện của anh, chúng nói về tất cả mọi thứ trừ chính câu chuyện ấy, thế là anh viết, một cách cẩu thả, không có kỷ luật, trên những tờ giấy rời, trên bất cứ tờ giấy nào anh thấy được, vứt chúng khắp nơi, do bận việc, và thói lười biếng, anh chỉ có thể viết từng đoạn ngắn, đó không phải là một điều hay ho, nhưng anh không bao giờ có thể viết một mạch, không được như thế, tất cả những dòng chữ ấy những ghi chú ấy, đều là những mảnh đứt gãy, nối liền nhau bởi một sợi dây vô hình, sự tưởng tượng, niềm hối hận, nỗi phản kháng vô hình đối với số phận, anh không thể đi một con đường nào khác, thời gian chọn cho anh một lần, dù viết về đề tài nào thì cuối cùng anh cũng lần ra ở những rải rác ấy, mạch ngầm của câu chuyện (Thuyền).

 

Thoạt tiên, tôi cũng gắng sắp xếp để tìm lại một trình tự mong có thể đọc được như tôi vẫn thường đọc. Song hoài công. Có vẻ như chẳng một trình tự nào hết. Trang nào cũng hầu như là trang đầu, trang nào cũng có vẻ như trang cuối. Tôi nghĩ, ngay dù có đánh số trang, ngay dù không có những trường đoạn bị đốt, bị mối xông, không có những trang mà tác giả đã loại nhưng vẫn lẫn bản thảo thì đây vẫn là một sáng tác dựa trên cảm hứng chủ đạo của sự rối bời. Tôi không muốn nói là điên rồ.

… Dần dà chính tôi đã đi đến chỗ cho phép mình đọc theo một phương thức rất tuỳ nghi. Tôi đọc cả núi giấy ấy một cách giản đơn là tờ trước rồi đến tờ sau bất kể trình tự đó là ngẫu nhiên, bất kể đó là một trang bản thảo hay là một lá thư, một trang ghi chép rời ra từ sổ tay, một trang nhật kí, một bản nháp của bài báo. Tôi đọc gộp cả lại, giở lần lượt từng tờ ra mà đọc. Tôi thấy lẫn trong đó những bức ảnh, những bài thơ, những bản nhạc chép tay, những tờ khai lí lịch, giấy chứng nhận huân chương, chứng nhận thương tật, và cả những quân bài quăn nát, lem nhem từ con 2 đến con át… (Nỗi buồn chiến tranh)

Thêm nữa, ý “Có thể xem “Thuyền” như một áng văn chiêu hồn cho những thuyền nhân” không phải của tôi, câu này của TS. Nguyễn Thị Tịnh Thy. Tôi trích một vài đánh giá của các nhà nghiên cứu có uy tín mà tôi kính trọng để thấy “Thuyền” được đón nhận như một hiện tượng văn học đa giá trị, vừa là tiếng nói cá nhân vừa là tiếng nói “đại diện”.

8/5/2026

[1] Tranh luận với nhà phê bình Đinh Thanh Huyền về tiểu thuyết “Thuyền”, https://vanviet.info/trao-doi/tranh-luan-voi-nha-phe-binh-dinh-thanh-huyen-ve-tieu-thuyet-thuyen/

[2] https://vanviet.info/nghien-cuu-phe-binh/doc-thuyen-cua-nguyen-duc-tung-2/

This entry was posted in Trao đổi and tagged . Bookmark the permalink.