“Thuyền” mở ra những vết thương cho ánh sáng đi vào

 (The wound is the place where the light enters you – Rumi)

Hàm Anh

Trong một chia sẻ trên Facebook cá nhân, nhà văn – nhà phê bình Ngô Văn Giá hào hứng thông báo cuốn tiểu thuyết THUYỀN vừa ra mắt của nhà văn – nhà thơ – bác sĩ Nguyễn Đức Tùng chuẩn bị được tái bản, ông có đặt câu hỏi: “Tại sao THUYỀN lại có sức hút mạnh mẽ đối với bạn đọc như vậy? Hẳn vẫn còn là một bí ẩn đối với chúng ta.”

Cá nhân tôi thấy câu trả lời khá giản dị: bởi vì THUYỀN đạt tới Chân – Thiện – Mỹ một cách đích thực. Trong khi những giá trị ấy có vẻ như dần bị che khuất bởi các tiêu chí thời thượng như “Mới”, “Độc lạ” hay “Tính thời sự”, thì THUYỀN cho chúng ta một cái nhìn hồi nguyên – một sự trở lại sâu sắc với bản chất lay động của văn chương chân chính.

Tính chân thực của tác phẩm mạnh mẽ tới nỗi, nhiều người nói rằng họ không ngủ được sau khi đọc THUYỀN. Trước đó, tôi đã đọc một số trích đoạn trên Facebook của anh Tùng và cũng được nghe thoáng qua về câu chuyện vượt biên với những ký ức đau thương của anh. Tôi đã rất tò mò và hối hả để đọc THUYỀN. Nhưng chỉ đọc được vài trang thì tôi không chịu nổi, phải tạm bỏ đấy, đi làm việc khác. Năng lượng mạnh mẽ của cái THẬT trong từng dòng chữ giáng vào tinh thần, khiến tôi choáng váng. Cuốn sách vài trăm trang có 16 từ hãm hiếp, 16 lần tôi phải gấp sách lại để thở.

Trong truyện, có một đoạn kể câu chuyện ở một trại tị nạn gần biên giới Thái Lan, một cô gái tầm 16 tuổi, bị hãm hiếp nhiều lần trên đường vượt biển và mang thai. Mọi người thuyết phục cô ấy bỏ cái thai đi vì hoàn cảnh khắc nghiệt quá, và cái thai ấy dù sao cũng bắt nguồn từ một bi kịch hẳn là ghê tởm với cô ấy. Thế nhưng, cô ấy nhất định không chịu, ai hỏi gì cũng không nói và trốn khỏi tầm mắt của mọi người để giữ đứa con trong bụng. Chính cách kể chuyện có vẻ như lạnh lùng của tác giả lại đạt hiệu quả cảm xúc khiến người đọc bị ấn tượng mạnh và phải đặt câu hỏi để rồi tự trả lời.

Phải, tình mẫu tử là một sức mạnh bí ẩn, việc một mầm sống lớn lên và ra đời là một cái gì đó thiêng liêng, nó nảy sinh trong lòng người mẹ một tình yêu riêng tư, vô bờ bến tới mức vượt qua cả lòng căm ghét, hận thù – nếu lấy logic thông thường ra để phán xét thì quả thật chúng ta không thể hiểu. Và câu chuyện khư khư giữ mầm thai của kẻ thù cho người đọc cảm nhận được bi kịch của người mẹ trẻ tới tận cùng. Trong quá trình vượt biển, nhiều người đã mất tất cả người thân, chỉ còn một mình trên đời. Đứa con nhen nhúm trong bụng cô gái 16 tuổi hy vọng chí ít cũng còn có một người thân của cô trên cõi đời…

Trong THUYỀN, những câu chuyện rất thật và đau lòng như vậy được mô tả liên tiếp như một cuốn phim. Nhà văn Nguyễn Đức Tùng rất ý thức tiết chế ngôn từ và tránh bày tỏ cảm xúc trực diện. Tác giả lựa chọn các cảnh huống và chi tiết rất đắt giá và để tự hiện thực ấy khơi gợi nên cảm xúc và suy ngẫm của người đọc. Đọc cuốn sách mà có cảm giác như người viết là một bác sĩ tỉnh táo, không run tay dao, mổ xẻ chính mình.

