Trần Thị Nguyệt Mai thực hiện qua eMail
Trần Thị Nguyệt Mai: Xin anh nói cho độc giả biết một chút về anh?
Trang Châu: Tôi sinh ngày 28 tháng 3 năm 1938 ở Huế. Mồ côi mẹ năm 10 tuổi.
Tôi được theo học các trường Pellerin, Institut de la Providence ở Huế và Lycée Yersin ở Đà Lạt. Lên đại học tôi chọn Y Khoa Sàigòn, vào quân y, ra trường cuối năm 1965 với cấp bậc y sĩ trung úy. Tôi chọn phục vụ quân y Dù từ 1966 đến 1971. Tiếp theo là y sĩ điều trị Quân Y Viện Trần Ngọc Minh. Giữa năm 1972 được lệnh thuyên chuyển về Trường Quân Y, đảm trách chức vụ Trưởng Khối Sinh Viên và Khóa Sinh một thời gian ngắn và sau đó là Trưởng Khối Tâm lý Chiến kiêm Chủ Bút Tập San Quân Y cho đến ngày mất Miền Nam năm 1975.
Tị nạn tại thành phố Montréal, tỉnh bang Québec, xứ Canada, từ 14 tháng 5 năm 1975. Trở lại nghề Y vào tháng 9 năm 1977. Tháng 4 năm 1988 tình nguyện theo tàu của Hội Médecins du Monde (Pháp) về Biển Đông cứu người vượt biển. Tàu đã gặp 5 ghe vượt biển, vớt được 327 thuyền nhân. Nghỉ hưu từ đầu tháng 3 năm 2016.

Chụp ở Đà Lạt năm 1956-57, khi học tú tài 2 ở Lycée Yersin. Hình bên trái: từ trái sang: TC là người thứ 4. Hình bên phải: Hàng đứng (từ trái sang): TC là người thứ 3

TC đứng trên tàu Mary của Médecins du Monde đi cứu người vượt biển, năm 1988.
TTNM: Được biết anh làm thơ từ năm 15 tuổi. Nguyên do gì đã đưa anh đến với thơ?
– Tôi còn nhớ, lúc bắt đầu đánh vần được chữ quốc ngữ, tình cờ thấy cuốn truyện thơ Lục Vân Tiên mẹ tôi để ở đầu giường, tôi tò mò mở ra đọc, đánh vần từng chữ, chữ hiểu chữ không. Cho đến bây giờ tôi vẫn nhớ mấy câu thơ sau đây:
“Đêm khuya ngọn gió thổi lò
Sương sa ẩm thấp, mưa to lạnh lùng…’’
Hai câu thơ tả cảnh Lục Vân Tiên, mù lòa, bị đem bỏ trong hang Xương Tòng cho chết đói. Tôi đã khóc khi đọc và hiểu được hai câu thơ này. Cũng như tôi đã sung sướng vui mừng tiếp đó khi đọc hai câu thơ sau:
“Đêm nằm thấy một ông tiên
Đem cho thuốc uống mắt liền sáng ra…’’
Đó là kỷ niệm khó quên lần chạm mặt đầu tiên với thơ.
Vì theo học chương trình Pháp giờ Việt văn rất ít: mỗi tuần chỉ 2 giờ học. Vị giáo sư là một linh mục: Cha Bính. Sau khi giảng dạy các thể thơ Việt Nam như: lục bát, song thất lục bát, phú, Đường thi, tứ tuyệt, thơ Mới, cha Bính bắt cả lớp làm thơ; đề tài: tự do, thể thơ: tự do. Bài thơ đầu đời của tôi ở tuổi 15 là viết về người mẹ vắn số của mình:
Thăm Mộ Mẹ
Tôi đứng nhìn xem nấm mộ tàn
Im lìm an giấc dưới trời lam
Trên đầu bia đá rêu xanh phủ
Cỏ úa lan tràn phủ dọc ngang
Lúc ấy hồn tôi cố tưởng mơ
Bóng người từ mẫu tận mây mờ
Với bàn tay trắng êm êm mát
Ôm ẵm người tôi lúc trẻ thơ
Nhưng hết, hôm nay hết cả rồi
Còn đâu hình bóng quý yêu tôi
Với bàn tay trắng êm êm mát
Vỏn vẹn còn trơ nấm mộ tồi
Cha Bính phê trong tập vở của tôi: “Hay quá!”. Ngài đã đem bài thơ của tôi đọc cho cả lớp nghe. Tôi nổi tiếng từ hôm đó. Bài thơ đầu đời của tôi, tôi chưa bao giờ gởi đăng báo hay cho in trong các tập thơ của mình. Có lẽ tôi vẫn ngại bài thơ còn “non” quá. Nhưng thơ đã đến với tôi từ đó và sẽ ở với tôi mãi mãi.
