Tùy luận của Trần Doãn Nho
7.
Văn học hải ngoại nhìn từ trong nước
Cũng như Văn Học Miền Nam, trong thời gian đầu, Văn Học Hải Ngoại không được cả nhà cầm quyền lẫn văn giới trong nước tiếp nhận. Thái độ này được Đỗ Minh Tuấn diễn tả như sau:
“Khi đặt bút viết bài này, trong tôi xuất hiện một cảm giác hình như mình đang bước vào lãnh địa thuộc chủ quyền của người khác. Cái mặc cảm đó là hệ quả của những kinh nghiệm văn hoá trong quá trình tiếp xúc, nhận biết và tiếp cận văn học hải ngoại của cá nhân tôi với tư cách một người viết, một độc giả trong nước. Nhưng bản thân sự hiện diện của nó đã phát lộ tình trạng bị chiếm hữu, bị dán nhãn của văn học hải ngoại. Nó tạo ra những người sở hữu khác nhau: ghẻ lạnh, hắt hủi hoặc mơn trớn, a dua. Nó cũng tạo ra những vùng cấm trong nhận thức và tiếp xúc. Hệ quả của tất cả những cái đó là, nó đã từng trở thành ốc đảo xa vời, nó tạo ra cái cảm giác ngoại đạo cho nhiều người trong nước, kể cả những người muốn quan tâm đến nó.” (Hà Nội, 7.5.1998)[34]

Hoàng Hưng – Nguyễn Huệ Chi – Nguyễn Trọng Khôi – Chân Phương – TDN (Boston, Hoa Kỳ)
Mãi cho đến năm 1994.
Người đầu tiên đề cập đến văn học hải ngoại là nhà nghiên cứu văn học Nguyễn Huệ Chi. Từ đó trở đi, số người quan tâm đến văn học hải ngoại một ngày mỗi nhiều. Dù vẫn còn có phần thiên kiến, nhưng nói chung, thái độ nghiên cứu và cái nhìn về văn học hải ngoại của giới cầm bút trong nước càng ngày càng khách quan và thực tế hơn. (Xin lưu ý: con số nằm trong ngoặc đơn sau tên tác giả trong các trích dẫn sau là để chỉ năm bài báo xuất hiện)
– Nguyễn Huệ Chi (1994): “Có một dòng văn học Việt Nam hải ngoại hay không? Câu hỏi đó đối với khá nhiều người cầm bút trong nước hôm nay chắc đã không thành một điều trăn trở nữa. Vì lẽ, dù sách báo của người xa xứ gửi về còn rất… thưa thớt, trong chúng ta, mấy ai lại không được một đôi lần ghé mắt vào một số báo Hợp Lưu, Trăm Con, Văn, Văn Học, Văn Uyển, Làng Văn, Đoàn Kết, Diễn Đàn, Thế Kỷ 21… ở đâu đó, dù chỉ một đôi lần. Và có thể nào nhìn ghé mà lầm được: trước mắt ta hiện diện trở lại bao nhiêu tên tuổi quen thuộc từ cái thuở tấp nập báo chí Sài Gòn cách đây 18 năm: Võ Phiến, Mai Thảo, Nhật Tiến, Nguyên Sa, Túy Hồng, Nhã Ca, Trùng Dương, Dương Kiền, Thế Uyên, Duy Lam, Tạ Tỵ, Duyên Anh, Du Tử Lê, Lê Tất Điều, Luân Hoán, Nguyễn Tất Nhiên, Nguyễn Mộng Giác… Bên cạnh đó là vô số tên tuổi mới mẻ ta chưa từng một lần hay nhiều lắm cũng chỉ mới hơn một lần quen biết: Võ Đình, Nguyễn Ngọc Ngạn, Trần Vũ, Trần Long Hồ, Trân Sa, Khánh Trường, Phan Tấn Hải, Khế Iêm, Nguyễn Thị Hoàng Bắc, Trần Diệu Hằng, Lê Thị Huệ, Thường Quán, Phan Thị Trọng Tuyến, Trịnh Y Thư, Nguyễn Thị Ngọc Nhung, Ngọc Khôi, Bùi Bích Hà, Vũ Quỳnh N.H., Đỗ Kh., Ngu Yên, Nguyễn Mạnh Trinh, Hoàng Mai Đạt, Nguyễn Ý Thuần, Nguyễn Thị Thanh Bình… […] Không nghi ngờ gì nữa, bên ngoài dòng chảy của nền văn học trong nước, trong 18 năm qua vẫn có những dòng chảy khác của văn chương người Việt, phát nguyên từ nhiều chân trời khác nhau. Chúng lặng lẽ và tiềm tàng, từ tốn hay mạnh mẽ, chảy xuyên qua rất nhiều xứ sở, tích lũy trong đó tiếng gào réo của thác của ghềnh, cũng như cả những tiềm năng thanh lọc rất dữ.”[35]
– Hoàng Ngọc Hiến (2001): “Đánh giá một tác phẩm văn học hải ngoại, câu hỏi đầu tiên là giá trị văn học của nó (nó có đáng là một tác phẩm văn học không?), không mấy ai đặt câu hỏi về tính chất hải ngoại của nó, hoặc đó chỉ là câu hỏi phụ. ‘Văn học Việt Nam hải ngoại trước hết là văn học’ có nghĩa là như vậy.”[36]
– Vương Trí Nhàn (2003): “Những tìm tòi trong việc mở rộng ngôn ngữ văn chương của các bạn viết đang sống nơi xa, dù thành công, dù thất bại, theo tôi, đều đáng quý. Mặt khác, theo đánh giá của tôi, khi sống ở nước ngoài, cảm hứng về tiếng Việt của một số tác giả càng nhạy bén và chính xác hơn khi họ ở trong nước. Tôi cảm thấy mình có thêm những người đồng hành gần gũi trong những quan sát và tìm tòi ngôn ngữ mỗi khi cầm bút.”[37]
– Lý Hoài Thu – Nguyễn Thu Trang (2016): “Phản ánh cuộc sống, thân phận của người Việt xa xứ là một hướng khám phá mang chiều sâu nhân bản. Đọng lại trên từng trang viết, vượt lên mọi biến cố dồn dập, vượt lên cả những bi kịch của sự vỡ mộng, khổ đau, qua những mảnh đời và những năm tháng nhọc nhằn, chúng ta cảm thấu được một tinh thần Việt trong hành trình sống, đối mặt và nếm trải những thăng trầm của đời tha hương. Đó là “kênh giao tiếp” để chúng ta hiểu sâu sắc hơn đời sống cũng như thân phận của người Việt xa xứ – một phần máu thịt của cộng đồng dân tộc. Văn học hải ngoại nói chung và tiểu thuyết với đề tài tha hương nói riêng đang ngày một xác lập vị trí không thể thiếu trong bản đồ văn chương Việt Nam đương đại.”[38]
– Thư Vũ (2021): “Văn học di dân ngày nay có thể vẫn còn gây nhiều tranh cãi liên quan đến tính địa-chính trị hay quan điểm cá nhân, nhưng không thể phủ nhận, trong những trang viết của bộ phận văn học này, bản sắc dân tộc vẫn giữ vai trò cốt yếu, đã và đang là một tiếng nói cần được lắng nghe nhiều hơn trong không gian nghiên cứu phê bình đương đại. Đó không chỉ là câu chuyện về tác phẩm nghệ thuật, mà còn là về cuộc đời, về số phận con người.”[39]
– Đỗ Thị Phương Lan (2024): “Những trang truyện ngắn đầu tiên ở hải ngoại gần như đều tập trung phản ánh và khắc họa nỗi đau rời bỏ quê hương của những người Việt di tản. Dù ra đi vì lý do gì, nỗi mất mát đớn đau nhất là lạc mất quê hương. […] Bi kịch thuyền nhân với nhiều trang truyện ngắn chân thực và xúc động về những chấn thương vượt biển đã là một trong những nội dung viết đặc thù của nhà văn di dân trong những năm đầu của văn học hải ngoại. Viết về sự kiện thuyền nhân đã khiến cho văn học hải ngoại lớn mạnh thêm về lực lượng cầm bút, sâu sắc thêm về tính nhân văn và đậm tính thời sự về nội dung phản ánh. […] Từ những sự ngẫu nhiên nhưng mang tính quy luật và lịch sử của những dòng chảy xã hội cuộc đời, truyện ngắn Việt Nam hải ngoại nói riêng và tự sự trong nước những năm cuối của thế kỷ XX và đầu thế kỷ XXI có những gặp gỡ bất ngờ và mang tính thời đại ở những cách nhìn nhận và thể hiện về nỗi đau của con người trong văn chương. Từ “chỗ đứng và trạng thái tinh thần” rất riêng của nhà văn di dân, văn học Việt Nam hải ngoại đã góp vào văn học Việt một mạch chảy rất khác biệt của một kiểu “tự sự hiện chứng”, gióng lên tiếng nói nhân bản của những trạng thái tinh thần bị chấn thương từ những bến bờ lạ… ”[40]
Trong lúc đó, một tác giả có bút danh Tao Đàn (2019) nhìn văn học hải ngoại với đôi mắt đậm mùi “tuyên giáo”:
“Nhìn chung, thuật ngữ “văn học hải ngoại” vừa không đủ sức bao gộp cả một cộng đồng văn học Việt Nam rộng lớn ở nước ngoài, lại vừa gắn với những đối tượng, thời điểm, quan điểm chính trị cụ thể. Thuật ngữ ấy chủ yếu nhằm chỉ những thế hệ nhà văn có gốc gác hoặc dính dáng đến chế độ miền Nam trước 1975, ra đi trên những tàu viễn dương, vượt biên hay dạng H.O. Đích đến và không gian sống/viết mới của họ cũng chỉ gói gọn ở (Tây) Âu và (Bắc) Mỹ. Trên thực tế, cộng đồng văn học Việt Nam ở nước ngoài rộng lớn, phong phú, phức tạp hơn rất nhiều. […] Nhìn nhận một cách công tâm, sự nghi kỵ hay rào cản đặt ra đối với “văn học hải ngoại” thời kì đầu cũng không hẳn xuất phát từ tâm lý bài ngoại, nặng nề phân biệt chính trị ở trong nước. Trong giai đoạn từ sau 1975 đến 1980, văn học hải ngoại chủ yếu được viết với tâm thức lưu vong, hằn học dân tộc, bởi chủ thể viết là những quan chức, nhà văn miền Nam đang ân hưởng bổng lộc từ chế độ cũ. Sự chống phá, bôi nhọ cách mạng, xuyên tạc đường lối xây dựng đất nước là hiện trạng đã xảy ra, chúng ta không thể phủ nhận dẫu từ quan điểm nào chăng nữa. Tuy vậy từ sau 1986 đến nay, tâm thế của lực lượng sáng tác mới ở hải ngoại đã khác trước rất nhiều, điều này cũng đòi hỏi những chính sách, quan niệm văn học khác về khu vực này từ phía các cấp quản lí và các nhà nghiên cứu văn học. Nhờ đường lối hội nhập cởi mở, hòa hợp dân tộc, Đảng và Nhà Nước đã dần thu phục nhân tâm, hóa giải đối địch cũ, lấy đại đoàn kết dân tộc làm trọng, đã làm cho hai khu vực văn học trong và ngoài nước xích lại gần nhau hơn bao giờ hết. […] Văn học Việt Nam ở nước ngoài như vậy, là một bộ phận hữu cơ không thể tách rời của văn học dân tộc Việt Nam.”[41]
Một tác giả khác, Vũ Thành Sơn (2018), thì hơi… mập mờ chữ nghĩa:
“Cũng như có người đã chỉ ra một cách chí lý Việt kiều là khái niệm chỉ một đối tượng không có thực, khi trong thực tế chỉ có người Mỹ, người Úc, người Pháp,… gốc Việt chứ không hề tồn tại cái gọi là Việt kiều. Việt kiều là một khái niệm đã bị chính trị hóa. Văn học hải ngoại cũng không khác: chỉ có tác giả hải ngoại, chứ không hề có văn học hải ngoại. Duy trì danh xưng văn học hải ngoại là một hành động có màu sắc chính trị, để rồi sau đó tiến hành cái gọi là hòa hợp, hòa giải văn học, lại là một hành động chính trị khác. Hãy trả lại cho văn học những gì thuộc về văn học.”[42]
Tương đối khách quan nhất là bài viết của một học giả người Nga, Anatoly Sokolov (2010), nhà nghiên cứu về văn học Việt Nam thuộc Viện Hàn Lâm Khoa Học Nga. Đây là một trích đoạn:
“Hơn nữa, chúng tôi nhận thấy rằng sách báo của nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa thì có thể dễ dàng tìm thấy trong các thư viện và hiệu sách (chủ yếu của Việt kiều) ở Mỹ, còn tác phẩm của các tác giả người Việt ở hải ngoại thì rất hãn hữu được xuất bản ở Việt Nam, và nguyên nhân chủ yếu của tình trạng này trước hết là nguyên nhân ý thức hệ. […] Nhà thơ Ba Lan nổi tiếng Milos Forman, giải thưởng Nobel, nhiều năm sống lưu vong ở Mỹ và cuối đời đã trở về Tổ quốc, từng nói về số phận của nhà văn lưu vong: “Chúng ta không nghe thấy tiếng nói của nhà văn lưu vong, đó chỉ là một động tác mà thôi”, tức là nhà văn đó và tác phẩm của anh ta trên thực tiễn không đến được với độc giả của mình ở trong nước. Song vào những năm gần đây tình hình trên thế giới đã thay đổi: đã xuất hiện Internet vốn vượt qua những khoảng cách khổng lồ và những biên giới quốc gia. Hiện nay tồn tại không ít kiểu xuất bản Internet, qua đó văn học Việt Nam ở hải ngoại đã tới được Việt Nam. Tất nhiên nó không thể thay thế được kiểu xuất bản in ấn; ngoài ra, ở Việt Nam còn có sự kiểm duyệt khắt khe và sự giám sát của nhà nước đối với Internet vốn có thể cung cấp thông tin và sự tiếp cận với các tác phẩm văn học.”[43]
Nhận xét này từ 2010, có lẽ vẫn còn đúng cho đến bây giờ.
8.
Vài nét riêng của văn học hải ngoại
Do hoàn cảnh phát sinh, văn học hải ngoại khác với văn học trong nước, khác với văn học miền Nam trước đây. Ngoài những yếu tố đã đề cập đây đó ở các phần trước, tôi xin nêu lên, hay đúng hơn, nhấn mạnh một vài nét riêng khác của văn học hải ngoại. Ngồ ngộ, là lạ, vui vui…
Tự phát
Họ thoát ra khỏi đất nước, vội vã, tất tả, hoảng loạn, trôi dạt vô hướng, để bắt đầu lại từ con số “không”. Trong tình huống đó, im lặng chịu đựng và chấp nhận hoàn cảnh là điều duy nhất; thảng hoặc nếu có ai cầm bút viết lên một cái gì đó, thì chỉ là tiếng kêu than tuyệt vọng cá nhân, mỗi người một kiểu, một cách. Đó là những phản ứng nhân sinh tự nhiên, tự phát từ thân phận lạc loài của những người, thoắt cái, bỗng nhiên trở thành con sâu cái kiến lạc loài vô xứ. Cho đến một lúc, khi những tiếng kêu đơn lẻ, rời rạc đó kéo dài, gắn kết với nhau, nương tựa nhau, biến thành một tiếng kêu tập thể. Ngôn ngữ, vốn chỉ sử dụng để chỉ sự vật như chính nó, đột nhiên phơi mở ra, mang theo với nó ký ức, xúc cảm, tưởng tượng… trở thành một nỗi đau chung. Đó là lúc văn chương bắt đầu. Thứ sản phẩm ngôn ngữ mới mẻ này, rõ là, không xuất phát từ khoảng không. Nó ươm mầm từ trong những cảm nghiệm riêng tư, khát khao được chia sẻ với người đồng cảnh. Văn chương, như thế, không hiện ra ngay như một toàn thể hoàn chỉnh. Mà sự gặp gỡ của những riêng lẻ, lạc lõng này với những riêng lẻ, lạc lõng khác, tự cộng hưởng, gắn kết thành một thực thể. Chẳng khác gì những câu hò câu hát vu vơ trên ruộng đồng hợp thành văn chương bình dân, những tiếng kêu tự phát trong sự đụng độ tàn nhẫn với cuộc sống kết hợp lại thành văn học hải ngoại.