Cả cuốn tiểu thuyết về thuyền nhân tị nạn sau chiến tranh không có một chữ nào nhắc đến “hòa hợp, hòa giải”, không có một chữ nào nhắc đến “thắng, thua”, đến ngộ nhận, sai lầm… Ông chỉ phơi bày sự thật, bởi, làm sao có thể “hòa giải” nếu không tôn trọng quyền được nói lên, được lắng nghe, được hiện diện?

Nguyễn Đức Tùng đã dùng con chữ của mình để tái tạo lại quá khứ đúng như nó từng là. Và bằng cái Đẹp của ngôn từ ông đã mang đến cái Chân, không để những linh hồn bị chết trong nhục nhã và đau thương xưa kia bị biến mất không dấu vết. Ông giải phẫu lịch sử bằng ánh sáng của một trái tim từ bi, một trí tuệ mẫn cảm, sáng suốt, dịu dàng, nhẫn nại. Từng chút một, ông hồi sinh cho những linh hồn đã chết oan.

“…Làm sao để yêu được thế giới này sau tất cả những đau khổ?

Nhìn vào bản chất của sự mất mát…” (trang 83-84)

140 con người trên chiếc thuyền của Nguyễn Đức Tùng năm xưa, hàng ngàn hàng vạn con người bỏ nước mà đi, chết cũng đi, gặp hải tặc cũng đi, rồi bị phơi thây cho cá mập, bị lăng nhục, biết bao người nữ bị xuyên chọc âm hộ, bị bán vào nhà thổ, mất ngôn ngữ, mất tất cả chỉ còn một cái lỗ trơ trơ như cửa địa ngục. Nhưng tất cả những bi kịch thê thảm ấy sẽ biến mất khỏi mặt đất này, “biển động sẽ im, bầu trời xanh trở lại.”? Đừng hỏi làm gì trước sự Vô nghĩa đến tàn khốc của số phận những thuyền nhân trên biển. Quá khứ được khép lại như thế sẽ mưng mủ, biến thành độc tố.

“Khi tôi chết, gió sẽ không còn thổi nữa.

Khi tôi chết, mọi đau khổ chấm dứt.

Sự tra tấn chấm dứt.

Sự đói khát chấm dứt.

Sự nhục nhã chấm dứt.

Khi chúng tôi chết, đừng hỏi vì sao chúng tôi đến đây

Khi chúng tôi chết biển động sẽ im, bầu trời xanh trở lại.” (trang 153)

Và tôi nghĩ rằng, THUYỀN đã hoàn thành được một trong những sứ mệnh lớn lao nhất của văn chương, đó là Chống lại sự lãng quên.

Bằng cách nào đó, người thanh niên ra đi trên chiếc thuyền năm ấy đã vượt thoát được những cơn bão, đói, mất nước, bệnh tật, chứng kiến người yêu quyên sinh, chứng kiến những toán cướp biển hãm hiếp, bắt đi và rồi sẽ bán vào nhà thổ những người yêu, vợ, con gái của những người đàn ông trên thuyền, những đứa trẻ con bị ném xuống nước, thủy táng, trại tị nạn với muôn vàn câu chuyện bi thảm rùng rợn… đã-sống-sót. Bằng cách nào đó anh ta đã vượt thoát được những cơn trầm cảm, ký ức nhai đi nhai lại như một cái đĩa than bị xước vấp siết vào tim óc, đã không hóa điên hay tự tử để thoát khỏi những nỗi ám ảnh đau đớn.

Có thể nói rằng, nhân vật chính đã sống sót là nhờ may mắn, nhưng đã không tự sát hay hóa điên là nhờ ở trong anh ta có Tình Yêu, một tình yêu rất lớn đối với một con người cụ thể, với mọi người và vạn vật xung quanh… Tình yêu không nguôi ngoai đối với quê hương bản quán, với tiếng Việt của mình.

Chính là nhờ ở Tình Yêu mà Nguyễn Đức Tùng có khả năng hóa giải hận thù, nhìn thấy cái Thiện tận cùng ở nơi cái Ác tận cùng đã diễn ra, nhìn thấy Ý nghĩa ở nơi sự Vô nghĩa tận cùng đã cho ông thấy. Ví dụ như câu chuyện về người mẹ trẻ thương yêu và bảo vệ cái thai bắt nguồn từ nhiều lần bị hải tặc hãm hiếp mà ông đã kể lại trong tác phẩm của mình, cho tôi thấy một cách ám ảnh, bằng cách nào mà Tình yêu vượt lên trên được Hận thù.