TTNM: Do đâu anh chọn bút hiệu Trang Châu? Bài viết xuất hiện đầu tiên của anh trên báo có phải từ nguyệt san Tình Thương của sinh viên Y khoa? Hay là một tờ báo nào khác?
TC: Trang là tên ông anh ruột.
Đúng. Thời đó tôi bắt đầu và chỉ viết cho nguyệt san Tình Thương.
TTNM: Qua tiết lộ của anh, NM tìm đọc các số báo Tình Thương* được nhà văn Trần Hoài Thư sưu tập và khôi phục từ Đại học Cornell (Hoa Kỳ). Bài thơ đầu tiên của anh xuất hiện trên báo là bài Buồn Một Phương, đi trên Tình Thương số 2 – Xuân Giáp Thìn 1964 (tháng 2/1964). Cũng nhờ bộ sưu tập này, NM được biết từ số 14 – Xuân Ất Tỵ tháng 2/1965 đến số 24 tháng 12/1965, anh cùng đứng chung trên manchette tờ báo với Chủ nhiệm: Phạm Đình Vy, Chủ bút: Nguyễn Vĩnh Đức, Tổng Thư ký: Ngô Thế Vinh, Thư ký: Lê Văn Châu, Quản lý kiêm Thủ quỹ: Vũ Thiện Đạm.

Hình chụp trước tòa soạn báo Tình Thương năm 1964-65. Từ trái qua: Bùi Thế Hoành, Lê Văn Châu, Ngô Thế Vinh, Phạm Đình Vy.
Từ thơ rồi sau đó anh cũng viết văn. Điều gì đã khiến anh viết văn? Hình như anh viết khi đã vào lính. Thời tạp chí Tình Thương anh chỉ làm thơ và rất nổi tiếng với những bài thơ đăng trên đó. Có phải vậy không?

TC: Phải nhìn nhận thời gian 2 năm (1964-1965) cộng tác với tờ nguyệt san Tình Thương của sinh viên Y khoa Sài Gòn đã giúp tôi tìm được một lối đi riêng cho thơ mình. Dạo đó tôi hay mua đọc thơ, văn Pháp loại livre de poche. Tôi thích nhất thơ của Jacques Prévert. Tôi muốn sáng tác thơ mình theo cái style của ông ấy. Dí dỏm, tinh nghịch, thỉnh thoảng pha chút mỉa mai, chua chát. Đại loại như:
“Để thay đổi không khí cho tình yêu
Em nên đi lấy chồng
Và nhớ đến anh
Trong những giờ hạnh phúc…’’
……………………………………………………
“Nếu em không là Hồng, là Mai, là Cúc
Thì xin gọi em là em
Người con gái phụng phịu trả lời: em muốn
Anh gọi em bằng tên... anh’’
Thời cộng tác với nguyệt san Tình Thương tôi có viết văn, nhưng chưa viết truyện ngắn. Chỉ là những bài viết về thời cuộc. Chỉ có bài ‘Nhật Ký Một Chuyến Đi’ viết vào năm 1964 khi một toán sinh viên quân y hai năm cuối nhận lệnh Cục Quân Y lên đường ra miền Trung (Quế Sơn) cứu trợ nạn lụt. Bài viết này coi như tiền thân của những bài bút ký sau này trong tác phẩm văn đầu tay: Y Sĩ Tiền Tuyến.