Chẳng thế mà, Lê Thị Huệ nói thẳng, không một chút ấp a ấp úng:
“Thế giới chữ nghĩa nghệ thuật Hải Ngoại là một thứ sinh hoạt vô tổ chức. Không có chính phủ nào ra lệnh phải sáng tác theo chỉ đạo nào. Không có nền chính tả học đường nào kiểm soát những điều chúng tôi viết. Ai muốn viết gì thì viết. Ai muốn xuất bản gì thì xuất bản. Ai muốn phê bình gì thì phê bình. Một thế giới cực kỳ vô tổ chức vô địa lý vô quốc gia. Thế nhưng cũng từ đó chúng tôi tự kỷ luật (self-discipline).”[44]
Một phát biểu chắc nịch, lạ tai, tưởng như “quá đáng”, nhưng hoàn toàn chính xác.
Tự phát, cũng có nghĩa là tự do.
Các sáng tác, dưới dạng này hay dạng khác, bình dân hay cao cấp, có tay nghề hay chỉ mới tập tễnh, đều là sản phẩm của “bắt đắc kỳ bình, tắc minh” (Hàn Dũ) – những tiếng kêu bất bình.[45]
Nói như Hoàng Hưng, trước sau, văn học hải ngoại là nền văn học “không có ai lãnh đạo và không chịu sự lãnh đạo của ai.”[46]
Tự túc
Hải ngoại, nơi tiếng Việt chỉ như một ngôn ngữ ký sinh, không ai có thể kiếm sống bằng nghề viết lách. Một là, số lượng độc giả văn chương quá giới hạn, đã ít ỏi lại phân tán khắp nơi trên thế giới; hai là, ai cũng có thể kiếm sống một cách dễ dàng bằng cách đi làm ở các hãng xưởng; ba là, nhu cầu hội nhập lớn hơn nhu cầu bảo tồn. Nếu còn ở lại Việt Nam, nhiều nhà văn (nổi tiếng ở hải ngoại hiện nay) rất có thể chẳng bao giờ nghĩ đến chuyện viết lách. Đơn giản là vì họ sống trong môi trường của mình, chan hòa tiếng mẹ đẻ, chẳng cần phải sử dụng nó để trải lòng. Ra hải ngoại, tiếng Việt trở thành ngôn ngữ bên lề, có nguy cơ biến mất, và chính điều đó, lạ thay, lại kích thích một nhu cầu bức thiết: tìm lại quê hương qua hơi hám chữ nghĩa. Viết là sống lại một cuộc sống thân quen đã bị đánh cắp. Viết cũng là một cách đối phó với những xa lạ bị áp đặt. Phổ biến chúng với đồng hương là một cách sưởi ấm nhau bằng ký ức, tiếng nói, hơi văn và vần điệu.
Mô tả hình ảnh một người bạn văn mê viết, Nguyễn Hưng Quốc kể:
“Bạn tôi, Hoàng Ngọc-Tuấn… . Anh dạy nhạc. Anh viết trong các giờ giải lao. Nhiều lúc, lúc đám học trò ngồi tập đánh đàn, anh lôi laptop ra viết hay dịch cái gì đó. Thỉnh thoảng dừng lại, dặn dò học trò một lát, rồi lại viết hay dịch tiếp. Vậy mà anh cũng viết và dịch được cả khối truyện và thơ. Tối, sau khi vợ con đi ngủ hết, anh lại ngồi vào bàn làm việc đến 2,3 giờ sáng. Nếu không viết thì dịch; nếu không dịch thì đọc và chọn bài để đưa lên tờ báo mạng Tiền Vệ. Anh em, bạn bè của anh không ai ngạc nhiên khi nhận được email anh gửi lúc 2, 3 giờ sáng cả. Có khi còn muộn hơn nữa. Tối nào cũng thế. Cũng thức. Cũng, trong khuya khoắt, một mình lui cui với chữ nghĩa. Anh gọi đó là hobby. Nhưng nhiều người thì gọi đó là một cuộc hành xác.”[47]
Các sáng tác, ở miền Nam trước đây, khi viết xong, muốn được đăng báo hay phát hành sách đòi hỏi một số điều kiện: thông qua sự xét duyệt của báo hay của nhà xuất bản, rồi qua kiểm duyệt của nhà nước và cuối cùng, qua sức mua của thị trường. Sáng tác ở trong nước hiện nay có lẽ cũng như thế.
Ở hải ngoại, tình hình hoàn toàn khác. Chỉ trừ một số tạp chí (giấy hoặc mạng) được ban biên tập biên soạn (edit) cẩn thận (như Da Màu), còn thì hầu hết, tác giả nào cũng phải tự mình “lo liệu” từ đầu đến cuối. Tự viết, tự phát hành trên trang mạng (hay Facebook) của mình hay tự bỏ tiền ra in ấn, rồi gửi đi… biếu bạn bè và độc giả, đôi khi chẳng phải thông qua việc biên soạn của bất cứ ai và qua thủ tục kiểm duyệt (của cơ quan hữu trách). Tóm lại, sản phẩm văn chương đi trực tiếp từ tác giả đến độc giả, không qua một trung gian nào, kể cả thị trường. Đối với tác giả, tác phẩm tự nó, đã là một lợi nhuận; sự hiện diện của nó, đã là một đền đáp.[48]
Có điều, ưu điểm lại cũng là nhược điểm: sự xuất hiện vô tội vạ của những “tác phẩm” làng nhàng, viết lấy được, viết cho có. Hậu quả là: thị trường chữ nghĩa bị lạm phát với sự xuất hiện của vô số thơ, văn, biên khảo, hồi ký, bút ký… dễ dãi, thiếu hẳn những tiêu chuẩn văn chương tối thiểu. Nói như Võ Phiến, “sau 1975, họ vùng lên múa bút, chẳng bao lâu nổi đình nổi đám ngay […] sau 1975, anh hoa phát tiết tưng bừng, họ hóa ra nhà văn, nhà thơ… ”[49]
Dẫu vậy, thà được tự do… múa bút, còn hơn là bị những cấm kỵ khắt khe dưới chế độ toàn trị. Miệng không bị bịt, nên tay viết, tay gõ không run. Nhất là đối với những tác phẩm nặng về chính kiến. Tất nhiên, không tránh khỏi vài trường hợp ngoại lệ. Về điểm này, dẫn chứng sự kiện tạp chí Hợp Lưu (ở Hoa Kỳ) hay tạp chí Trăm Con (vụ động đất Montréal tháng 7/1992) bị tẩy chay, nhà nghiên cứu Nguyễn Huệ Chi nhận xét: “Ai cũng biết rằng ở những xứ sở vốn đã quen với truyền thống dân chủ, tự do thì sự cấm kỵ có ít hơn, nhưng phải đâu như thế là người cầm bút ở đây muốn viết gì thì viết. Sự cấm kỵ trên lãnh vực tinh thần nhiều khi lại bắt nguồn từ những điều có vẻ như vô hình, không dễ mà nhìn thấy: các thiên kiến cố chấp đã thành thói quen, tâm lý mặc cảm của một nhóm cộng đồng nào đấy chưa gỡ bỏ đi được, hoặc cách ứng xử theo nếp bảo thủ cổ truyền giữa người cùng giới với nhau… ”[50]
Nhận xét hoàn toàn chí lý. Chỉ có một điểm khác: “phạm húy” ở hải ngoại chỉ đưa đến tẩy chay là biện pháp duy nhất, chứ không đẩy tác giả phải chịu oan khuất hay tù đày hàng nhiều năm trời như những cây bút của Nhân Văn Giai Phẩm, của Văn Học Miền Nam sau 1975 hay của xu hướng bất đồng chính kiến hiện nay trong nước.
Tự biên tự diễn
“Văn học hải ngoại”, một nhóm chữ mới thoạt nghe, có vẻ như để chỉ một hệ thống, một hoạt động có tổ chức, có tài trợ, có đường lối chỉ đạo. Thực ra, nó hoàn toàn là kết hợp ngẫu nhiên của những nỗ lực cá nhân rời rạc, lẻ tẻ và thậm chí, tùy hứng. Không hội nhà văn, không trường viết văn, không ngân sách tài trợ, không nhuận bút, đã thế, không hề được khuyến khích hay ca ngợi, mà còn bị chỉ trích hay tẩy chay, khi lỡ phạm sai lầm. Làm văn chương, lắm khi, là nghiệp chướng!
Văn chương hải ngoại không những “rẻ như” mà còn “rẻ hơn” cả bèo (của Tản Đà). Nói cho đúng, vô giá. Còn nhớ, khi mới ra hải ngoại, lần đầu tiên tôi có một truyện ngắn đăng trên tạp chí Văn Học. Chờ lâu không thấy động tịnh gì, tôi gửi thư cho chủ bút Nguyễn Mộng Giác, nhắc xa nhắc gần về chuyện nhuận bút. Anh gửi ngay cho tôi một cái “Money Order” (Phiếu chuyển tiền)[51] 30 dollars, nói là để tôi mua tem dùng khi gửi bài đến tòa soạn. Đã từng nhiều lần nhận được tiền nhuận bút thời trước 1975, nên vui thì vui, nhưng vẫn cảm thấy hụt hẫng vì cách trả tiền không mấy bình thường này. Sao lại tiền mua tem mà không phải tiền “nhuận bút” (潤筆 = tiền trả cho ngòi bút)! Mãi cho đến khi gặp nhau, tôi mới hay, người chủ bút đã gói ghém trong thư một nhắn nhủ tế nhị: văn chương hải ngoại không – thậm chỉ chẳng liên quan gì đến – nhuận bút. Làm (một tạp chí) văn chương không phải là kinh doanh, mà là thực hiện một nghĩa vụ: bỏ công sức và tiền túi ra để nuôi nấng nó.
Nhóm thực hiện “sốhóa” tạp chí Văn Học (hải ngoại) viết trong “Lời ngỏ”:
“Trong bài “Lời Giã Biệt” tạp chí “Văn Học Nghệ Thuật” số13, Võ Phiến, người chủ trương, đã cho biết rằng báo đình bản “không phải vì sự sống của tờ báo mà sự sống của người làm báo.” Thật vậy, độc giả không thiếu, văn hữu gửi khá nhiều bài về tòa soạn. Nhưng mà chính thì giờ dành cho báo thì người làm báo lại không có. Dạo ấy, chưa có máy vi tính, bài vở bạn văn gửi đến phải được đánh máy lại, phải được bỏ dấu, xong còn đem đi in, chứ không phải “bấm một cái là xong” như ngày nay. Chưa nói chi đến việc phát hành bằng cách đem báo đi “bỏ” tại các hiệu tạp hóa ở những khu đông người Việt, không khác chi bỏ mối chả giò, gỏi cuốn vậy! Báo chí chưa có được một chỗ đứng, một kệ riêng. Chúng ngồi chung với bánh phở khô, với mì gói! Trong khi đó thì người làm báo ngày ngày vẫn phải đi làm nuôi thân, nuôi gia đình. Báo mới ra, tiền đâu mà thuê người này làm việc kia, mướn kẻ này lo việc nọ.”[52]
Trừ một số tạp chí có tính cách tổng hợp văn hóa, chính trị, kinh tế, văn học và nhiều mục linh tinh khác hấp dẫn độc giả, do đó, thường đỡ nhọc nhằn cả về tài chánh cũng như bài vở, mấy tạp chí “thuần túy” văn học như Văn Học, Hợp Lưu, Văn thuộc loại “giật gấu vá vai”, ăn chưa xong bữa hôm đã phải lo bữa mai. “Nguồn tài trợ”, hay nói cho đúng, tiền làm báo là tiền cắt xén từ đồng lương công nhân ba cọc ba đồng của người chủ trương, với sự hỗ trợ của chính những người cộng tác và chừng vài trăm độc giả mua báo dài hạn.
Đây là hình ảnh của Mai Thảo, chủ biên tạp chí Văn, qua vài nét phác họa của Ngô Thế Vinh:
“Khó có thể tưởng tượng cảnh sống đạm bạc của nhà văn Mai Thảo trên đất nước Mỹ. Chỉ là một căn phòng 209 rất nhỏ trên lầu 2 của một chung cư dành cho người cao niên ngay phía sau hẻm nhà hàng Song Long. Chỉ có một bàn viết, chiếc giường đơn với nơi đầu giường là một chân đèn chụp rạn nứt và dưới gậm giường mấy chai rượu mạnh; trên vách là mấy tấm hình Mai Thảo; đặc biệt là tấm ảnh phóng lớn có lẽ chụp trước 1975, Mai Thảo cao gầy ngồi trên bậc thềm nhà cùng với nhà thơ Vũ Hoàng Chương mảnh mai trong áo dài the, phía dưới là một kệ sách. […] Căn phòng nhỏ hẹp ngày nóng đêm lạnh ấy là không gian sống và cũng là toà soạn báo Văn của Mai Thảo. Mỗi lần tới thăm anh, tôi vẫn để ý tới chiếc bàn viết lữ thứ của Mai Thảo kê sát khung cửa sổ thấp nhìn thoáng ra bên ngoài. Rồi tới kệ sách, không có nhiều sách Mai Thảo, chỉ có ít cuốn sách tiếng Pháp, mấy số báo Văn, đôi ba cuốn sách mới bạn văn gửi tặng anh.”[53]
Trần Vũ mô tả một cách sống động hoạt cảnh “chạy tiền” của Khánh Trường, chủ bút tạp chí Hợp Lưu:
“Ai đã làm báo hiểu rõ khó khăn kinh khủng nhất vẫn là khó khăn tài chánh. Bao nhiêu tờ báo Việt ngữ đã sập tiệm. […] Sự sống sót của Hợp Lưu liên tục suốt 12 năm qua, đều đặn gởi đến tay bạn đọc bao nhiêu số chủ đề, bao nhiêu biên khảo, phỏng vấn và sáng tác thơ, văn, kịch chính là sự thành công riêng của Khánh Trường và sự sống sót tinh thần của chính cá nhân anh.
Ðể hiểu khó khăn tiền bạc của chủ biên Hợp Lưu túng thiếu nhường nào, tôi có một kỷ niệm đẹp về tình bạn giữa Mai Thảo và Khánh Trường. Mùa đông năm 96, tôi hay thích đến căn lầu xép trai phòng của Mai Thảo. […] Buổi trưa sâu thẳm yên tĩnh trong con hẻm Song Long, tôi vừa bị Mai Thảo lừa cho uống cognac có ngâm cu con hải cẩu thối hoắc, thứ rượu thuốc Nguyễn Xuân Quang – tác giả Người Căm Thù Ruồi – tặng ông uống chống lạnh, thì Khánh Trường ập vào, giọng anh hối hả:
– Anh có tiền cho em mượn, Hợp Lưu in xong rồi mà em chưa có tiền lấy.
– Bao nhiêu? Nhiều thì không có, ít thì có thể.
Mai Thảo điềm nhiên lắc lắc ly rượu vàng lóng lánh. Màu vàng của buổi trưa loang đến cườm tay ông đọng lại thành vệt lỏng. Giá Khánh Trường có thể ngồi xuống uống rượu thưởng thức sự im lặng của trưa không có những phiền hà nợ nần của đời sống. Ðâu ai biết gồng Hợp Lưu thường đắng như con hải cẩu chết tiệt.
– Một ngàn đô, anh.
– Hà hà… tưởng bao nhiêu, một ngàn thì nhà băng lớn nhất nước Mỹ này cho vay.
Mai Thảo, người thầy tinh thần của Hợp Lưu, bạn nhậu của tôi với anh, lặng lẽ lục tìm ví đưa tiền cho Khánh Trường mang ra nhà in ông Ðào Văn Ngoạn lấy báo.
– Vẽ được mấy cái bìa sách em sẽ gởi trả anh.
– Không hứa, không hẹn gì cả, có tiền thì trả thế thôi!
[…]
Mấy ngày sau, rời quán Song Long sau điểm tâm với Hoàng Khởi Phong, Cao Xuân Huy, Du Tử Lê, tôi và người bạn làm báo văn học liên mạng trên internet Phạm Chi Lan đến chơi với Khánh Trường. Tôi với Phạm Chi Lan không giúp gì được anh trong công tác tòa soạn, nhưng vẫn thích ngồi quanh quẩn xem anh làm việc. Chúng tôi ngỡ ngàng nhìn 1500 cuốn Hợp Lưu chất đầy mặt đất.