Ở đoạn mấy nạn nhân sống sót trên con thuyền tơi tả bỗng nhìn thấy ngọn lửa giàn khoan, dấu hiệu họ sẽ được cứu thoát, Nguyễn Đức Tùng viết:

“Sự sáng, sao mà lâu đến thế.

Một người nào nói: tháp đốt lửa trên giàn khoan.

Vì sao người ta rời bỏ lòng tin vào thế giới?

Không.

Bạn không rời bỏ nó.

Nó rời bỏ bạn.

Đôi khi em thấy em cầu nguyện trong một giấc mơ.

Đó là sự may mắn.

Sự may mắn không dùng được vào việc gì.

Không phải. Sự may mắn chờ chúng ta ở đó, như kho tàng châu ngọc được cất giữ, có lúc cần tới.

Nhưng người tìm thấy chúng không phải là chúng ta.

Không. Một người khác.” (trang 153)

Có thể bạn không May mắn. Một người Khác. Đoạn thơ văn xuôi này có tính kết nối với câu chuyện trở đi trở lại trong THUYỀN – câu chuyện về loài bướm, một hóa giải minh triết và nhân ái tính vô nghĩa của những cái chết, những thảm kịch, những sai lầm. Nguyễn Đức Tùng viết: “Tất cả sự mất mát nói cho cùng là sự hy sinh của kẻ đi trước lót đường, mở đường máu cho đồng loại”.

THUYỀN, đối với tôi không hẳn là một cuốn tiểu thuyết đơn thuần, nó là một cuốn hồi ký được lai tạo với tiểu thuyết bởi một nhà thơ. Nói như nhà thơ-nhà văn Thái Hạo thì THUYỀN là một bài thơ lớn. Tính ẩn dụ của nó rất cao. Bạn sẽ luôn luôn bắt gặp những đoạn “thơ văn xuôi” như trên như một nhịp nghỉ trầm lắng tạo điểm nhấn trong khi câu chuyện đang kể đầy kịch tính.

THUYỀN là một cuốn tiểu thuyết “hồi ký” vì nó được xây dựng từ những câu chuyện có thật từ cuộc đời tác giả và từ các câu chuyện kể của các thuyền nhân còn sống sót. Nhưng THUYỀN không chỉ là một cuốn “hồi ký”: “Không một câu chuyện nào tôi kể lại chỉ là kể về tôi. Những người lắng nghe sẽ nhớ lại cuộc đời của chính họ.” (trang 58-59).

THUYỀN vẫn là một cuốn tiểu thuyết vì ở đó nhà văn đã tạo dựng nên một Thế giới, một Sự thật ở bên ngoài Sự thật. Nó đi từ tiểu tự sự để nói về đại tự sự. Từ con thuyền của 140 người nó nói về đường đi bi thương của cả một dân tộc, khơi gợi đức tin vào tình yêu, tình đồng bào, sự độ lượng, tha thứ, niềm hy vọng và ý chí không ngừng đấu tranh cho cái thiện, cho những giá trị cơ bản của loài người để tạo dựng một tương lai xứng đáng, nơi con người giữ được phẩm giá của mình:

“Hải phận quốc tế là một huyền thoại. Ai cũng nhắc đến, nhưng không ai biết nó là gì. Ra đến hải phận quốc tế, thì con người không thuộc về đất nước của mình nữa, mà thuộc về cộng đồng thế giới, thích chưa? Lúc ấy trời đất cảm nhau mà biến hóa, từ một sinh hai, từ hai sinh bốn, từ bốn sinh tám. Cứ thế liên miên, bất tuyệt, mọi vật sinh trưởng, người với đất với trời là một. Tồn tại ung dung, có sanh có diệt mà không sanh diệt. Trong ý nghĩ của mọi người, thuộc về quốc tế tức là thuộc về những quy luật của loài người, khách quan, dễ hiểu. Thuộc về những đặc tính phổ biến của vũ trụ, lẽ công bằng của tự nhiên, tức là không bị ai đánh đập vô cớ, không bị ai tra hỏi bất ngờ, thích ăn thì ăn, thích mặc thì mặc, thích nói thì nói, không thích nói thì không nói. Ai cũng được tôn trọng, ai cũng được học hành, ai cũng được mưu cầu hạnh phúc và tình yêu. Tóm lại hải phận quốc tế là một lãnh thổ mới bên ngoài các lãnh thổ, một cõi giới mà con người muốn đạt tới, nhưng khác với thiên đường hay niết bàn, nó hoàn toàn có thật.” (trang 72)