Tôi chỉ thực sự bắt đầu viết truyện ngắn vào khoảng năm 1969-1970 khi cộng tác với tờ Văn Học do anh Phan Kim Thịnh làm chủ nhiệm. Viết truyện ngắn có nhuận bút, thơ thì không. Không biết có phải viết truyện ngắn được nhuận bút là một vuốt ve tự ái đã thôi thúc tôi viết hay thực sự tôi muốn thử nghiệm một lãnh vực mới.
Tôi nhớ tôi đã viết được 14 truyện ngắn. Nhà xuất bản Đường Sáng (đã in và phát hành cuốn Y Sĩ Tiền Tuyến của tôi) đã nhận xuất bản và đã trả tác quyền trước. Nhưng sách chưa kịp in thì miền Nam mất. Ra hải ngoại tôi còn nhớ nội dung vài truyện và cố gắng viết lại với đôi chút thêm bớt như các truyện: Dì Thu, Chị Xuyến, Nhung nào khác, Bên Đường…
Tôi tự trách mãi việc mình, trưa 29 tháng 4 năm 1975, do vội vã rời nhà để đào thoát, đã xách túi đồ nghề theo mà bỏ lại túi đựng bản thảo thơ, văn cùng cuốn album trong đó có 3 tấm hình tôi quý: Hình vào Dinh Độc Lập bắt tay Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu nhận giải thưởng văn học nghệ thuật với tác phẩm đầu tay: cuốn bút ký Y Sĩ Tiền Tuyến. Hình được Tướng Nguyễn Ngọc Loan gắn Dân Vụ Bội Tinh tại vùng đóng quân ở Kinh Sáng (Chợ Đệm – Bình Chánh) và tấm hình tôi đang săn sóc một thương binh Bắc Việt bị trọng thương (có ghi lại ở chương Đường Ra Bến Hải, trong Y Sĩ Tiền Tuyến).
TTNM: Khi học xong ra trường, anh chọn về Quân Y Dù. Có điều gì quyến rũ anh trong việc chọn binh chủng này thay vì các binh chủng khác hay không?
TC: Tình hình chính trị thời điểm 1964-1966 rất rối ren, sinh viên xuống đường chống chính quyền quân sự liên miên.
Nhân sự trong tòa soạn nguyệt san Tình Thương chia ra làm hai phe: một bênh vực, một chống. Tôi đứng ở giữa. Tôi nhớ tôi đã nói rằng: Trước khi muốn làm cách mạng cho đất nước hãy làm cách mạng bản thân đã. Đất nước đang chiến tranh. Vậy mình phải làm nhiệm vụ của một người trai thời chiến. Tôi chọn phục vụ một lực lượng tổng trừ bị: Nhảy Dù. Về Dù phải tình nguyện chứ không do Cục Quân Y phân chia đơn vị lúc ra trường. Theo bước tôi đi, về sau có Phạm Đình Vy về Thủy Quân Lục Chiến, Ngô Thế Vinh về Lực Lượng Đặc Biệt. Về Nhảy Dù có Trần Đông A và Đường Thiện Đồng.


Hình chụp năm Mậu Thân 1968 – Chờ lên phi cơ đi nhảy bồi dưỡng

Hình chụp ở Bệnh viện Đỗ Vinh trong căn cứ Hoàng Hoa Thám của Sư Đoàn Dù, năm 1969 – Từ trái sang TC là người thứ tư

Hình bìa sau của tập truyện Y sĩ tiền tuyến, năm 1970.
TTNM: Nhân nhắc đến tác phẩm Y sĩ tiền tuyến, điều gì đã thôi thúc anh viết cuốn sách này? Anh đã có những kỷ niệm khó quên nào với tác phẩm ghi đậm dấu ấn của một Trang Châu – Y sĩ tiền tuyến?