– Sao anh chưa gởi bưu điện, trễ hạn rồi mà? Lan hỏi.
– Ờ hớ, để anh vẽ xong mấy cái bìa băng, bìa sách có tiền rồi gởi.
Khánh Trường thản nhiên, không có vẻ gì cấp bách, nhưng tôi biết, đã 6 tây là trễ một tuần. Và từ hôm vay tiền bác Thảo cũng gần cả tuần, có nghĩa anh chưa có tiền. Phạm Chi Lan với tôi đi lạc quyên các anh chị Lê Thứ, Lê Bi, Nguyễn Hương, nhà xuất bản Hồng Lĩnh, và Trương Vũ từ miền Ðông qua chơi, cuối cùng được vài trăm phụ với anh tiền cước phí bưu điện. Những ai còn thắc mắc nguồn tài trợ Hợp Lưu thì thực tế là như vậy. Và thực tế tài chánh này triền miên dằng dặc từ số đầu cho đến nay. Hai tháng một số báo qua thoăn thoắt, 66 số Hợp Lưu của 12 năm là 66 lần họa sĩ Khánh Trường xoay tiền chóng mặt.”[54]
Riêng tôi, gần cả chục năm cộng tác với tạp chí Văn Học, tôi chứng kiến khá đầy đủ cái cảnh làm việc đơn thân độc mã của chủ bút Nguyễn Mộng Giác. Ngoài việc chuyên chỉ đi “cày” ca hai tại một công ty điện thoại để nuôi sống gia đình, anh dành tất cả thì giờ còn lại cho Văn Học. Để cho báo được phát hành và đến tay người nhận một cách đều đặn, anh bao sân đủ thứ việc không có tên gọi: gửi email vòng vòng “xin” bài của các tác giả, đánh máy bài (của một số tác giả chưa/không biết sử dụng máy vi tính), tự dàn trang, mang đi thuê in; báo in ra, lại huy động vợ con (và bạn bè) đi chở báo, ngồi xúm nhau đóng gói, đi bưu điện gửi báo, rồi đi thu tiền bán báo ở một vài tiệm sách (chỉ đếm được trên đầu ngón tay)… Không bị con “ma” văn chương “ám”, không thể nào duy trì tờ Văn Học trong gần hai thập niên như thế.

Nguyễn Mộng Giác – TDN (phỏng vấn) (Little Saigon)
Ngôi nhà Nguyễn Mộng Giác ở Quận Cam, cách khu thị tứ Phước Lộc Thọ chỉ năm bảy phút lái xe, là nơi đón tiếp nhiều bạn văn từ khắp nơi, kể cả một số thuộc giới viết lách ở trong nước, ghé thăm. Để trả lời cho một nhà văn Hà Nội muốn đi “tham quan” tòa soạn của tờ báo hải ngoại Văn Học (“nghe nói” được tư bản Mỹ tài trợ) bề thế đến mức nào, chủ bút Nguyễn Mộng Giác chỉ cái máy vi tính nằm ở góc nhà, xong chỉ vào người mình, rồi dắt khách ra nhà để xe, chỉ hàng ngàn cuốn “Văn Học” còn chất đống ở đó, bảo: “Thưa anh, tòa soạn báo Văn Học chỉ gồm có mấy thứ: nó và tôi và… kho chứa, báo cũ cứ chất lên mãi, chưa biết sẽ xử trí thế nào.”
Thực là, chạy tiền (làm) từng tờ báo… toát mồ hôi!
Làm tạp chí đã thế, mà làm xuất bản cũng chẳng khác gì.
Hải ngoại có “khá nhiều” nhà xuất bản. Nào là Lá Bối, nào là Tân Thư, nào là Việt Thường, nào là Thanh Văn, nào là Văn Học, Văn Nghệ, Tiếng Quê Hương, Diễn Đàn Thế Kỷ, Nhân Ảnh… và vô số tên nhà xuất bản khác (hoàn toàn xa lạ) in trên các cuốn sách. Chả là vì, nhà xuất bản cũng chính là… tác giả! Trừ một vài nhà xuất bản là… “nhà xuất bản” thực vì dựa vào một công ty hay một cơ sở báo chí tương đối bề thế, lâu năm như “Người Việt Books” (công ty Người Việt) hay ké vào công việc chính là một cơ sở in ấn như “Văn Mới” (Nguyễn Khoa Kha), còn hầu như tất cả những nhà xuất bản đều được điều hành bởi một người… yêu sách/yêu văn chương: nxb Tân Thư là Khánh Trường, nxb Văn Học là Nguyễn Mộng Giác, nxb Văn Nghệ là thầy Từ Mẫn (Nguyễn Thắng Tiết), nxb Diễn Đàn Thế Kỷ là Phạm Phú Minh, nxb Nhân Ảnh là Lê Hân, nxb Thanh Văn là Châu Văn Thọ, nxb Tiếng Quê Hương là Uyên Thao… Vân vân và vân vân.
Tự… vong thân
Chấn động văn hóa biến người di dân luôn luôn sống trong tình trạng bất ổn của môi trường lai ghép, pha trộn, xô lệch, bất ổn. Đối với thế hệ thứ nhất, đó là nỗi khổ hội nhập, đồng thời cũng là xung đột giữa những gì đã có (hoài niệm) và những gì đang có (hiện thực); tranh chấp giữa ký ức như một thực thể thân quen (nhưng) đã bị thất lạc và khát vọng hội nhập như một hiện thực xa lạ (nhưng) cấp thiết. Ký ức là một cái gì vỡ vụn, chập chờn nhưng bướng bỉnh; hiện thực trước mắt thì cụ thể, nhưng nhạt nhẽo, vô hồn và tạm bợ. Đối với thế hệ một rưởi hay thế hệ thứ hai, đó là hai xung đột văn hóa diễn ra cùng một lúc: một, giữa mình và thế hệ đi trước; hai, giữa mình và chính mình.
Thể hiện trong văn chương, đó là một thách đố. Về đạo lý, giữa “vọng nội” và “vọng ngoại”, giữa truyền thống và lai-căng. Về chính trị, giữa trung thành và phản bội; giữa chối bỏ và níu kéo. Về ngôn ngữ, giữa giữ gìn và phá bỏ. Hội nhập thành công vào xứ người là xé bỏ lai lịch. Giữ gìn thành công ngôn ngữ và truyền thống của mình là ly khai với hiện thực. Cách này hay cách kia đều đưa đến tình trạng “vong thân” (alienation), tự đánh mất mình. Viết trong thân phận di dân, nhất là di dân tị nạn, là một vong thân kép, tự đánh mất mình hai lần. Nhà văn vừa xa lạ đối với chỗ mình đang ở (đất tạm dung) lại vừa xa lạ nơi mình muốn (nói) về. Cả hai, xứ người và quê hương, đều xa lạ. Không có chỗ nào là “nhà” thực sự. Và đều bị/được cả hai cư xử như “người khác”. Hắn không thuộc về nơi nào cả. Căn cước bản thân của hắn, rốt cuộc, là một tách rời, ly khai.
Viết với hắn, do đó, luôn luôn là một đong đưa, chập chờn, nghiêng ngả. Ca tụng nơi đang tạm cư là mất gốc; khát khao muốn trở về nơi chốn cũ là phụ bạc. Cảm thấy ngập ngừng khi viết, cảm thấy hụt hẫng khi đọc lại. Ấy thế mà vẫn cứ muốn viết, viết hoài. Với hắn, trạng thái vong thân, vô hình trung, trở thành một kích thích để được hiện hữu như một cá thể, phải chăng?!
9.
Thành tựu
Thế mà ta vẫn có thể nói đến thành tựu.
Tại sao không?!
Vào đầu năm 2007 (1/2007), một cuộc hội thảo về “Văn Học Hải Ngoại: Thành tựu và tiềm năng” được tổ chức tại hội trường nhật báo Việt Báo, do bốn tạp chí Văn Học, Văn, Hợp Lưu, Thế Kỷ 21 cùng với tạp chí mạng Da Màu và Hội Văn Học Nghệ Thuật Việt-Mỹ (VAALA) bảo trợ, với sự tham dự của gần 100 nhà văn, nhà thơ, nhà biên khảo đến từ nhiều nơi trên thế giới. Hoặc trực tiếp phát biểu và góp ý cũng như tranh cãi trong cuộc hội thảo như: Võ Phiến, Nguyễn Hưng Quốc, Bùi Vĩnh Phúc, Đặng Thơ Thơ, Nguyễn Xuân Hoàng, Nguyễn Mộng Giác, Hoàng Ngọc-Tuấn, Nguyễn Hương, Đặng Hiền, Nguyễn Xuân Nghĩa, Cao Xuân Huy, Nguyễn Chí Thiện, Nguyễn Thị Thanh Bình, Lê Quỳnh Mai, Trần Hữu Thục, Phùng Nguyễn… ; hoặc gửi bài đến tham gia như: Trần Vũ, Đỗ Quyên, Trần Mộng Tú. Mỗi người một ý, bi quan có, lạc quan có, nhưng nói chung, tất cả mọi diễn giả đều thừa nhận, văn học hải ngoại là một đóng góp tích cực đối với nền văn học Việt Nam.

Hình bìa tạp chí “Thế Kỷ 21”số 215 (3/2007). Số đặc biệt: tường thuật cuộc hội thảo Văn Học Hải Ngoại
Trong lời “Đề dẫn”, Nguyễn Hưng Quốc đến từ Úc, chỉ ra rằng, văn học hải ngoại có những thành tựu đáng ghi nhận so với trong nước (vào thời điểm 2007). Hải ngoại có những tạp chí chuyên về văn học với tuổi thọ khá cao như Văn hay Văn Học; lại có tạp chí hoàn toàn chuyên về thơ như Tạp chí Thơ; có những website văn học thuần túy: Tiền Vệ, Gió O, Da Màu, Tạp chí thơ, Tân Hình Thức… Về phương diện thể loại, hải ngoại có: “trường thiên tiểu thuyết”, có “truyện thật/cực ngắn”, có “hồi ký”. Anh khẳng định, “Về phương diện mỹ học, phong cách sáng tác, kỹ thuật, ở đâu có sáng tác “hiện thực thần kỳ” (magical realism) được thử nghiệm đầu tiên? Ở hải ngoại. Ở đâu tư tưởng nữ quyền được đề cao một cách quyết liệt và với sự tự giác cao nhất? Ở hải ngoại! Ở đâu cái riêng tư, kể cả trong đời sống tình dục, của con người được khám phá nhiều nhất? Ở hải ngoại! Ở đâu chủ nghĩa hậu hiện đại được quảng bá sớm và với nhiều nhiệt tình nhất? Cũng ở hải ngoại!”[55]
Hoàng Hưng, nhà thơ ở trong nước, thừa nhận: “Thậm chí có phong trào văn học hải ngoại đã lan truyền vào trong nước, như trường hợp thơ “Tân hình thức” do nhà thơ Khế Iêm khởi xướng. Đặc biệt là từ khi xuất hiện những tờ báo mạng “Talawas” ở Đức, “Tiền Vệ” ở Australia và “Da Màu” ở Mỹ, thì ảnh hưởng của văn học hải ngoại đến các tác giả trong nước, nhất là những cây viết trẻ, rất mạnh mẽ. Đã xuất hiện một bộ phận người viết chọn công bố tác phẩm của họ trên những tờ báo mạng ấy thay vì chịu tự kiểm duyệt để được xuất hiện trên sách báo chính thống trong nước.”[56]
Hiện diện là thành tựu
Phát biểu trong dịp hội thảo này, tôi cho rằng thành tựu lớn nhất của văn học hải ngoại là sự hiện diện của nó. Hay nói một cách khác, chính sự hiện diện đã là một thành tựu. Nhờ nó, những người thua cuộc và cộng đồng lưu vong có tiếng nói. Những đau khổ, lưu lạc được ghi lại. Một Việt Nam khác đuợc tồn tại và đi vào lịch sử, khỏi bị bên thắng cuộc triệt tiêu và xóa bỏ. Nhờ nó, những dòng văn chương cũ được giữ gìn, được phục hồi, không những thế, được nối dài và mở rộng. Chính vì thế, một mặt, văn học hải ngoại có vẻ như tách khỏi quê hương hay (bị lên án) chống lại quê hương, nhưng mặt khác, về lâu về dài, nó lại là cầu nối giữa hải ngoại và quê hương. Đó là hành trình “trở về”.
Mời đọc lại vài dòng nhận xét (đã trích dẫn ở phần trên) của mấy tác giả trong nước:
Vương Trí Nhàn: “… khi sống ở nước ngoài, cảm hứng về tiếng Việt của một số tác giả càng nhạy bén và chính xác hơn khi họ ở trong nước. Tôi cảm thấy mình có thêm những người đồng hành gần gũi trong những quan sát và tìm tòi ngôn ngữ mỗi khi cầm bút.”
Lý Hoài Thu – Nguyễn Thu Trang: “Đọng lại trên từng trang viết, vượt lên mọi biến cố dồn dập, vượt lên cả những bi kịch của sự vỡ mộng, khổ đau, qua những mảnh đời và những năm tháng nhọc nhằn, chúng ta cảm thấu được một tinh thần Việt trong hành trình sống, đối mặt và nếm trải những thăng trầm của đời tha hương. Đó là “kênh giao tiếp” để chúng ta hiểu sâu sắc hơn đời sống cũng như thân phận của người Việt xa xứ – một phần máu thịt của cộng đồng dân tộc.”
Đỗ Thị Phương Lan: “Bi kịch thuyền nhân với nhiều trang truyện ngắn chân thực và xúc động về những chấn thương vượt biển đã là một trong những nội dung viết đặc thù của nhà văn di dân trong những năm đầu của văn học hải ngoại. Viết về sự kiện thuyền nhân đã khiến cho văn học hải ngoại lớn mạnh thêm về lực lượng cầm bút, sâu sắc thêm về tính nhân văn và đậm tính thời sự về nội dung phản ánh.”[57]
Những ý kiến như thế nghe cũng… ấm (nức) lòng (người) hải ngoại.
Ngoài ra, sự hiện diện của văn học hải ngoại (tiếng Việt và tiếng Anh, tiếng Pháp) còn là một hành trình “hướng tới”: cách tân hình thức, đa dạng hóa và toàn cầu hóa văn chương và văn hóa Việt Nam. Nó giúp xóa bỏ biên giới quốc gia, mở rộng tầm nhìn, đưa đến giao lưu quốc tế, một bước nhảy vọt từ truyền thống đến hiện đại. Những Nguyễn Thanh Việt, Ocean Vương, Nam Lê… là bằng chứng sống động.
Tái bản tác phẩm cũ
Trong lúc nhà nước cộng sản phát động phong trào quy mô nhằm tịch thu, đốt sách và bắt giam văn nghệ sĩ (kiểu “phần thư khanh nho” thời nhà Tần bên Tàu) sau tháng 4/1975, thì ở hải ngoại, một số người yêu văn chương tìm cách tái bản những tác phẩm của nền Văn Học Miền Nam. Nhưng do hạn chế nhiều mặt (thiếu tài liệu và phương tiện in ấn), nên công việc này gặp rất nhiều trở ngại. Trong số những người kiên trì tìm cách phục hồi lại di sản của nền văn học đã mất, có nhà văn Trần Hoài Thư (1942-2024). Anh thực hiện dự tính của mình bằng cách kiên trì lục tìm sách, báo cũ miền Nam trong các thư viện Mỹ, tự xuất bản chúng qua nhà xuất bản Thư Ấn Quán và/hoặc đăng tải trên tạp chí Thư Quán Bản Thảo do anh thành lập.[58] Kết quả là một số sách báo cũ đã được tái bản ở Mỹ. Xin ghi lại một số dữ liệu sau đây:
– Các bộ sách (sưu tầm và chọn lọc): Văn miền Nam (4 tập, tổng cọng 2200 trang), Thơ miền Nam (5 tập, tổng cọng khoảng 3000 trang) gồm: Thơ miền Nam thời chiến (tập I &II), Thơ tình miền Nam, Lục bát miền Nam, Thơ tự do miền Nam.