Quyết định chuyển thể loại từ hồi ký sang tiểu thuyết là một quyết định sáng suốt của nhà văn Nguyễn Đức Tùng. Vì chỉ với thể loại này ông mới có thể diễn tả được sự thật hơn cả sự thật. Không cần đao to búa lớn, ông cho người đọc vừa đứng trên vai ông, vừa đi vào trong tâm thức ông để nhìn thấy Sự thật toàn tính của Vũ trụ. Tác phẩm của ông vì thế có sức đánh thức lương tri, thôi thúc con người đặt ra những câu hỏi lớn về phẩm giá và tự do, về ý nghĩa của cuộc sống – và cả những gì lịch sử từng bị che khuất.

“Khi một dân tộc sung sướng, người ta làm gì?

Ôm lấy nhau. Khóc.

Người ta làm gì nữa?

Tha thứ. Tha thứ hết.” (trang 75)

Bi kịch thuyền nhân sau năm 1975 thực sự là một vết thương của dân tộc chúng ta. Đọc THUYỀN chúng ta sẽ phải tự hỏi: vì sao ra đến nông nỗi ấy?

“Mưa phải rơi trên mỗi mặt người như một câu hỏi” (trang 294)

“Lịch sử là quá khứ đã được chọn lọc.

Con người có cần biết những quá khứ khác không?

Để làm gì?

Chẳng để làm gì cả…” (trang 360)

“Chẳng để làm gì cả”. THUYỀN không khơi gợi lòng hận thù, cũng không kêu gọi sự hòa giải hời hợt. Nó cho con người ta hiểu sâu hơn về quá khứ để sửa chữa hiện tại và gây dựng tương lai. Vì thế, đọc THUYỀN không nên dùng quan điểm chính trị để phán xét. THUYỀN vượt cao hơn thế.

THUYỀN hướng tới sự hòa giải sâu xa – không từ lý tưởng, mà từ lòng từ bi, từ ánh sáng của đức tin vào lương tri con người. Và như thế, THUYỀN không phải là một “hiện tượng văn học”, mà là một cột mốc nhân văn – một ẩn dụ sâu sắc của sự tha thứ, hòa giải và cứu rỗi.

Và như thế, theo như nhìn nhận của tôi, nếu có một cái gì đó gọi là “bí ẩn” như lời của nhà văn Ngô Văn Giá, khiến cho THUYỀN có được sức thuyết phục và lay động lớn đối với đông đảo người đọc thì chính là ở TÂM THẾ và NHÂN CÁCH của người viết. Đau thương mất mát, độ lùi của thời gian, sự chín muồi của trí tuệ và tinh thần đã trao tặng cho Nguyễn Đức Tùng sự thông thái, khả năng dùng con chữ tái hiện một sự thật thuần khiết (see the reality as it is), đã được thanh tẩy định kiến, oán hận – cái Chân được chuyển hóa thành cái Thiện trong THUYỀN, bằng cách như vậy.

THUYỀN không cần phải “làm mình khác biệt” để tạo ấn tượng. Nó chinh phục bạn đọc bằng vẻ đẹp thuần khiết của văn chương khi không bị nhuốm các ý đồ chính trị hay thị trường, không phô trương kỹ thuật, không chiều theo độc giả – dù là phía bên này hay phía bên kia.

Một cuốn sách như vậy –  tôi nghĩ –  chỉ có thể được viết ra bởi một con người đã đi qua những mất mát tận cùng, đã vượt qua những đêm đen xuyên thấu, đã ở bên bờ vực tuyệt vọng mà chút nữa thì lao xuống, nhưng rốt cuộc đã tha thứ được cho người khác và cho chính mình.

Và người đó, đã chọn kể lại –  bằng tất cả lòng từ ái và tinh thần trách nhiệm của mình.

Hà Nội, ngày 20/6/2025

Mình định để dành đến tháng 6 để kỷ niệm 1 năm ra mắt Thuyền, nhưng mình thấy cần đăng lên vào lúc này.

 Bài đã đăng trên Văn nghệ Công an ngày 02/7/2025

This entry was posted in Nghiên cứu Phê bình and tagged . Bookmark the permalink.