TC: Thành thật mà nói, nếu không có việc nền Đệ Nhị Cộng Hòa tái lập lại Giải Thưởng Văn Học Nghệ Thuật, còn được nôm na gọi là giải Tổng Thống, thì có lẽ không có tác phẩm Y Sĩ Tiền Tuyến.
Bài ký đầu tiên tôi viết là ‘Nhật Ký Một Chuyến Đi’ kể lại chuyến đi cứu trợ nạn lụt năm 1964 ở Quế Sơn (miền Trung) của toán sinh viên Quân Y, theo lệnh của Cục Quân Y. Bài ký này được đăng ở nguyệt san Tình Thương của sinh viên y khoa Sài Gòn.
Bài ký thứ hai tôi viết lúc đang còn phục vụ ở tiểu đoàn 3 Dù. Khoảng đầu năm 1967, Cục Tâm lý chiến tổ chức một cuộc thi toàn quốc với đề tài: Bút ký chiến đấu. Tiểu đoàn 3 Dù lúc đó đang đóng ở Chợ Đệm (Bình Chánh). Ngoài đôi lần khám bệnh, phát thuốc cho dân chúng, tôi khá rảnh rang thì giờ. Một hôm mở đài phát thanh nghe thì biết tin trên. Tôi viết bài ‘Đường Ra Bến Hải’ gởi đi dự thi. Bài ký kể lại cuộc hành quân ở vùng Cùa của quận Cam Lộ. Một cuộc hành quân không đụng độ lớn nhưng rất kham khổ dưới cái nắng nóng ghê gớm. Bài ký được chấm giải nhất.
Bài ký thứ ba tôi viết lúc đang làm việc ở bệnh viện Đỗ Vinh của sư đoàn Dù. Lúc bấy giờ Phòng Tâm lý chiến của sư đoàn Dù cho ấn hành đặc san Mũ Đỏ. Họ gặp tôi xin góp bài. Bài ký này có tựa ‘Thử Lửa’, trong đó tôi kể lại trận đánh lớn mà tôi tham gia trong lần hành quân đầu tiên với tiểu đoàn 6 Dù.
Chỉ khi nghe tin Bộ Văn Hóa tái lập lại Giải Thưởng Văn Học Nghệ Thuật tôi mới có ý định viết thêm những đoạn ký khác, sắp xếp lại theo thứ tự thời gian cho thành một tác phẩm. Tác phẩm dự thi không bắt buộc phải là tác phẩm đã xuất bản càng làm tôi phấn khởi. Tôi gởi bút ký Y Sĩ Tiền Tuyến đi dự thi dưới dạng chữ đánh máy. Và Y Sĩ Tiền Tuyến đã là một trong ba tác phẩm trúng giải năm 1969.
Nếu có ai hỏi tôi nghĩ gì về chiến tranh Việt Nam thì tôi sẽ mượn mấy câu cuối trong bài ‘Đường Ra Bến Hải’ để trả lời: “Và một ngày sắp tới, ngồi trên trực thăng, nhìn xuống cảnh núi rừng trùng điệp chắc tôi lại sẽ nghĩ vẩn vơ… Chiến tranh buồn cười thật: một đằng lặn lội từ ngoài Bắc vào, một đằng từ châu Mỹ xa lắc xa lơ tới và một đằng chúng tôi từ Vũng Tàu lên, kéo đến chốn rừng thiêng nước độc này tìm giết lẫn nhau…’’
TTNM: Nghề bác sĩ giúp anh tiếp xúc với rất nhiều người cũng như nhiều cảnh đời. Nhưng nó có giúp anh chút nào trong cảm hứng sáng tác văn cũng như thơ?