– Tái bản tác phẩm (thơ, văn, biên khảo, dịch thuật) của một số nhà văn, nhà thơ miền Nam (trước 1975): Dương Nghiễm Mậu, Nguyễn Thị Thanh Sâm, Bùi Đăng, Hạc Thành Hoa, Hoài Khanh, Hoàng Ngọc Hiển, Hoa Vân, Hoàng Hương Trang, Lê Văn Thiện (Văn Lệ Thiên), Lê Văn Trung, Lữ Kiều, Mang Viên Long, Nguyễn Bắc Sơn, Nguyên Minh, Nguyễn Lệ Uyên, Phạm Ngọc Lư, Phan Nhự Thức, Trần Phù Thế, Từ Thế Mộng, Vũ Hữu Định, Phạm Ngọc Lư, Viêm Tịnh, Phùng Thăng.
Ngoài sách, Trần Hoài Thư còn sưu tập được khá nhiều tạp chí văn học nghệ thuật miền Nam như Chính Văn, Mai, Sáng Tạo, Tình Thương, Văn Hóa Á Châu, Văn Nghệ, Vấn Đề, Hiện Đại, Tân Phong, Tân Văn, Văn Hóa Nguyệt San, Khởi Hành. Anh lần lượt đưa chúng làm chủ đề và trích đăng lại bài vở của chúng trên nhiều số tạp chí Thư Quán Bản Thảo. Chẳng hạn, số 60 (2014), giới thiệu tạp chí Sáng Tạo; số 69 (2016), giới thiệu bán nguyệt san Mai; số 73 (1/2017), giới thiệu tạp chí Văn Hóa Nguyệt San…

Trần Hoài Thư – Chân Phương – Nguyễn Trọng Khôi – TDN (New Jersey, Hoa Kỳ)

Chị Trần Hoài Thư – Trần Hoài Thư – TDN (New Jersey, Hoa Kỳ)
Đồng thời, Thư Ấn Quán cũng xuất bản một số tác phẩm (sau 1975) của các tác giả còn ở trong nước, điển hình như: Tưởng chừng đã quên (Nguyên Minh), Sông chảy về núi, Mưa trên sông ĐaKbla, Trang sách và những giấc mơ bay (Nguyễn Lệ Uyên), Những tháng năm cuồng nộ, Người giữ nhà thờ họ (Khuất Đẩu), Nửa khuôn mặt (Khoa Hữu), Đan tâm, Mây nổi (Phạm Ngọc Lư), Biển của hai người (Mang Viên Long), vân vân.
Một số lớn các tác phẩm hay tạp chí sưu tập, tái bản hay xuất bản đã được Trần Hoài Thư đưa lên trên Blog THT & Thư Quán Bản Thảo:
hay:
https://trahoaithu.blogspot.com/
Riêng tạp chí Khởi Hành (1969-1973) do Viên Linh phụ trách, có thể vào đọc ở:
https://tranhoaithu42.com/2020/03/02/ngay-mot-du-an-lon-hoan-tat/
Xuất bản tác phẩm bị cấm
Các nhà xuất bản ở hải ngoại như Lá Bối, Tân Thư, Việt Thường, Trình Bầy, Tự Do, Văn Học, Văn Nghệ, Trăm Hoa, Tin Paris, Quê Ngoại, Tiếng Quê Hương, Thư Ấn Quán, Tổ Hợp Xuẩt Bản Miền Đông, Diễn Đàn Thế Kỷ, Nhân Ảnh, Người Việt Books, Tuần Báo Trẻ… đã xuất bản khá nhiều tác phẩm bị cấm hay không được phép xuất bản ở trong nước. Xin tạm liệt kê một số tác giả và tác phẩm điển hình như sau (chắc chắn là không đầy đủ):[59],[60]
Hồ Khanh/Doãn Quốc Sỹ (Đi!), Lá Bối 1982.
Trần Kha/Thanh Tâm Tuyền (Thơ Trần Kha), Lá Bối 1982.
Cung Tích Biền (Thằng bắt quỷ) Tân Thư 1993
Bùi Giáng (Thơ Bùi Giáng), Việt Thường 1999.
Khoa Hữu (Hai mươi bài lục bát), Trình Bầy 1994; (Thơ Khoa Hữu), Văn Học 1997.
Nguyễn Hiến Lê (Hồi Kí Nguyễn Hiến Lê), Văn Nghệ.
Lê Đạt (Từ tình Ép-Phen) 1998.
Trần Quốc Vượng (Trong cõi) Trăm Hoa, 1993.
Nguyễn Ngọc Lan (Nói thẳng nói thật, Nhật ký 1990-1991), Tin Paris.
Hà Sĩ Phu (Chia tay ý thức hệ).
Đào Hiếu (Nổi loạn).
Tiêu Dao Bảo Cự (Nửa đời nhìn lại) 1994.
Trần Vàng Sao (Bài thơ của một người yêu nước mình), 1994.
Nguyễn Thụy Long (Hồi ký viết trên “gác bút”, Thuở mơ làm văn sĩ, Giữa đêm trường, Thân phận ma trơi), 2000.
Thế Phong (Hồi ký ngoài văn-chương).
Hữu Loan (Thiên đường máu).
Văn Quang (Sài-gòn Cali 25 năm gặp lại, Ngã tư hoàng hôn, Soi bóng cuộc tình).
Tạ Duy Anh (Đi tìm nhân vật, Sinh ra để chết ).
Nguyễn Viện (Rồng và Rắn, Chữ dưới chân tường, Đĩ thúi & phần còn lại ở cõi chết, Ma & Người, Trong hàng rào kẽm gai, Tôi thở, Có những kẻ đi mãi không về).
Bùi Ngọc Tấn (Chuyện kể năm 2000).
Nguyễn Bình Phương (Xe lên xe xuống).
Cung Tích Biền (Mùa hạ, Xứ động vật, Đành lòng sống trong phòng đợi của lịch sử).
Phùng Cung (Truyện và thơ chưa hề xuất bản).
Tạ Phong Tần (Tuyển tập).
Bùi Thanh Hiếu/Người Buôn Gió (Đại Vệ chí dị).
Trần Đĩnh (Đèn cù).
Vân vân.
Viện Việt Học
Trong việc gìn giữ và bảo tồn văn hóa và văn học nghệ thuật, không thể không nhắc đến Viện Việt Học: https://www.viethoc.com/Home
Viện được thành lập ngày 26 tháng 2 năm 2000 tại Quận Cam, California. Mục đích của Viện được xác định như sau: “Do hoàn-cảnh lịch-sử, dân-tộc Việt-nam hiện nay không chỉ sinh sống trong lãnh-thổ Việt-nam mà đã trải rộng khắp thế-giới. Để các thế-hệ trẻ của cộng-đồng Việt-nam tại hải-ngoại không xa lìa gốc rễ văn-hoá – vốn là sức mạnh tinh-thần của dân-tộc – việc nghiên-cứu và giảng dạy ngôn-ngữ, văn-học, văn-hoá, lịch-sử, địa-lý Việt-nam tại hải-ngoại đã trở nên vô cùng khẩn-thiết.”
Viện trưởng đầu tiên là cố giáo sư Nguyễn Đình Hòa, tiếp đến cố giáo sư Nguyễn Khắc Hoạch, kế đến là giáo sư Trần Ngọc Ninh, rồi giáo sư Lê Bảo Xuyến làm Xứ Lý Thường Vụ. Ban Cố Vấn gồm 9 vị giáo sư Đại học thời Việt Nam Cộng Hòa. Ban Giảng Huấn gồm 20 giáo sư dạy các bộ môn: Văn minh Việt Nam, Sử địa, Ngữ học, Văn chương, Giáo dục và Sư phạm, Việt ngữ căn bản. Về phần văn học, Viện Việt Học đã tổ chức lớp “Đại cương về văn học” Việt Nam 1 và 2, với các đề tài: Văn học chữ Hán, Văn học quốc âm qua các thời, Văn học miền Nam, Văn chương cách mạng, Văn học dân gian, Văn học trong giai đoạn chiến tranh 1946-1954, Văn học trong giai đoạn đất nước chia đôi 1954-1975.
Ngoài việc dạy học, Viện còn tổ chức nhiều sinh hoạt văn hóa khác nhau, hoặc hội thảo, thuyết trình về những đề tài như: Hệ thống hóa chữ Quốc ngữ Việt Nam, Chữ Mường cổ trên trống đồng Đông Sơn, Hình ảnh thơ phương Đông và phương Tây, Đặc điểm và vai trò của tiếng Hán Việt trong ngôn ngữ Việt; hoặc trình diễn âm nhạc: Đêm nhạc thính phòng, Đêm nhạc Hoàng Ngọc-Tuấn… ; hoặc các sinh hoạt khác: Điêu khắc dân gian, Hải Thượng Lãn Ông…
Trang mạng của Viện “https://www.viethoc.com/Home“ là nơi lưu trữ nhiều tài liệu quý về văn hóa, văn học và ngôn ngữ, chẳng hạn như các bộ tự điển (Tự điển Hán Nôm, Việt Hán Tự Điển… ), các văn bản điện tử về ngôn ngữ (Chữ Nôm và sự cống hiến của chữ Nôm đối với văn học cổ Việt Nam, Truyện Kiều, Nôm và Quốc Ngữ… ), các văn bản điện tử về văn học, vân vân.
Sốhóa
Mặt khác, một số khá nhiều các tạp chí, nguyệt san, tuần báo cũng như nhật báo phát hành ở trong nước từ thời tiền chiến cho đến tháng 4/1975, đã được “số hóa” (digitalize) và đưa lên các trang mạng dưới hình thức “sách điện tử” (e-books) hoặc “sách lật điện tử” (flipbooks), giúp độc giả đọc và tra cứu tài liệu một cách dễ dàng.
– Thời tiền chiến (tạp chí): Nam Phong, Thanh Nghị, Thanh Nghị Trẻ Em, Phong Hóa, Ngày Nay, Tri Tân, Phụ Nữ Tân Văn, Nông Cổ Mín Đàm, Lục Tỉnh Tân Văn.
– Thời Việt Nam Cộng Hòa (tạp chí): Văn Hóa Ngày Nay, Bách Khoa, tập san Sử Địa, các nhật báo Hòa Bình, Sóng Thần, Thời Luận, Tiền Tuyến, các tuần báo Con Ong, Thời Mới, Tuổi Ngọc; nguyệt san Phổ Thông.
– Hải ngoại (tạp chí): Thế Kỷ 21, Văn Học, Dòng Việt.

Tạp chí Văn Học (sách lật điện tử)
https://issuu.com/nvthuvien/docs/tapchivanhoc_100?mode=window&viewMode=doublePage
Trong số các tạp chí trên, Dòng Việt tương đối chưa phổ biến, nhưng chứa đựng nhiều tài liệu quý giá về văn hóa nước nhà, đuợc các chuyên viên điện toán hiện đang sinh sống và làm việc ở hải ngoại chung tay thực hiện. Đây là một tạp chí biên khảo, sưu tập và nghiên cứu văn hóa rất đa dạng của những học giả, giáo sư, nhà nghiên cứu thời Việt Nam Cộng Hòa đề cập đến nhiều chủ đề khác nhau: “Ngôn ngữ văn tự Việt Nam”, “Viện Đại Học Huế”, “Đại Học Văn Khoa Sài Gòn”, “Kỷ niệm 200 năm Cố Đô Huế”, “Văn Học Nam Kỳ Lục Tỉnh”, “Văn Học triều Nguyễn”, “Tuyển tập phê bình Đoạn Trường Tân Thanh”, vân vân.
Độc giả có thể tìm kiếm các sách, báo điện tử nêu trên hoàn toàn miễn phí trong các trang mạng sau:
– Nhật báo Người Việt:
https://www.nguoi-viet.com/ThuVienNguoiViet/thuvien-NV.php
– Nam Kỳ Lục Tỉnh:
https://namkyluctinh.org/tap-chi.html
– Viện Việt Học:
– Kho Sách Xưa:
http://ndclnh-mytho-usa.org/KhoChuaSachCu.htm
– Tạp chí mạng Da Màu (phần “Sách báo miền Nam trước 30.4.1975”)
Những người viết mới
Bỏ nước ra đi là một hoàn cảnh mới, vô cùng mới.
Cái mới này tất phải tạo ra (những) cái mới khác. Trong đó, có những người viết mới.
Văn học hải ngoại đã mang lại cho văn học Việt Nam một số lượng đáng kể những người bắt đầu cầm bút khi ra hải ngoại. Dù thuộc thế hệ nào (“một”, “một rưởi” hay “hai”), họ cũng thổi một luồng sinh khí mới cho sinh hoạt văn học trên nhiều phương diện.
Theo Nguyễn Hưng Quốc, “Trong cuốn tuyển tập thơ văn do nhà xuất bản Văn Hữu in năm 1982, nhà văn Võ Phiến đếm được 90 tác giả, trong đó có 28 người viết sau 1975. Trong cuốn Thơ Văn Việt Nam Hải Ngoại do nhà xuất bản Sông Thu in năm 1985, tập 1 đã phát hành có 60 tác giả, trong đó có 12 tác giả mới. Tập 2 chưa phát hành có 44 tác giả, trong đó có 21 tác giả mới. Từ 1985 đến nay, đã có thêm nhiều cây bút mới gạo cội xuất hiện. Một lực lượng cả cũ lẫn mới thật đông đảo.”[61]
Mô tả sự nhộn nhịp của khung cảnh sinh hoạt văn học hải ngoại khi người Việt đã bắt đầu an cư sống tập quần đầu thập niên 1980 và khi Mai Thảo cho tục bản tạp chí Văn, Trần Vũ viết:
“Bằng kinh nghiệm của một chủ bút tài hoa lẫy lừng, Mai Thảo nhanh chóng khám phá, thừa nhận và thúc đẩy những ngòi bút nữ: Lê Thị Huệ, Phan Thị Trọng Tuyến, Nguyễn Thị Ngọc Nhung, Trần Diệu Hằng, Phạm Thị Ngọc, Cao Bình Minh sẽ làm nên hiện tượng nữ sau đó. Không chỉ phát hiện những cây bút nữ, mục Người Viết Trẻ mỗi tháng giới thiệu một gương mặt mới, có tháng trong cùng một số báo có đến 4 người viết mới Nguyễn Thạch Giang, Ý Ngôn, Vũ Phương Nam, Ðặng Mai Lan. Suốt 6 năm 82- 87 tạp chí Văn không thiếu sáng tác, không thiếu người viết lẫn sự trợ giúp đông đảo của các văn hữu.”
Trong không khí đó, tạp chí Làng Văn xuất hiện. Trần Vũ nhận định:
“Làng Văn thừa hưởng không khí bừng bừng khí thế của một cộng đồng đang độ tăng trưởng chín muồi sung mãn, kèm nỗi nhớ nhà nóng bỏng của lớp người mới vượt biên. Một tạp chí mới, một lớp độc giả mới với một tâm tình mới. Huyền Châu, Tuệ Nga, Hồ Trường An, Ngô Nguyên Dũng, Nguyễn Ngọc Ngạn, Lê Văn Lân, Ngọc Khôi, Nguyễn Tấn Hưng, Thái Văn Kiểm, Võ Kỳ Ðiền, Nguyễn Văn Ba, Trần Long Hồ, Phan Ni Tấn, Luân Hoán, Lâm Hảo Dũng, Diệu Tần, Hoàng Xuân Sơn, Nguyễn Ðức Bạt Ngàn… đem đến cho Làng Văn những độc giả trung thành trường kỳ. Những năm 84-89 thời kỳ cực thịnh, Làng Văn thành công rực rỡ, số bán vượt xa các tạp chí khác.”
[…] “Cùng thời gian đó, 1985 Võ Phiến tục bản Văn Học Nghệ Thuật bộ mới, rồi từ tháng giêng 86 đổi tên là tạp chí Văn Học do Nguyễn Mộng Giác điều hành có thể xem là tạp chí uy tín nhất của giai đoạn 85-88. Ða số những bài viết xuất sắc đều xuất hiện trên diễn đàn này và bên cạnh những nhà văn cộng tác trụ cột thường xuyên Nhật Tiến, Võ Ðình, Lê Tất Ðiều, Ðịnh Nguyên, Tưởng Năng Tiến, Võ Phiến, Nguyễn Bá Trạc, Hà Thúc Sinh, Nguyễn Tất Nhiên, Thế Uyên, Hoàng Khởi Phong, Trần Hoài Thư, Hoàng Ngọc Tuấn, Nguyễn Xuân Hoàng, xuất hiện vô số người viết mới: Khế Iêm, Ngu Yên, Phạm Việt Cường, Phan Tấn Hải, Kiệt Tấn, Thường Quán, Cao Xuân Huy, Trịnh Y Thư, Nguyễn Ðức Lập, Nguyễn Ý Thuần, Hồ Ðình Nghiêm, Nguyễn Thị Hoàng Bắc, Nguyễn Mạnh Trinh, Trần Trúc Giang, Trần Thị Kim Lan, Trần Thị Lai Hồng, Trân Sa, Lê Bi, Vũ Huy Quang, Trương Vũ, Thế Giang, Trần Vũ, Ðỗ Kh., Mai Kim Ngọc, Vũ Quỳnh Hương, Nhược Thủy (Y Chi)… Cũng chính trên diễn đàn này khởi đầu nền phê bình ngoài nước qua các bài viết đầu tiên của Thụy Khuê, Bùi Vĩnh Phúc và Nguyễn Hưng Quốc. Văn Học như thế đã ra đời trong hoàn cảnh vô cùng thuận tiện, với một nguồn nhân lực mới mẻ hùng hậu đang trong giai đoạn khởi viết.”[62]
Văn chương tiếng Việt
Tôi viết khá nhiều, đủ loại: thơ, truyện ngắn, truyện dài, tiểu luận, nhận định văn chương, văn học. Tôi đọc càng nhiều hơn. Đọc và học. Không những chỉ những “kiệt tác” và những tác phẩm nổi tiếng của những tác giả nổi tiếng, mà đọc tất. Hay cũng đọc, mà không hay cũng đọc. Tác giả thành danh cũng đọc mà tác giả mới cũng đọc. Cái hay, thậm chí cái kiệt tác, đôi khi nằm ở những tác phẩm vốn rất bình thường. Tôi đọc như một độc giả thích đọc. Đọc và viết về những gì đã đọc. Tuy có đọc và tham khảo nhiều lý thuyết văn chương loại này loại khác, nhưng vốn là một người không ưa lập thuyết, không thích đóng khung, không muốn bị giới hạn vào một mô thức tiền chế, nên tôi chỉ viết theo/từ cảm quan riêng của chính tôi như một độc giả.
Xin được ghi lại vài nét tiêu biểu về một số tác giả mà tôi có dịp đọc và viết về tác phẩm của họ qua một số trích đoạn (vắn tắt) sau, được lấy ra một cách ngẫu nhiên từ một số bài nhận định đã đăng trên các tạp chí (giấy hay mạng).
Về sáng tác
Phùng Nguyễn: Nói chung, dù bắt đầu sự nghiệp văn chương khá muộn, nhưng so với một số cây bút khác cùng độ tuổi, cách viết của Phùng Nguyễn khá tân kỳ và sắc sảo. Trong nhiều truyện ngắn, văn phong của anh thay đổi, tùy nội dung của truyện. Khi thì anh sử dụng “dòng ý thức”, giọng văn chảy một mạch như nước, theo dòng, không chấm câu; khi thì anh cho tác giả và nhân vật cùng “sống” với nhau trong truyện; khi thì anh cho câu chuyện nhập nhằng giữa chữ và nghĩa; khi thì anh dùng chuyện để “lý sự” về một vấn đề nào đó trong cuộc sống. Nhưng nói chung, không khí truyện của anh luôn luôn là một chao đảo giữa hai thế giới: đất nước dung thân và quê hương.
Trần Thị NgH:… tất cả những nhân vật của NgH đều tích cực tham dự cuộc sống, từ người chồng, người cha, người mẹ, người tình, người thầy, cho đến người bạn hay nhà văn, nhà thơ, tu sĩ. Họ đều là những nhân vật sống ở đời, không ai hoài nghi, không ai lên án cuộc đời là phi lý, là hư vô và từ đó, nôn mửa. Cũng không ai sống cuồng, sống vội. Ai cũng sống y như thể họ phải sống. Không có nhân vật nào sống trong hoang tưởng. Tóm lại, mọi nhân vật của NgH đều có thể gặp đâu đó trong cuộc sống hàng ngày. Ấy thế mà mọi quan hệ giữa người và người, giữa cá nhân này và cá nhân nọ dường như luôn luôn bất ổn. Họ yêu nhau, nhưng vẫn vờn nhau. Thương nhau nhưng biết rõ hậu ý của nhau. Đến với nhau nhưng vẫn đề phòng nhau. Quan hệ tốt với nhau nhưng vẫn xa cách nhau. Tất cả những nghịch lý đó chờn vờn trên tất cả các trang văn của NgH, khiến cho ngay cả những lúc cảm động nhất hay nghiêm trang nhất, người ta đều cảm thấy có cái gì khôi hài, giễu cợt, bất thường.
Cao Bình Minh: Độc đáo trong cách viết. Câu kéo viết ra hoàn toàn được tùy nghi, thả lỏng. Tác giả rề rà kể, cứ để cho chữ chạy theo chữ, câu chạy theo câu, kể đến đâu hay đến đấy, sự kiện này chen ngang, trộn lẫn, có khi cắt đứt sự kiện khác. Đối thoại hòa tan trong câu chuyện; văn viết trộn lẫn trong văn nói. Như bà già ngồi kể chuyện với cháu, mọi sự diễn tiến thong thả, chậm rãi, chuyện nọ xọ chuyện kia, chuyện này chưa xong đã nhảy qua chuyện khác, chuyện này sinh ra chuyện khác, chuyện này dính líu chuyện khác, kéo dài liền liền không dứt. Kết hợp giữa cách dùng chữ và cách viết tạo thành một văn phong dân dã, phổ thông, thoải mái, nhẹ nhàng và ý vị. Không triết lý dài dòng. Không ám chỉ xa xôi bóng bẩy.
Chân Phương: Hiện thực trong “Chú thích cho những ngày câm nín”, đề cập những ngày anh còn sống dưới chế độ cộng sản sau 1975, được chắt lọc, được vắt hết râu ria, được tinh chế để lột trần ra cốt lõi của nó. Một thứ hiện thực được trí tuệ hóa. […] Ngôn ngữ trong “Chú thích cho những ngày câm nín” như những nhát dao chém vào hiện thực, chất ngất suy tư, và qua đó, chất ngất những lên án đanh thép. Thấp thoáng đàng sau thứ ngôn ngữ khô và lạnh lùng là cái sắc bén của sự suy ngẫm.
Đinh Trường Chinh: Anh làm thơ vừa trộn ý vừa pha chữ và thỉnh thoảng, pha màu. […] Trong thơ anh, chữ nhấp nháy, nhảy vọt, kết tụ, phân tán. Thơ anh đầy những mảnh vụn: những mảnh vụn đời sống, những mảnh vụn ý nghĩ, những mảnh vụn ký ức, những mảnh vụn hiện thực, những mảnh vụn chữ nghĩa, những thoáng qua, những chợt đến và chợt đi. Những mảnh chữ. Chữ ráp nối chữ, có khi rất ngẫu nhiên, có khi tiền-chế, có khi cấu trúc kỷ hà. Anh biến những ký hiệu vô hồn thành nỗi dằn vặt: dằn vặt chữ.
Đỗ Lê Anh Đào: Một cây bút trẻ hải ngoại thuộc thế hệ một rưởi, mang dáng nét đặc biệt rất riêng của một cô gái đứng giữa hai thế giới, vừa chứa đựng chút o ép của nền văn hóa cũ, lại vừa có chất phóng túng của nền văn hóa mới. Cô có giọng văn, giọng thơ tinh nghịch, giễu cợt qua nhiều đề tài khác nhau, diễn đạt cái tâm thức đậm nét Mỹ trong một thứ ngôn ngữ Việt khá nhuần nhuyễn, tinh tế. Khi viết về tình dục, cô táo bạo một cách rất hồn nhiên, cụ thể nhưng không sống sượng; ngổ ngáo nhưng không sỗ sàng.
Phan Nhiên Hạo: Cách tân triệt để khi làm thơ. Vượt ra ngoài vòng cương tỏa của vần, điệu đã đành, mà nó còn là một trộn lẫn nhiều thể loại khác nhau: thơ, tùy bút, truyện kể, kể cả lịch sử. Có thể gọi đó là một kết hợp giữa thơ và phi-thơ.[…] Thơ Phan Nhiên Hạo là một vận dụng ngôn ngữ dựa trên nhận thức và cảm quan thẩm mỹ đối với sự vật. Bằng một thứ ngôn ngữ có tính cách mô tả, đôi khi trông rất dửng dưng, lạnh lùng, vô cảm, Phan Nhiên Hạo chuyển tải những cảm xúc vừa chân thật vừa mới mẻ. Ẩn khuất đàng sau đó, người đọc còn tìm thấy một tính chất khác: nhận thức sâu sắc về sự vật và sự kiện và qua đó, tính nhân văn của chúng.
Thận Nhiên: Thơ anh không (nhằm) gây xúc động, ngược lại, kích thích suy tưởng. Những ý tưởng riêng hình thành từ nhiều mảng hiện thực, được chắt lọc cẩn thận, khai triển và thể hiện bằng ngôn ngữ, hình ảnh và khái niệm, trước khi đóng lại một cách bất ngờ, khi thì mạnh mẽ, dứt khoát khi thì lơi lỏng, lửng lơ ở phần kết thúc.
Hoàng Chính: Truyện của anh như một món trộn, trộn chữ trong truyện, trộn truyện trong chữ. Từng tầng lớp chữ chồng chất, chen chúc nhau. Thoạt đầu, ta hơi bối rối. Chữ miên man trôi, mang theo đủ thứ hình ảnh, cảm giác, sự kiện, đột nhiên, một chi tiết nòng cốt hiện ra. Rồi lại chữ nối tiếp chữ. Rồi một chi tiết nòng cốt nữa xuất hiện. Cứ thế, người đọc, sẽ từ từ nhặt ra các chi tiết và ráp lại thành… truyện. Sở dĩ thế vì câu chuyện anh kể thường vùi sâu trong các lớp chữ, và qua đó, trong các sự kiện. Khi tìm được mạch rồi, mọi sự như sáng hẳn ra, khiến ta thích thú.
Hồ Đình Nghiêm: Đọc các truyện Huế của anh, “Hành lý”, “Và Sầu ơi”, “Am khuất”, chẳng hạn, tôi tưởng như đang ngồi nhẩn nha uống cốc trà hay cốc cà phê, nghe một người Huế kể chuyện đời, rề rà, chậm rãi, chi li. Văn của anh, nói chung, là một trộn lẫn khá lạ giữa sự nghiêm túc và nét dí dỏm lại đượm mùi chua chát, được giấu một cách khá kín đáo qua cách diễn đạt trông rất thành thật, tự nhiên.
Khoa Hữu: Toàn bộ những bài thơ của Khoa Hữu là một chuỗi dài những tiếng kêu bi phẫn. Có thể nói, chúng là một trường ca bi phẫn. Một bi phẫn không cạn, không ngưng nghỉ, không mệt mỏi. Trong anh là sự hội tụ đến cực điểm của tâm thức người lính bại trận, của người tù chung thân, của người mất quê hương. Và bàng bạc tình đồng đội.
Lê Minh Hà: viết nhiều, đa dạng. Nhưng cái làm cho Lê Minh Hà độc đáo, theo tôi, là hơi văn. Hơi văn có lúc làm người đọc quên cả câu chuyện. Truyện ngắn của Lê Minh Hà, “Những giọt trầm” chẳng hạn, nói truyện thì là truyện, nói tùy bút thì là tùy bút, nói tản văn thì là tản văn.
Phan Thị Trọng Tuyến: viết văn thoải mái, không gò bó, câu thúc, dòng văn tuôn tràn theo cảm hứng, với rất nhiều chi tiết và hình ảnh sống động xuất phát từ một thu nhặt tinh, nhạy từ đời sống. Dòng văn đó pha trộn nhiều cách diễn đạt khác nhau, vừa nghiêm túc lại vừa ngẫu hứng, vừa văn hoa lại vừa thông tục, tạo thành một hơi văn khá riêng, ít lẫn với người khác. Chị viết truyện như viết ký, chất hiện thực ngồn ngộn, tràn trề trên từng trang sách, khiến cho người đọc, dẫu biết là hư cấu nhưng vẫn có cảm giác đang chạm trán với từng mảnh cuộc sống cụ thể mà tác giả thực sự đã kinh qua.
Trần Thị Diệu Tâm: Tình yêu trong văn Trần Thị Diệu Tâm không éo le, gay cấn, không đẫm lệ, không tang thương sầu muộn. Tình nào cũng rất nhẹ. Như hơi gió thoảng. Như sợi mây mỏng. Như vết trầy qua da. Nhớ cũng được mà quên thì cũng thôi. Nhưng đọc xong, cái tình đó đọng lại những bụi phấn, vương vướng đâu đó, phủi hoài không hết. Chị không bi kịch hóa tình yêu, mà cũng không tô son vẽ phấn tình yêu.
Trần Trung Đạo: Vừa làm thơ vừa viết chính luận. Đã một thời, tiếng thơ Trần Trung Đạo là tiếng lòng của những người con lưu lạc xứ người. Thế nhưng, ở chính luận Trần Trung Đạo, cảm hứng thơ của anh không hề biến mất. […] Trong một số bài, tôi tìm thấy dấu vết và âm hưởng của những bài thơ da diết tình người tình nước của anh dạo nào, như Em bé Việt Nam và viên sỏi, Thương Paris như nỗi nhớ Sài Gòn. Con sinh ra trên đất Mỹ… Anh viết chính luận trong tâm cảm của một nhà thơ.
Nguyễn Xuân Thiệp: Thơ anh dồi dào hình ảnh và nhịp điệu, tràn đầy thiên nhiên, sự vật và hoa cỏ. Nhiều gió, nhiều hoa, nhiều mưa, nhiều chim, nhiều nắng, và nhiều thứ vô cùng quen thuộc của cái thế giới thân quen chung quanh chúng ta, từ vườn, phố, núi, sông cho đến cây đàn, chiếc võng, bức tường, hiên nhà, sỏi đá rồi những sói, vịt trời, quạ, cua, cọp, dế, gà, ngựa… Anh thổi lòng anh vào thế giới chung quanh và mang nó vào cõi trăn trở riêng của mình: từ tình yêu, cuộc nhân sinh đến thế sự, kỷ niệm, và đôi khi, trăn trở đến cả những trăn trở của chính mình.
Phạm Thị Hoài: Truyện ngắn Ám thị của Phạm Thị Hoài khai thác một đề tài rất mới: một ông chồng học nghề tẩm quất bằng cách để cho ông thầy mù dùng thân thể vợ mình làm chỗ chỉ dẫn và thực tập. Truyện chẳng có “biến cố” nào ngoài tâm cảm của người đàn bà nghe ngóng chuyển động của bàn tay ông thầy mù được gọi gọn là “tay ấy” trên thân thể mình. “Tay ấy” thông minh, rành rọt mọi ngóc ngách trên thân thể nhạy cảm của thân xác phụ nữ. Nó “vê”, nó “vuốt mu”, nó “quây gọn”, nó “nhổ… tí tách”, nó “trườn ngang”, nó “lùa trên”, nó “chườn quanh”, nó “lội qua ngực”, nó “miết dọc”, nó “lách giữa”… Chừng như nó nắm rất vững mọi cảm giác của nhân vật vợ. Tác giả nỗ lực lột tả những cảm giác hết sức tinh tế và đặc thù của người phụ nữ trong một tình huống cũng hết sức đặc thù. Ta có cảm giác như những con chữ xoắn xít, chen chúc, dồn đẩy nhau. Hơi chữ toát lên vẻ trông ngóng tinh nghịch và… erotic! Trong lúc truyện dường như chẳng erotic chút nào cả. Chỉ là ám thị!