TC: Tôi nghĩ nghề của tôi đã giúp tôi có đề tài để viết truyện ngắn hơn làm thơ. Xuyên qua bệnh nhân, ở nhiều lứa tuổi, những cảnh đời khác biệt của họ, giúp tôi có những sự kiện mới, lạ để khởi đầu một câu chuyện. Nhưng những cảnh đời đó chỉ giúp tôi vào truyện, kết thúc câu chuyện lại là cái hướng tôi chọn để nhân vật của tôi nhắm tới mà đi, nhận lấy mà sống hay cam chịu. Truyện ngắn của tôi vào đầu 60 phần trăm là có thật ngoài đời, đoạn kết đa phần lại là hư cấu. Còn nhớ khi nhờ nhà văn Mai Kim Ngọc đề tựa cho tập truyện Dì Thu, ông cứ đùa đùa hỏi: Phần thật chiếm bao nhiêu phần trăm vậy Trang Châu?
TTNM: Trong những sáng tác của anh, anh ưng ý những tác phẩm nào nhất và vì sao?
TC: Với tôi không có tác phẩm nào tôi ưng ý nhất. Chỉ có bài viết nào gây xúc động mạnh khi tôi sáng tác và có âm hưởng lâu bền khi tôi có dịp đọc lại thì tôi coi là ưng ý. Thơ thì có: Mừng Em, Dặn con khi khôn lớn, Xuân nhớ bạn. Truyện ngắn thì có: Dì Thu, Chị Xuyến, Bên Đường. Bút ký thì có: Đường Ra Bến Hải. Đồng hạng thì có nhưng nhất thì chưa. Cũng có thể sẽ không bao giờ có.
TTNM: Về nghề nghiệp, tại sao anh chọn ngành y? Điều gì trong y khoa khiến anh thấy thích thú khi theo nghề này?
TC: Khi còn học lớp seconde (đệ tam) tôi ước lên đại học tôi sẽ chọn y khoa để tìm hiểu mẹ tôi mất về bệnh gì. Thế nhưng rồi sau khi đậu tú tài 2, ban triết, tôi lại muốn đi học Luật để ra làm luật sư. Nhưng trường Luật năm đó bỏ tiếng Pháp, đổi sang dạy bằng tiếng Việt. Thấy tôi có vẻ lừng khừng chọn ngành, bà kế mẫu tôi nói: Nhà muốn có một bác sĩ nhưng sợ y khoa khó lắm e Châu học không nổi. Thế là chạm tự ái thằng nhỏ. Thế là tôi ghi danh học y khoa. Ba năm đầu thật vất vả. Ngoài chồng bài vở, thực tập còn phải chống chỏi với cái thiếu hăng say của chính mình. Cho đến khi lên năm thứ ba, thực tập ở bệnh viện Từ Dũ, mỗi sinh viên có trách nhiệm phải đỡ 20 ca sinh đẻ bình thường tôi mới bắt đầu yêu nghề của mình. Còn nhớ sau khi kéo được đứa bé sơ sinh ra khỏi người mẹ nó, đặt ống hút nhớt trong mũi, trong miệng, vỗ đít nhẹ cho nó khóc, nhỏ thuốc vào mắt, cắt cuốn rún, lau mình mẩy, quấn tã cho nó rồi đem đứa bé lại cho mẹ nó. Nhìn cảnh người mẹ, mới vừa đây kêu la khi rặn đẻ, giờ hai tay ôm con, mắt sáng với nụ cười sung sướng, tiếp theo hai tiếng cám ơn, mình mới thấy mình vừa đóng góp một chút gì cho hạnh phúc của người khác.
TTNM: Khi nhắc đến tên Trang Châu, anh mong độc giả nhớ tới anh ở những điều gì?
TC: Hơi khó trả lời. Có lẽ tôi nên mượn lời những nhà văn nhà thơ đã viết về tôi và mong những gì họ nghĩ về Trang Châu cũng được đông đảo độc giả nghĩ như vậy.
“Đọc Trang Châu người ta dễ dàng cảm thấy chuyện rất thật, rất cuộc đời, như một phiên bản thật thà của cuộc sống quanh ta. Chúng có cái hấp lực riêng níu kéo người đọc. Tôi vẫn cho một truyện thành công phải giữ người đọc tới dòng chữ cuối. Và khi đọc xong, truyện vẫn còn vương vấn trong trí người đọc, không dễ gì mà rời xa, không dễ gì mà xếp lại.’’ – Song Thao (trích Đọc Dì Thu của Trang Châu).