Nguyễn Thụy Đan: Là hiện tượng độc đáo, gần như chưa có tiền lệ trong cộng đồng người Việt hải ngoại. Sinh ra ở Mỹ, giỏi tiếng Anh, thông thạo tiếng Việt và tiếng Hán. Anh tìm đọc những tác phẩm cổ điển Trung Hoa như Hán Thư, Đường Thi, Tống Từ, Tứ Thư, Đạo Đức Kinh, vân vân. Sáng tác nhiều bài “từ” bằng chữ Hán, gộp chung lại thành Chướng Vân Tập, nghiên cứu thêm về Thần Học Công Giáo và Chính Thống Giáo, nghiên cứu về sự hình thành và phát triển của tư tưởng Việt Nam thời trung đại và cận đại. Ngoài ra cũng nghiên cứu chuyên sâu tư tưởng Tống Nho, và đặc biệt nghiên cứu về một danh nho Việt Nam dưới thời Tự Đức là Nguyễn Đức Đạt.
Trần Mộng Tú: Thơ về tình yêu của Trần Mộng Tú, ngoài cái da diết, nồng nàn, đam mê, lãng đãng của Nguyên Sa, còn có cái táo bạo, nóng bỏng, erotic và vô thời, không tuổi (ageless) rất riêng. Bằng những ví von độc đáo, thơ Trần Mộng Tú hình thành nên những hình tượng đầy ám ảnh… những chiếc lá thất thân đã sang màu rạo rực; anh là gió tháng mười/em buồn như âm lịch/không đuổi kịp mặt trời… Hơi thơ nghe vừa nóng vừa ấm vừa lạnh. Với chất trữ tình mạnh mẽ trong cách sử dụng ngôn ngữ, khi nói “thơ Trần Mộng Tú” cũng là nói “thơ tình Trần Mộng Tú” mà cũng là nói “thơ tình”. Nói không ngoa, đọc thơ tình Trần Mộng Tú chẳng khác gì đọc thơ của một… người tình.
Trần Vũ: Gây ấn tượng mạnh bằng một văn phong hết sức mới lạ. Anh sử dụng và tận dụng tính đa nghĩa của ngôn ngữ như một dụng cụ đa năng, không những để phản ảnh hiện thực (lịch sử hay sự vật) đã rồi, không chỉ để nhào nặn hay bóp méo hiện thực để tạo ra một hiện thực khác phù hợp với trạng thái tâm lý, mà còn là để chống lại và phá phách… hiện thực. Sử dụng sự vật như hình ảnh, tận dụng hình ảnh sắc cạnh, cụ thể của sự vật để diễn tả/ví von với tâm cảm. Vận dụng lối ví von và những tính từ đầy hình ảnh, Trần Vũ đã tạo những câu văn bất ngờ, kích thích: “Giọng ồ ề vỡ ra như tiếng thác đổ vào giữa khuya”; “Tiếng nước rỏ xuống sâu, nghe váng âm hắt dội giữa trưa vắng tịch mịch, chợt vang vang thành bước chân của những tên khổng lồ đuổi bắt thời gian”; “mặt trời đã trở nên cực hung hãn, mặt trời như có đúc vàng đặc cứng chật căng trên da mặt.”, v.v.
Đặng Thơ Thơ: Sử dụng nhiều cách viết khác nhau trong các sáng tác, pha trộn giữa truyền thống và các lý thuyết văn học hiện đại về văn phong, kết cấu cũng như kỹ thuật. Trong tập truyện Khả thể, chị vừa đứng trong hiện thực vừa đứng ngoài nó. Vừa sống trong nó vừa bước ra ngoài để nhìn ngắm “dung nhan” của nó, không còn một biên giới cụ thể và rõ ràng giữa nhân vật và tác giả, giữa sự kiện và câu chuyện, giữa nhân vật này và nhân vật khác, giữa việc diễn tả sự kiện và ý niệm hình thành từ sự kiện đó. Trong tiểu thuyết Ai, kết cấu chuyện là một mớ bòng bong; chuyện trong truyện và truyện trong chuyện; sự kiện, biến cố chen chúc với khái niệm và ký hiệu; không gian trộn lẫn vào thời gian; tình cảm và xúc động đôi khi đi đôi với ký hiệu và quan điểm; câu chuyện đôi khi bỗng chấm dứt vào lúc người ta thấy nó bắt đầu và ngược lại.
Về biên khảo
Về lãnh vực biên khảo, nghiên cứu và phê bình văn học, ngoài những cây bút kỳ cựu của Văn Học Miền Nam trước 1975, như Võ Phiến, Nguyễn Văn Sâm, Đặng Tiến…, văn học hải ngoại đã sản sinh ra những khuôn mặt mới, vừa nắm vững văn học Việt Nam vừa nắm vững văn học phương Tây, mà những tác phẩm nghiên cứu văn học của họ là một đóng góp lớn cho nền văn học nghệ thuật Việt Nam: Thụy Khuê, Nguyễn Hưng Quốc, Đinh Từ Bích Thúy, Nguyễn Vy Khanh, Bùi Vĩnh Phúc, ĐàoTrung Đạo, Liễu Trương, Trần Văn Nam, Khế Iêm, Hoàng Ngọc-Tuấn, Ngu Yên… và nhiều tác giả khác. Những cây bút biên khảo này đã góp tay biến những mảnh vụn văn chương lưu lạc thành một “nền”: nền văn học hải ngoại.
Nguyễn Hưng Quốc: Uyên bác, tài hoa, rành rọt các lý thuyết văn học hiện đại, áp dụng chúng một cách đầy sáng tạo khi phân tích văn học và văn chương Việt Nam, cung cấp cho độc giả và các nhà văn nhà thơ một kho lý luận văn học, tạo ra một văn phong phê bình văn chương rất đặc trưng, hiếm ai có được. Nhất là anh đã nhiệt tình và kỹ lưỡng giới thiệu xu hướng sáng tác hậu hiện đại với tác giả và độc giả Việt Nam, tạo nên một biến chuyển tích cực trong sáng tác cũng như phê bình, đưa đến một không khí văn chương mới mẻ, sôi động. Khi chủ nghĩa hậu hiện đại không còn ăn khách nữa, anh dứt khoát chọn sự dừng lại. “Bây giờ dù vẫn có một số người tiếp tục sáng tác theo phong cách hậu hiện đại nhưng, thứ nhất, nó không còn là một khám phá mới mẻ nữa; thứ hai, nó không còn là một phong trào, cả trong sáng tác lẫn trong học thuật.”[63]
Thụy Khuê: Là một nhà nghiên cứu và phê bình chuyên sâu về nhiều lãnh vực khác nhau, chị rất cần mẫn và chuyên nghiệp trong sưu tầm tài liệu, sâu sắc và tinh tế khi phân tích các tác phẩm văn học nghệ thuật. Đặc biệt, chị lý giải chúng, không phải bằng cách dựa vào những lý thuyết tiền chế, mà bằng cảm nhận riêng từ nhiều góc độ khác nhau của một người thưởng thức. Hàng nhiều chục tác giả và tác phẩm của họ, hoặc văn chương, hoặc âm nhạc, hoặc hội họa, dưới cái nhìn cận nhân tình mà sắc bén của chị, đều trở nên khác lạ, toát ra những ý nghĩa ẩn khuất chứa đựng trong nội dung (mà tôi đoán) đôi khi nằm ngoài ý định của chính người sáng tác.
Đinh Từ Bích Thúy: Đinh Từ Bích Thúy thuộc thế hệ “một rưởi”, rời đất nước vào lúc 13 tuổi, theo học và tốt nghiệp cử nhân danh dự song khoa văn chương Anh-Pháp và tiến sĩ Luật. Nhờ thế, chị nắm vững cả tiếng mẹ đẻ lẫn ngoại ngữ (Anh và Pháp), chịu và thấm nhuần ảnh hưởng của cả ba nền văn hóa liên hệ. Chị đọc, dịch, hiểu sâu và nhận định về nhiều tác giả Việt, Mỹ, Pháp và tác phẩm của họ: từ Bình Nguyên Lộc, Nguyễn Đức Sơn, Võ Phiến, Nhã Ca đến Trương Vũ, Lưu Diệu Vân, Lan Cao, từ Salman Rushdie đến Herman Melville, James Joyce, Rimbaud… Chị luôn phân tích, lý giải tác phẩm văn chương qua hai góc nhìn song song từ hai nền văn hóa. Đọc Nàng Phù Thủy Thành Florence của Salman Rushdie, chị nhắc đến chuyện cổ tích Mỵ Châu-Trọng Thủy; đọc Cung Tích Biền, chị nhắc đến Moby Dick của Herman Melville; hay đọc Nguyễn Đức Sơn, chị nhắc đến Rimbaud, đọc (và dịch thơ) Khúc Hát Gia Trung: Thơ Hồi Niệm của Một Tội Đồ của Nguyễn Sỹ Tế, chị nhắc đến Erza Pound, vân vân. Tôi thích những tựa đề rất Việt Nam khi viết tiểu luận về mấy nhà văn Việt Nam: Nhã Ca – một huy hoàng trên cỏ mướt (đọc Nhã Ca), Sen và bão: một cân bằng mong manh (đọc Lan Cao), Ai vượt cạn, ai trầm mình giữa xa là lạ (đọc Đặng Thơ Thơ)…

Nguyễn Thị Thanh Bình – Đinh Từ Bích Thúy – Đặng Thơ Thơ – TDN (Washington D.C)
Bùi Vĩnh Phúc: Là một người lâu năm “ăn nằm” với các lý thuyết phê bình văn học mới của Tây phương, anh sử dụng chúng như là một trong nhiều phương tiện – chứ không phải là phương tiện duy nhất –, khi khảo sát các tác phẩm văn chương. Dấu vết của chúng có thể tìm thấy trong nhiều lập luận, nhưng xem ra, anh không để chúng chi phối hướng đi đã chọn của mình. Chính vì thế, rất nhiều nơi trong toàn bộ tác phẩm, hơi văn anh toát lên nét mềm mại, uyển chuyển khiến người đọc có cảm giác như đang “thưởng thức” văn chương hơn là “căng óc” suy nghĩ chuyện đúng, sai, hay, dở.…
Hoàng Ngọc-Tuấn: Tuy không chuyên về văn chương (anh là một nhạc sĩ), nhưng các bài biên khảo về văn chương của anh rất đặc sắc, vừa hàn lâm, chuyên môn, chặt chẽ trong lý luận lại vừa phóng túng trong văn phong, chính xác trong tài liệu, quyết liệt thúc đẩy sự đổi mới trong nhận thức và sáng tác văn học nghệ thuật, không chỉ bằng lý thuyết hàn lâm, mà bằng cả thực tiễn. Tác phẩm duy nhất về văn học của anh, Văn Học Hiện Đại và Hậu Hiện Đại qua thực tiễn sáng tác và góc nhìn lý thuyết (Nxb Văn Nghệ, California, 2001) là một tài liệu văn học quý, đoạt giải Văn Học của “Hội Quốc Tế Y Sĩ Việt Nam Tự Do”.
Nguyễn Vy Khanh: Chuyên nghiệp và kỹ lưỡng, chính xác. Được đào tạo trong một môi trường nghiên cứu, sưu khảo chuyên nghiệp, Nguyễn Vy Khanh luôn luôn trưng dẫn tài liệu về tác giả và tác phẩm, dù là khi phân chia các giai đoạn văn học hay bàn về các đặc tính cũng như nhận định về văn học… Bàn đến đâu, anh cung cấp ngay những tài liệu ngắn gọn về tác giả, tác phẩm đến đó. Không những thế, trong nhiều trường hợp, anh còn trích dẫn văn, thơ hay những sự kiện nổi bật liên hệ đến tác giả hay tác phẩm đề cập. Các tài liệu biên khảo của anh khách quan, đáng tin cậy trong công việc nghiên cứu văn học.
Ngu Yên: Biên khảo và dịch thuật cũng như giới thiệu và cập nhật các trào lưu văn học phương Tây về nhiều thể loại: thơ, truyện, âm nhạc, kịch, vừa lý thuyết vừa thực hành, không những giúp cho những cây bút mới bước chân vào lãnh vực phê bình và sáng tác mà còn giúp cho những cây bút đã thành danh cải tiến kỹ thuật sáng tác của mình. Đặc điểm của Ngu Yên: lý luận không “quy lụy tính hàn lâm” (theo cách nói của Ngu Yên), nhưng lại mang tính hàn lâm. Nói cho đúng, anh cố gắng bình-thường-hóa tính hàn lâm, tránh sử dụng nhiều thuật ngữ chuyên môn, nhằm biến những khái niệm khó hiểu thành những điều dễ hiểu. Làm việc liên tục với tâm nguyện cung cấp kiến thức miễn phí cho những người yêu thích văn chương và cho các thế hệ sau.
Khế Iêm: Vừa làm thơ, vừa nghiên cứu cách làm thơ, rồi lại vừa thực hành nó bằng cách sáng tác những bài thơ mới, anh trở thành một nhà nghiên cứu lâu bền, kiên định và đầy cống hiến về tính cách kỳ diệu của thế giới chữ nghĩa xuyên qua vần và nhịp điệu. Anh còn là người lập thuyết, tạo ra thơ Tân Hình Thức, nguồn cảm hứng cho nhiều sáng tác mới ở trong cũng như ngoài nước. Dù thể thơ mới này còn gây nhiều tranh cãi trong giới học thuật (về lý thuyết cũng như thực hành), nhưng không thể không thừa nhận lòng đam mê cũng như kiến thức của anh về nghệ thuật sử dụng loại ngôn ngữ đặc biệt này.
Còn một số tác giả khác nữa, nhưng xin được dừng ngang đây, vì đã khá dài…
Văn chương ngoại ngữ
Nói đến thành tựu của văn học hải ngoại tiếng Việt (Diaspora Vietnamese-Written Literature), ta không thể không đề cập đến những tác phẩm viết bằng tiếng Anh (Diaspora English-Written Literature).
Tác phẩm Việt chỉ lưu hành trong cộng đồng người Việt, dành cho người Việt. Một tác phẩm Việt chuyển dịch ra ngoại ngữ, đó vẫn là một tác phẩm Việt. Nhưng một tác phẩm viết thẳng bằng ngoại ngữ (Anh hay Pháp) là văn học hội nhập. Loại tác phẩm này chỉ xuất hiện ở thế hệ “một rưởi” (1.5/đến Mỹ khi còn nhỏ) hay thế hệ “hai” (2.0/sinh ra và nuôi dưỡng ở Mỹ). Viết thẳng bằng tiếng Anh, tác phẩm mang hơi thở tiếng Anh. Ngôn ngữ nào, hơi thở nấy. Dẫu vậy, chúng vẫn mang sắc thái Việt. Chính vì thế, chỉ khi những tác phẩm này xuất hiện thì tiếng nói của cộng đồng người Việt lưu vong mới bắt đầu có tiếng vang trong thế giới văn chương xứ người.
Theo Ngu Yên, thế hệ 1.5 là “thế hệ bản lề”. Một là, họ theo học ngôn ngữ và văn hóa chính thống, thông thường, họ giỏi tiếng địa phương (Anh hay Pháp) hơn tiếng Việt; hai là, “một số trong bọn họ đã thu thập tiếng Việt, Việt tính, Việt chất ở quê nhà trước khi nhập cư xứ người. Trong họ là một hỗn hợp văn hóa, suy nghĩ, cách sống, niềm tin, vân vân…”. Hai yếu tính này tạo cho họ “một bản lãnh và những kinh nghiệm riêng biệt, có thể nói là duy nhất. Chính những trải nghiệm này sẽ xuất hiện trong tác phẩm của họ tạo nét đặc sắc riêng tư,” từ đó, “đóng vai trò quan trọng trong việc tiên phong bước vào dòng văn học chính thống.”