“Thơ Trang Châu nói chung là thơ rất hiền. Trong thơ Trang Châu ta thấy phảng phất những âm điệu êm đềm như thơ Nguyễn Bính hay yêu kiều như giọng Đinh Hùng. Trong thơ Trang Châu tiếng nói không bị đập phá, không bị xô đẩy tới những biên cương không chờ đợi. Vì vậy tôi chắc thơ Trang Châu sẽ được tiếp đón dễ dàng với nhiều thế hệ người đọc thơ.’’ – Đỗ Quý Toàn (Trích Tựa – Thơ Trang Châu)
“Hình như có nhà phê bình văn học nào đó đã nói văn thơ khi đã đạt tới mức nghệ thuật thì nên vứt bỏ kỹ thuật đi. Chúng ta không thấy cái công dụng sửa chữ đổi lời nào trong toàn tập thơ. Trang Châu nghĩ sao viết vậy, suôn sẻ và gãy gọn, êm ái mà thân tình. Có một thứ tình yêu rất lớn, thiệt lớn mà tác giả say mê hơn tất cả mọi thứ say mê. Đó là tình yêu quê hương đất nước. Lúc nào anh cũng “muốn làm một cái gì”. Theo tôi người có trái tim bình thường là những người bình thường, có trái tim thật lớn mới là thi sĩ.’’ – Võ Kỳ Điền (Trích Bạt – Thơ Trang Châu)
“Dù đã viết Y Sĩ Tiền Tuyến tác phẩm được giải thưởng văn chương toàn quốc, thơ Trang Châu lại rực rỡ và sáng trưng trong những mảnh đời sống. Thơ của tình một thuở, của quê hương, của trái tim không bao giờ ngưng đập nhịp. Thơ Trang Châu ngắn lời nhưng dài ý. Một chút Huy Cận, một chút Nguyễn Bính phảng phất. Thơ tình yêu không bao giờ cũ. Thơ Trang Châu còn là niềm suy tư của người con trai đối với quê hương dân tộc.’’ –Nguyễn Mạnh Trinh (Trích báo Hồn Việt).
“Quê hương và chiến tranh đã được nói tới nhiều, nhìn ngắm nhiều, và lần này qua ngòi bút của một nhà văn Y sĩ, nghĩa là qua một lương tâm đích thực. Đây là một ký sự, một tác phẩm văn chương. Bởi vì tất cả những sự kiện có thực trong đời sống, khi đem vào tác phẩm, dù được sắp xếp hoặc hỗn độn, hoặc trật tự như thế nào cũng đều thoát ra một dẫn giải. Ở đây lẽ tự nhiên, là một dẫn giải về cuộc chiến mà tất cả chúng ta đang chịu đựng và chống trả trong đau đớn và hy vọng.’’ – Nguyễn Đình Toàn (lời giới thiệu trang bìa sau Y Sĩ Tiền Tuyến)
“Có những sự kiện, những cảm giác mà tất cả mọi người đều biết, đều viết, đều thấy là thông thường. Chính trong những sự kiện thông thường ấy, những cảm giác mà mọi người đều biết, đều viết ấy, Trang Châu đi tìm cái lạ, cái mới. Anh đem tâm tư mình lên bàn mổ, đem cảm nghĩ của mình ra giải phẫu. Mỗi câu văn, mỗi trang sách của Trang Châu đều là một phần của chính anh. Đọc Trang Châu, cái thích nhất là thấy anh viết rất thật.’’ – Nguyễn Đạt Thịnh (lời giới thiệu trang bìa sau Y Sĩ Tiền Tuyến).
“Đi vào đời sống sinh động và nhiều mặt của đất nước hiện nay, hạnh phúc và may mắn của một nhà văn mới lên đường, như trường hợp Trang Châu, là từ điểm khởi hành đi thẳng, đi ngay vào những thực tế lớn. Thực tế lớn của đất nước bây giờ là tuyến đầu, là mặt trận. Trang Châu đã có mặt ở đó. Qua những ghi nhận khỏe, tốt, tích cực và có hiệu lực của ông, tôi muốn nghĩ nếu một thực tế gai lửa không bao giờ đến với nhà văn như một tiếp nhận dễ dàng, mà như một thử thách dữ dội, Trang Châu đã có đủ điều kiện để đương đầu và biểu hiện được những đặc thù của nó.’’ – Mai Thảo (Trích lời giới thiệu trang bìa sau Y Sĩ Tiền Tuyến, in đợt 2 của nhà xuất bản Đường Sáng).
“Văn chương nghệ thuật đã xua vào binh chủng ưu tú của quân đội một chiến sĩ đắc lực. Ở Trang Châu có một trường hợp ngộ nghĩnh: trường hợp một người vừa phục vụ nghệ thuật vừa phục vụ nhân sinh thật kỹ, nói một cách khác là một người vì nghệ thuật mà nhào vô phục vụ nhân sinh đến nơi đến chốn. Phải nói ra như thế để thấy cái giá phải trả cho cuốn ký này nó cao đến đâu.’’ – Võ Phiến (Văn Học Miền Nam – Trích Ký).
“Nghe lời kêu cứu thống thiết của đồng bào nơi Biển Đông, ông đóng của phòng mạch lên đường ra trùng khơi tìm cơ hội nối lại nghĩa đồng bào. Chỉ cần một tâm hồn nhân hậu như thế cũng đủ hấp lực lôi cuốn chúng ta vào truyện rồi. Nhưng ở đây, tác giả còn khéo léo bố cục cho câu chuyện có tiền có hậu, có trước có sau, tưởng như một tiểu thuyết hư cấu. Nhưng không, đây là chuyện thật một trăm phần trăm, viết trong những lời văn trong sáng, chân thật, không chút làm dáng mà vẫn chuyên chở được nỗi khát khao đem lại chút hạnh phúc cho người đồng chủng.’’ – Trương Anh Thụy (Trích bài giới thiệu bút ký Về Biển Đông – Xuân Ất Hợi 1995)
“Trang Châu đã có những chọn lựa tuyệt đẹp cho cuộc đời của ông bằng những năm mặc bộ quân phục màu ngụy trang. Thế rồi, ở cái tuổi ai cũng nghĩ không còn làm được gì nữa, Trang Châu trở lại Biển Đông và đem về cuốn bút ký Về Biển Đông. Những thứ ông mang về là những tài sản vô giá như hình ảnh con tàu chật chội, những gắn bó tình người, như biển Đông nồng mặn, như niềm vui không bờ bến của những người nhìn thấy khung trời Tự Do. Về Biển Đông là một cuốn sách do một thuyền nhân viết về những thuyền nhân và cho những thuyền nhân.’’ – Bùi Bảo Trúc (trích bài giới thiệu buổi ra mắt bút ký Về Biển Đông, Arlington 1995).