“Thế hệ 2.0 sinh ra và lớn lên tại địa phương, hấp thụ ngôn ngữ và văn hóa bản địa, họ là một “loại người bản xứ da màu. Họ không cách xa mấy thế hệ 1.5 về sự ảnh hưởng của Việt tính và Việt chất, mặc dù không lớn lên ở quê nhà, nhưng họ thu thập cá tính và tập quán Việt từ gia đình nơi mà quyền gia trưởng áp lực mạnh mẽ bao trùm từ thơ ấu cho đến khi trưởng thành. Nội tâm của họ ướp đầy mùi vị văn hóa Việt. Đồng thời để hội nhập đời sống hàng ngày, nhất là học đường, bắt buộc họ phải đấu tranh với bản thân, gia đình và người bản xứ để bão hòa tâm lý và bảo vệ cái tôi.”[64]
Xuất hiện vào khoảng giữa thập niên 1990 cho đến nay, các tác phẩm của hai thế hệ này có vài tính cách riêng, hơi khác với tác phẩm thuần Việt:
– Đa dạng về thể loại: truyện dài với Monkey Bridge của Lan Cao, The Book of Salt của Monique Truong; thơ với Song of the Cicadas của Mộng-Lan, Night Sky with Exit Wounds của Ocean Vuong; truyện ngắn với Fake House của Linh Dinh, Quiet As They Come (2010) của Angie Chau; truyện vừa với The Gentle Order of Girls and Boys của Dao Strom; truyện tranh với Vietnamerica: A Family’s Journey của GB Tran, The Best We Could Do (2017) của Thi Bui.
– Đa dạng về đề tài: chiến tranh với Where the Ashes Are của Nguyễn Quí Đức, kinh nghiệm di dân và chấn thương văn hóa, chủng tộc… với Perfume Dreams của Andrew Lam, The Refugees của Viet Thanh Nguyen, Quiet As They Come của Angie Chau, Dragonfish của Vu Tran, mâu thuẫn, xung đột gia đình với Monkey Bridge của Lan Cao, The Gangster We Are All Looking for của Lê Thi Diem Thúy; cảm nhận khi về thăm quê hương với Catfish and Mandala: A Two-Wheeled Voyage Through the Landscape and Memory of Vietnam của Andrew X. Pham, ẩm thực với Stealing Buddha’s Dinner của Bich Minh Nguyen, Bitter in the Mouth của Monique Truong, tình yêu và đồng tính với thơ của Kim-An Lieberman, Hieu Minh Nguyen, Ocean Vuong…
vân vân và vân vân.
Dù khác nhau, nói chung, văn chương của họ là một hành trình kiến tạo bản sắc cộng đồng và căn cước cá nhân trong một môi trường xung đột liên tục về văn hóa, chủng tộc và lịch sử. Xin nêu lên một số tiêu biểu:
– Lan Cao: tiểu thuyết Monkey Bridge 1997, được Michiko Kakutani, nhà nghiên cứu văn học, The New York Times, gọi nó là “một tác phẩm đầu tay đầy ấn tượng”, so sánh nó với các tác phẩm của Salman Rushdie và Bharati Mukherjee.
– Andrew Lam: tập tiểu luận Perfume Dreams: Reflections on the Vietnamese Diaspora đoạt giải PEN/Beyond Margins năm 2006.
– Nam Lê (Úc): tập truyện ngắn The Boat, đoạt nhiều giải thưởng, trong đó có The Prime Minister’s Literary Award for Fiction và NSW Premier’s Literary Awards” năm 2009.
– Đinh Linh: tiểu thuyết Love Like Hate giành được giải thưởng Balcones Fiction năm 2011.
– Monique Truong: tiểu thuyết The Book of Salt, đoạt các giải PEN/Robert W. Bingham Prize“, “ALA Stonewall Book Award và Young Lions Fiction Award năm 2014
– Nguyễn Thanh Việt: tiểu thuyết The Sympathizer, đã giành được 2016 Pulitzer Prize for Fiction, giải thưởng văn chương hàng năm cao quý nhất nước Mỹ dành cho tiểu thuyết năm 2016.
– Ocean Vuong: Tập thơ Night Sky with Exit Wounds, đoạt giải Whiting Award, “T.S. Eliot Prize và Thom Gunn Award for Gay Poetry vào năm 2016.
– Thi Bui: tập truyện The Best We Could Do đoạt giải “American Book Award” 2018. Tôi đã có dịp giới thiệu Thi Bui trong mt bài viết ngắn đi trên nhật báo Người Việt (Cali)
https://www.nguoi-viet.com/van-hoc-nghe-thuat/best-tu-truyen-bang-tranh-cua-nha-van-bui-thi/
Cũng phải kể đến các tác phẩm viết bằng tiếng Pháp:
– Linda Lê (Pháp): tiểu thuyết Les Évangiles du crime đoạt giải Renaissance de la nouvelle, 1993 và tiểu thuyết Les Trois Parques đoạt giải Giải Fénéon 1997
– Kim Thúy (Canada): tiểu thuyết đầu tay của mình, Ru (a lullaby), đoạt nhiều giải trong đó có Governor General’s Award for French-Language Fiction vào năm 2010.
10.
Về đâu?
Từ hư vô, văn học hải ngoại xuất hiện.
Hơn năm thập niên, nền văn học bất ngờ này – theo nhiều nhà nghiên cứu – đã trải qua một số giai đoạn, từ chập chững đến hình thành, phát triển, và đạt đến đỉnh cao vào thập niên 1980 và nửa đầu thập niên 1990. Từ đó cho đến nay, nhịp độ phát triển chậm dần lại, số lượng tác giả mới cũng như số lượng tác phẩm xuất bản ngày càng giảm, các tác phẩm có giá trị về mặt nghệ thuật càng ngày càng hiếm.
Được hỏi về vấn đề này, qua cuộc trò chuyện với một số nhà văn nhà thơ nhân kỷ niệm 50 năm Văn Học Hải Ngoại do tạp chí Da Màu thực hiện, nhà thơ Hoàng Hưng, từ trong nước, cho biết:
“Cũng phải ghi nhận một thực tế: sau khoảng 40 năm phát triển tốt đẹp, với sự ra đi và lão hóa của vài thế hệ người viết và người đọc, sự hội nhập ngày càng sâu vào văn hoá bản địa của thế hệ người gốc Việt trẻ, văn học tiếng Việt hải ngoại đang đối mặt với tình trạng khó duy trì”;
Nhà nghiên cứu văn học Nguyễn Hưng Quốc, từ Úc, quả quyết: “… văn học hải ngoại thì hầu như không có tương lai. Nó đang hấp hối. Số người còn tiếp tục viết, và viết hay hoặc tương đối hay, trên khắp thế giới ngoài Việt Nam, theo tôi, không quá 10 người.” […] Khi thế hệ thứ nhất […] qua đi, văn học hải ngoại, nếu còn, cũng sẽ biến dạng hẳn. Biến dạng đến nổi không còn cả cái gốc.”
Nhà nghiên cứu văn học Thụy Khuê, từ Pháp, đưa ra một cái nhìn hơi khác: “Văn chương hải ngoại hiện nay, […] người viết ở hải ngoại ít đi, nhưng người viết ở trong nước tăng lên, cho nên vẫn còn phong phú và đa dạng… […] Hiện thời chính sách kiểm duyệt mạng ở trong nước cũng bớt gay gắt, có nhiều nơi ở miền Nam, đọc được các mạng, trước cấm, như Da Màu, Diễn Đàn Thế Kỷ [đã chuyển qua Thế Kỷ Mới], Diễn Đàn [Forum], Văn Việt, v.v. Trong tình trạng mọi sự đang được cải tiến dần dần như thế, hy vọng Văn học Việt Nam sẽ sớm tái hiện với toàn bộ các nhà văn Nam, Bắc, trong, ngoài, trong thế kỷ qua… […] Triển vọng của văn chương hải ngoại cũng là triển vọng của văn chương Việt Nam, tôi muốn được hiểu như vậy.”
Nhà thơ Ngu Yên, từ Mỹ, trong bài Tóm lược 50 năm văn học Việt nhập cư 1975-2025, nhận xét: “Sự thật hiển nhiên là người đọc càng ngày càng ít. Ở hải ngoại, giới lớn tuổi ra đi mang theo khoảng trống chữ nghĩa, không ai bù vào. Giới lớn tuổi còn lại hoặc ngưng đọc hoặc đọc giới hạn vì mắt già, bệnh già, mệt già… Giới trẻ lớn lên, đọc được tiếng Việt không nhiều. Đọc để hiểu tiếng Việt cao kỳ sâu sắc lại càng hiếm hoi. Thời hết đọc tiếng Việt ở hải ngoại sẽ đến.”[65]
Dù có khác nhau đôi chút, tất cả các nhận định trên đều phản ảnh khá trung thực hình ảnh “lặng lẽ” hiện nay của văn học hải ngoại. Ngay từ cuối thập niên 1990, Nguyễn Mộng Giác, trong bài Tình trạng lão hoá trong sinh hoạt văn học (1998),[66] đã có một cái nhìn tiêu cực như thế về nền văn học non trẻ này, (lúc đó) chỉ mới lên… 23 tuổi.
Theo anh, một trong những yếu tố nòng cốt để văn chương phát triển là lớp trẻ. Quả đúng như thế. Thời Việt Nam Cộng Hòa, trong khi lớp Mai Thảo, Thanh Tâm Tuyền, Thảo Trường, Tô Thùy Yên vừa gia nhập văn đàn, nối tiếp với lớp tiền chiến của Nhất Linh, Nguyễn Vỹ, Trương Bảo Sơn, thì đọc họ là một khối lượng độc giả vừa đông đảo vừa trẻ trung là giới sinh viên học sinh, hoặc đang trên ghế nhà trường hoặc vừa rời trường ốc để đi vào quân đội, công chức hay các nghề nghiệp khác. Trong số độc giả đó, dần dần xuất hiện những tác giả trẻ mới toanh nhảy vào văn đàn, đó là những Nhã Ca, Nguyễn Thị Hoàng, Trùng Dương, Thế Uyên, Phạm Công Thiện, Nguyễn Xuân Hoàng rồi những Trần Hoài Thư, Y Uyên, Cao Thoại Châu, Duyên Anh rồi những Hồ Minh Dũng, Y Uyên, Huỳnh Hữu Uỷ, Trần Doãn Nho, Hoàng Ngọc Tuấn, Hoàng Xuân Sơn rồi những Nguyễn Bắc Sơn, Văn Lệ Thiên rồi những Trần Thị NgH, Thảo An, vân vân và vân vân. Không khí văn đàn luôn luôn sôi động với những cây bút và những tác phẩm mới lần lượt xuất hiện. Người viết mới, độc giả cũng mới, càng ngày càng nhiều, nối tiếp nhau.
Ngược lại, ở hải ngoại sau 1975, “Những bạn trẻ lứa tuổi hai mươi, khi sinh ra, chế độ Việt Nam Cộng Hoà sắp hay đã sụp đổ. Nếu họ theo cha mẹ di tản ra khỏi nước từ 1975 thì bây giờ [1998] may lắm họ chỉ bập bẹ được vài câu tiếng Việt thông thường, không đủ trình độ đọc sách viết sách tiếng Việt. Những bạn ở lại Việt Nam mới qua sau này (vượt biển, đoàn tụ gia đình, HO..) thì được giáo dục trong hệ thống giáo dục cộng sản. Họ đâu có biết Bùi Giáng, Nguyên Sa, Mai Thảo là ai đâu mà cha mẹ khuyến dụ được họ đi tham dự buổi tưởng niệm các văn thi sĩ nổi tiếng này,” theo anh.
Vì thế, “Tính sổ, chỉ còn lại những người lứa tuổi bốn mươi, năm mươi và sáu mươi [cuối thập niên 1990] ra đi từ Miền Nam là nòng cốt của sinh hoạt chữ nghĩa hiện nay.” Về nhân sự, “Không có tiếp sức của giới trẻ, văn học hải ngoại tất nhiên phải bị lão hóa.” Về ngôn ngữ, “Tiếng Việt ở hải ngoại trong tình trạng cô lập với chính quốc sẽ giữ y nguyên trạng hoặc hao hớt đi từ tiếng Việt thông dụng ở Miền Nam năm 1975.” Và về chuyện viết, “Nếu chỉ viết cho những người cùng cảnh ngộ lưu vong như chúng ta đọc, thì chúng ta cứ viết như lâu nay vẫn viết: tiếc nuối một thời hoàng kim đã mất, xót xa trăn trở với những khổ ải đã trải qua, lật từng trang album bồi hồi với những kỷ niệm, mơ ước ngày trở về có khải hoàn môn dựng trên khắp nẻo đường và gặp lại một quê hương y nguyên như thời hoàng kim cũ… Còn nếu phải viết cho cả những bạn đọc còn trẻ trong nước đọc, thì viết cái gì? Viết thế nào?”
Kết thúc bài viết, Nguyễn Mộng Giác than thở: “Văn chương đang thành ông cụ lỗi thời. Chẳng mấy chốc, cụ ngã bệnh… rồi ngậm cười nơi chín suối.”[67]
Thực ra, chủ biên tạp chí Văn Học chỉ đưa ra dự đoán, chứ vào thời điểm này, từ cuối thập niên 1990 qua thập niên 2000, sinh hoạt văn học hải ngoại vẫn dạt dào, sôi động. Những tạp chí văn học giấy vẫn còn: Hợp Lưu, Văn, Văn Học, Thế Kỷ 21, Khởi Hành… Các tạp chí mạng rộn ràng phát triển, từ Talawas, Tiền Vệ đến Da Màu, Gió-O, từ Ăn Mày Văn Chương, Diễn Đàn Forum đến Đàn Chim Việt và vô số các trang mạng khác, hoặc cá nhân hoặc hội, nhóm. Lớp nhà văn Việt Nam Cộng Hòa di tản khá đông đảo, vẫn tiếp tục viết. Lớp người viết mới vẫn còn sung sức, thỉnh thoảng được bổ sung thêm một số thành phần trẻ từ trong nước ra đi theo diện bảo lãnh hay du học. Sách, báo vẫn dồi dào. Các sáng tác văn chương có giá trị vẫn tiếp tục ra đời. Ở Quận Cam, các cuộc hội thảo hay sinh hoạt văn hóa, văn học nghệ thuật vẫn được tổ chức đều đặn, đông vui, náo nhiệt, hết Văn Học Hải Ngoại đến Văn Học Miền Nam hay Tự Lực Văn Đoàn… Thời đó, mỗi lần ghé qua “thủ đô” Little Saigon tham dự một sự kiện nào đó, đi đâu cũng gặp bạn văn. Nhà Nguyễn Mộng Giác, nhà Võ Phiến, quán cà phê Factory, quán cà phê Gypsy, tòa soạn Người Việt, Việt Báo… trở thành những “tụ điểm” văn học. Ở các vùng khác cũng thế. San Jose, Sacramento, Washington D.C, Boston, Houston (Hoa Kỳ), hay Montréal, Toronto (Canada) hay Melbourne (Úc), Paris (Pháp), không khí văn chương vẫn dạt dào.
Mãi cho đến khoảng giữa thập niên 2010 trở về sau…
Do tuổi cao sức yếu, kẻ thì quy tiên, người thì hoàn toàn gác bút, người nào còn viết thì năm thì mười họa mới có bài. Các hình thức sinh hoạt, nói chung, bắt đầu lắng xuống. Tuy chưa ngã bệnh để ngậm cười… như Nguyễn Mộng Giác tiên đoán, nhưng cũng không có dấu hiệu gì lạc quan hơn. Chỉ tà tà, tầm tầm.
Vừa qua, nhân Tết Dương lịch 2026, tôi ghé thăm Quận Cam. Litle Saigon bây giờ vẫn thế, báo chí đủ loại vẫn còn; nhiều sinh hoạt chính trị, văn hóa, tôn giáo, âm nhạc, kể cả sinh hoạt văn học nghệ thuật, cũng sôi nổi kiểu này kiểu khác. Có điều, không gian văn chương quen thuộc thu hẹp dần trong một vòng tròn thân hữu càng ngày càng nhỏ. Đã không còn những tạp chí văn học giấy như Văn Học hay Hợp Lưu ngày nào, lại thiếu vắng bóng dáng của rất nhiều bạn văn, vắng luôn những “tụ điểm” văn nghệ lao xao ồn ào ngày nào. Hú nhau, vẫn còn một số bằng hữu trong giới viết lách hăng hái đến gặp “ở một nơi mà mà ai cũng quen nhau” – dùng lại các nói của Hoàng Ngọc Tuấn[68] qua tựa đề một truyện ngắn nổi tiếng của anh trên tờ Văn (Sài Gòn) ngày nào: tiệm Coffee Factory. Có mặt hôm đó là anh chị Cung Tích Biền, các anh Phạm Phú Minh, Trịnh Y Thư, Phạm Phú Thiện Giao (đài VOA), Lê Hân, Thành Tôn, Nguyễn Đình Thuần (họa sĩ); và có cả chị Diệu Chi, bà xã của Nguyễn Mộng Giác. Tối hôm trước đó, tôi cũng được gặp một số các bạn văn (trẻ hơn) của nhóm Da Màu trong một buổi họp mặt chào đón năm mới ở nhà cô con gái của Nhã Ca, nhà thơ Lê Sông Văn: Bùi Vĩnh Phúc, Trần Chấn Trí, Đặng Thơ Thơ, Hồ Như, Nguyễn Hoàng Nam, Lê Đình Nhất Lang, Đàm Thúy Ngọc, Thúy Vi và anh con trai đầu của nhà văn Thảo Trường (1936-2010).