“Trong cương vị nhà văn, Trang Châu đem đến cho người tị nạn một chút tình người, tình máu mủ, đồng bào. Trong cương vị của một y sĩ, ông đã phần nào xoa dịu những đớn đau thể chất của đồng loại.’’ – Hoàng Khởi Phong (Về Biển Đông – Trích báo Người Việt số tháng 6-1995)
“Tập truyện là một sưu tập người nữ, và truyện cũng như người của Trang Châu rất hấp dẫn. Trang Châu kinh sợ sự nhạt nhẽo và thích chất muối mà chỉ người nữ phong trần mới có. Về muối quả thật nhân vật nữ của Trang Châu có sẵn đến mức đậm đà, có khi đến chỗ mặn chát. Họ đối ứng có duyên, xử lý mọi chuyện dễ dàng, dễ dãi, và cái đùa cợt bất cần đời của họ dễ lây sang người đọc. Nhưng ngẫm lại, câu chuyện không hẳn chỉ có khôi hài mà còn rất nhiều bất hạnh. Nhân vật nữ của Trang Châu không được đời ưu đãi’’. – Mai Kim Ngọc (Trích Tựa – Tập truyện Dì Thu)
“Truyện của Trang Châu giản dị, nồng nàn, nhiều tình cảm, giàu lòng thương và có hậu. Nhân vật của tác giả nam cũng như nữ, lăng xăng đi tìm một tình yêu, một sự âu yếm, một tâm hồn đồng điệu. một hạnh phúc. Có khi tìm được có khi không, có khi không có kết thúc. Và người đọc được mời tham dự vẽ ra đoạn cuối. Cám ơn tác giả đã có một ý nghĩ âu yếm về phái nữ: “Tôi nghĩ trên đời này không có người đàn bà nào xấu cả, chỉ có những người đàn ông không biết mỗi người đàn bà đẹp ở chỗ nào mà thôi.’’ – Kiệt Tấn (Trích Bạt – Tập truyện Dì Thu)
“Gần nửa thế kỷ. Có vẻ như vị y sĩ oai phong áo hoa mũ đỏ ngày xưa và bức chân dung tác giả bây giờ chả liên hệ gì với nhau. Nhưng tôi lại nghĩ ngay, có đấy. Tuy thời gian đã làm thay đổi hình hài, quy luật chung mà, song mãi mãi vẫn bất biến những đam mê, nhất là văn chương nghệ thuật. Mai sau người ta có thể không còn nhớ bác sĩ Lê Văn Châu nhưng chắc chắn nhà văn Trang Châu sẽ còn đó, trong dòng chảy của văn học Việt.’’ – Khánh Trường (Trích lời giới thiệu trang bìa sau tập truyện Người Ăn Trưa Trong Xe)
“Muốn sử dụng chất liệu tầm thường để tạo ra những truyện ngắn hấp dẫn, người viết cần phải có một tâm hồn nhạy cảm, một khả năng quan sát tinh tường, cộng thêm với óc sáng tạo và tài năng pha trộn thực kiện với hư cấu. Qua những loạt truyện ngắn mới nhất Trang Châu tỏ ra đáp ứng được những đòi hỏi vừa kể. Tài khéo léo nơi ngọn bút Trang Châu được thể hiện rõ nhất khi anh mô tả các nhân vật trong truyện. Chỉ vài ba nét phác họa, anh đã khiến độc giả hình dung ra được khuôn mặt, dáng vẻ, lời nói, cử chỉ và ngay cả tính tình người anh muốn giới thiệu. Một đặc điểm khác trong cách hành văn của Trang Châu là tính chất dễ dàng thoải mái, không gò bó điệu đà.’’ – Lê Văn (Trích Bạt – Tập truyện Người Ăn Trưa Trong Xe).
Nếu có ai nhắc đến tên Trang Châu, tôi mong được cảm thông về con người của tôi, con người như nhà văn Võ Kỳ Điền từng nhận xét: “lúc nào cũng muốn làm một cái gì’’. Và cái gì tôi muốn làm đó thường không phải là cái được đa số chọn làm. Có thể vì ngoài hai chữ y sĩ, tôi còn đeo thêm hai chữ nghệ sĩ, nhất là khi hai chữ sau nằm trong tim nhiều hơn ở trong đầu.
TTNM: Chân thành cảm ơn anh Trang Châu đã dành cho Nguyệt Mai một cuộc trò chuyện thật thú vị. Kính chúc anh luôn được vui khỏe, an lành và có nhiều hứng thú để tiếp tục sáng tác.
TC: Cám ơn Nguyệt Mai đã thực hiện phỏng vấn.
Thực hiện 22/3/2026 – 11/4/2026
* Nguyệt san Tình Thương (1964 – 1966) do nhà văn Trần Hoài Thư sưu tập
https://tranhoaithu42.com/2021/05/17/nguyet-san-tinh-thuong-tai-chinh-trang/