Đâu cũng như đâu, hễ gặp nhau là sôi nổi với nhiều dự định tràn trề văn chương trước mắt. Dẫu nhìn quanh quanh, ai cũng cảm thấy chút bùi ngùi vì nhiều khoảng trống mà những kẻ đi xa để lại…

Cung Tích Biền – Thành Tôn – Nguyễn Đình Thuần – TDN – Trịnh Y Thư – Lê Hân (Little Saigon, California, 12/2025)

TDN – Cung Tích Biền – Thành Tôn – Phạm Phú Minh – Phạm Phú Thiện Giao (VOA) – Trịnh Y Thư – Lê Hân – chị Cung Tích Biền – chị TDN – chị Diệu Chi (Nguyễn Mộng Giác)(Little Saigon, 12/2025)

Da Màu và bằng hữu
Hàng đầu (5 người): Lê Sông Văn – TDN – Đặng Thơ Thơ – Hồ Như – Nguyễn Hoàng Nam. Hàng 2: Bùi Vĩnh Phúc (sau Đặng Thơ Thơ) – T húy Vi. Hàng 3: Trần C. Trí – con nhà văn Thảo Trường – Paulina Đàm – Lê Đình Nhất Lang. (Little Saigon, 12/2025)
Văn học hải ngoại được hình thành qua các biến cố lịch sử, do đó, chịu tác động mạnh mẽ của chúng, lúc thịnh thời cũng như lúc thoái trào: di tản, thuyền nhân, biến cố Đông Âu, chương trình ra đi có trật tự… So với không khí hào hứng thuở chập chững ra đời mấy thập niên trước, văn học hải ngoại bây giờ đã là chuyện “một ngày như mọi ngày” trong đời sống xứ người, thiếu hẳn cái động lực thúc đẩy viết lách của ngày tháng cũ.
Nhiều lý do.
Một là, không có những biến động chính trị nào bên ngoài đủ mạnh thôi thúc người viết;
Hai là, cuộc sống mỗi ngày mỗi ổn định, những phẫn uất, đau thương nguôi ngoai dần đối với thế hệ thứ nhất, còn các thế hệ tiếp sau, họ có những băn khoăn và ưu tư mới;
Ba là, trong lúc số độc giả đọc sách tiếng Việt giảm dần theo tuổi tác thì những tài năng văn chương trẻ chỉ phát triển trong môi trường mới với số độc giả mới, không mấy nồng nàn với tiếng Việt;
Bốn là, sự xuất hiện của văn chương mạng – một chiếc cầu hợp lưu trong, ngoài không cần phong trào – đã chuyển các sáng tác theo một chiều hướng khác;
Năm là, giao lưu trong và ngoài nước bây giờ dễ dàng hơn, hai chữ “hải ngoại” nghe không mấy “nhạy cảm” như xưa;
Sáu là, nhiều người trở về tái định cư ở cố hương, kể cả một số tác giả hải ngoại;
Bảy là, một số tác giả hải ngoại xuất bản sách và thậm chí, ra mắt sách ở trong nước;
Tám là, các cây bút “lão hóa”, dần dần nối bước nhau “ra đi” theo tuổi tác.
Người định cư thì tăng nhưng nguồn nhân lực cho văn chương Việt hải ngoại, cả viết lẫn đọc, đều giảm sút.
Đánh giá tình hình chung, Ngu Yên nhận xét: “sáng tác văn học Việt nhập cư sau một thời gian rầm rộ phơi bày muôn màu sắc của cảm giác và cảm xúc về tình yêu, thân phận, số mạng, lưu vong, thất lạc, khuynh hướng chính trị, chọn lựa nhập cư, chống đối xã hội văn minh vô cảm, vân vân, dần dần tình cảm đó lặp đi lặp lại, chỉ thay đổi hình dạng cốt truyện, thay đổi tên tuổi giới tính nhân vật, thay đổi đối thoại mà ý tưởng ý xưa, còn phẩm chất văn chương là tương tự, là bắt chước lẫn nhau, là lặp lại với chính bản thân, và không có lối thoát. Dư dài mà thiếu sâu. Dư tình mà thiếu ý.”
Vì sao? Ngu Yên không “đỗ lỗi” cho ai. Tất cả (chúng ta) phải cùng chia nhau gánh nặng, theo anh. Trước hết là từ người viết: “Thông thường nếu không có lý tưởng, không có mục đích, viết cho vui, những người viết này khó theo đuổi nghiệp văn lâu dài.” Sau đó là người đọc: “Còn người đọc, người thưởng ngoạn, sau bao năm dài vẫn không bước ra khỏi phạm vi văn chương đã lỗi thời. Vì sao vẫn mãi mãi in trí “tiếng hát vượt thời gian”, “đệ nhất minh tinh muôn thuở”, “nhạc Trịnh muôn năm?”. Và cuối cùng là nhà phê bình: “Cơ bản nhất trong công việc phê bình văn học là làm sáng tỏ văn bản cho người đọc, không phải cho tác giả. Vậy mà, biết bao nhiêu bài phê bình tác phẩm dành gần hết chữ nghĩa cho tác giả, còn người đọc vẫn lơ mơ về văn bản nhưng biết nhiều hơn về người viết và người phê bình.”
Nhưng Ngu Yên nhấn mạnh, những điều trình bày trên không chỉ riêng cho hải ngoại. “Những nhà văn nhà thơ nào còn sốt sắng với văn chương là những người chọn viết vì lý tưởng với lòng yêu văn học. Không quan tâm lắm đến người đọc đương thời, mà có niềm tin về người đọc mai sau. Tôi nghĩ, trong nước hay ngoài nước cũng cùng chung tình trạng.”
Chí lý! Tôi ghi nhận như thế, nhưng xin tạm gác lại đề tài tương đối phức tạp đó, để đề cập đến một khía cạnh khác.
Khác với văn học miền Bắc xã hội chủ nghĩa mang tính áp đặt và văn học miền Nam tự do bung nở thời kỳ trước 1975, thì văn học hải ngoại, hiểu theo bất cứ cách nào, cũng là một tai nạn. Là hậu quả nặng nề của một biến cố lịch sử. Thậm chí, là một nghịch lý. Bởi lẽ, một nền văn học không thể phát sinh và phát triển bên ngoài nguồn sữa dân tộc. Lúc đầu, văn học hải ngoại có vẻ như là một đứa con hờ, con ngoại hôn hay con ngoài kế hoạch. Tưởng chỉ như là một vết mực nhòe vô giá trị, sẽ tự động tan đi hay dễ dàng tẩy xóa. Xét cho cùng, sự kiện lịch sử hay văn hóa nào cũng vậy, lúc đầu, chỉ là chuyện tình cờ, có thể chóng qua, không để lại một di chứng nào. Cũng xét cho cùng, lẽ ra văn học hải ngoại không nên/không thể có. Nhưng rồi do những điều kiện không ai ngờ tới hỗ trợ, nó không còn là chuyện trà dư tửu hậu. Nó đã hiện diện, đã phát triển, trở thành hiện thực, dồi dào, mạnh mẽ, đầy ý nghĩa. Nó đã đến không do ai áp đặt, nó đã phát triển không do ai chỉ đạo. Thành thực mà nói, trong một hoàn cảnh cô cùng bất thường như thế, văn học hải ngoại đã thực hiện nhiều điều phi thường, vượt qua cả chính sức vóc của mình: hình thành một dòng văn học không kém bất cứ một dòng văn học chính thống nào. Không những đã không làm sức mẻ, mất mát chút nào mà ngược lại, nó còn làm phong phú thêm văn học Việt Nam.
Văn học hải ngoại, tự nó, không chỉ là văn học. Mà còn là một thông điệp. Một mặt, nó là sự sống còn của những người thua cuộc; mặt khác, là một vết thương tự-gây (self-inflicted) của dân tộc. Nó không phải là nguyên nhân, mà là hậu quả của một chính sách, một lý thuyết. Là sự thất bại của một chiến thắng.
Đã xuất phát từ một tai nạn lịch sử thì nó chỉ có thể biến mất, hay thay đổi, chỉ khi một/những “tai nạn” lịch sử khác diễn ra. Nói khác đi, khi những điều kiện thúc đẩy nó có mặt, biến mất.
Hiện nay, dù nhà nước Việt Nam đã có một số điều chỉnh chính sách khá tích cực, bản chất chuyên chế của chế độ, trong thực tế, vẫn thế. Vẫn sáng nắng chiều mưa. Vẫn xin-cho. Vẫn áp đặt. Vẫn chủ yếu là gây sợ hãi. Cứ nhìn cách chọn lựa những người lãnh đạo quốc gia qua một chuỗi những cuộc bầu bán với kết-quả-hoàn-toàn-tiền-chế đầu năm 2026 vừa qua, ta sẽ thấy ngay tính cách “nhất quán” của một chế độ: chuyện quốc gia đại sự là chuyện của chỉ một nhóm người. Có khi là cha truyền con nối.
Mới đây nhất (21/4/2026), trong nước diễn ra một sự kiện xã hội “buồn cười”, trông thì chẳng văn học chút nào, nhưng mà hết sức văn học. Nó được đề cập qua hai bài viết ngắn:
Một, Văn Việt đến thăm nhà văn Nguyên Ngọc chiều ngày 19/4/2026 (Văn Việt):
https://vandoanviet.blogspot.com/2026/04/van-viet-en-tham-nha-van-nguyen-ngoc.html#more
Hai, Sao anh Nguyên Ngọc phải xin lỗi (Bauxite Việt Nam):
https://boxitvn.blogspot.com/2026/04/sao-anh-nguyen-ngoc-phai-xin-loi.html
Đó là câu chuyện phái đoàn Văn Việt từ Sài Gòn ra Đà Nẳng thăm nhà văn Nguyên Ngọc, người sáng lập Văn Đoàn Độc Lập và tạp chí Văn Việt, hiện đã 95 tuổi, nhưng bị cơ quan an ninh tìm mọi cách ngăn cản, rốt cuộc, không được gặp, đành phải quay về. Đây là trích đoạn cuối bài Sao anh Nguyên Ngọc phải xin lỗi của Ngô Thị Kim Cúc:
“Vì sao chúng tôi không thể lên thăm anh Nguyên Ngọc? Lý do từ phía chúng tôi hay từ phía anh Nguyên Ngọc? Lại gọi máy để nói lời từ biệt anh Nguyên Ngọc. Lần này, kẻ liên tục chiếm sóng máy anh đã ngưng gọi nên anh bắt máy trả lời ngay. Khi Hoàng Dũng chuyển máy cho chị Ý Nhi, anh Nguyên Ngọc nói một câu nghe thương quá sức: “Mình xin lỗi…”. Sao anh phải xin lỗi? Sao chúng tôi không thể lên thăm anh? Nên hiểu chuyện này như thế nào? Ai có thể trả lời những câu hỏi này…?”
Tôi email hỏi một người quen trong nước về sự kiện này, được anh trả lời: “Việt Nam đã thế, nay vẫn thế và mai còn thế, anh ơi!”.
Hoàng Hưng không ngần ngại gọi cách hành xử này là “vô pháp vô thiên vô đạo vô nhân vô văn hoá […] đi ngược hoàn toàn với tinh thần của ‘kỷ nguyên vươn mình’ mà ông chủ tịch Hội Nhà văn VN gọi là ‘KỶ NGUYÊN NGƯỜI’.”[69]
Nhà thơ trực tính này đã từng tiên đoán loại sự kiện như thế trong một cuộc trò chuyện với Da Màu trước đây. Trong lúc cho rằng “thái độ của nhà cầm quyền trong nước đối với văn học tiếng Việt hải ngoại, cũng như với văn học Việt Nam Cộng Hòa trước 1975, ngày càng cởi mở hơn”, anh cũng phải thừa nhận là nó “chậm chạp, thận trọng, đến sốt ruột”. Anh thẳng thắn nhận xét: “Nhiều người đang trông đợi những thay đổi sau Đại hội Đảng đầu 2026, khi nghe ông Tổng Bí Thư mới tuyên bố hùng hồn về ‘kỷ nguyên mới’, ‘không viết lại được lịch sử nhưng có thể hoạch định lại tương lai’, ‘chấp nhận những khác biệt’… Tuy nhiên, nếu ông thực lòng thay đổi, thì lực bảo thủ rất lớn trong đảng Cộng Sản cũng không dễ tuân chỉ, đặc biệt trong lãnh vực tư tưởng văn hoá là lãnh vực bảo thủ nhất (so với kinh tế, công nghệ…). Wait and see thôi!” [70]
Cùng một ý, Thụy Khuê, khi được hỏi về vai trò của Internet đối với văn học, xác định: “Nói rằng: “Internet đã xóa nhoà ranh giới trong và ngoài nước”, cũng chẳng khác gì nói Internet đã xoá nhòa mọi biên giới: không còn sự phân biệt quốc gia, chủng tộc, tiếng nói, văn chương, gì nữa… Theo tôi hiểu, câu này chỉ đắp lên một thực tại mà người viết không dám nói ra: Internet xoá nhoà sự kiểm duyệt, mà ở trong nước bây giờ, dù chính quyền đã nới rộng chính sách với Việt kiều (về nước không cần visa) và nhiều tác giả hải ngoại đã về in sách ở trong nước, nhưng sự kiểm duyệt vẫn còn mạnh. Những sách giá trị của Văn học miền Nam vẫn chưa được phép xuất hiện trên văn đàn.”[71]
Nguyễn Lệ Uyên, khi được hỏi “khi nào thì dòng văn học “cung đình” [dòng văn học được chỉ đạo] hết cung đình và dòng “tự do” [hải ngoại] được thong dong đi vào trong nước một cách thoải mái?”, khẳng định ngay: “Xin thẳng thắn thưa ngay rằng: khi nào thực sự tự do theo đúng nghĩa, khi nào nhân phẩm của con người được tôn trọng, khi nào “Đệ tứ quyền” không bị dán băng keo và Tam Quyền phân lập rạch ròi, dù cho thể chế có là cộng sản, cộng hòa, xã hội hay dân chủ chi chi nữa… thì ngoài [nước] hay trong [nước] không còn là vấn đề mà, chỉ có MỘT DÒNG VĂN HỌC VIỆT NAM DUY NHẤT [NLU nhấn mạnh].”[72]
Ai sẽ phản bác ý kiến này của Nguyễn Lệ Uyên?
Tóm lại, nhà nước vẫn tiếp tục xem văn chương là một canh bạc cần phải thắng, thắng mãi, thắng tiếp, luôn luôn thắng. Có thay đổi, có cởi trói, có nới, có dễ dãi, có chấp nhận đôi chút khác biệt, nhưng vẫn chỉ là màu mè, sơn phết. Chỉ thích đe nẹt, dọa nạt và bắt bớ. Cả ngàn tờ báo, kể cả “70 tờ báo về văn học ở Việt Nam,”[73] buồn thay, vẫn chỉ có một tổng biên tập: Trưởng Ban Khoa Giáo Trung Ương. Cởi thì có cởi, nhưng cần trói là trói ngay. Dây thừng luôn đặt một bên, sẵn sàng đối phó với… thằng bướng bỉnh.
Người viết hải ngoại, ai chẳng muốn phổ biến tác phẩm trong nước để được hòa mình với dân tộc, để đến với một lượng độc giả rộng lớn hơn gấp bội so với vài ba triệu người phân tán khắp nơi trên thế giới. Nhưng phải sàng, phải lọc, phải chọn từng từ, lựa từng chữ, dè dặt sửa tới sửa lui cho khỏi “phạm húy” thì có, cũng bằng không. Văn chương gì mà khổ thế!
Văn chương là sự kiện, là cuộc sống, một tiến trình sống động, không phải là một màn trình diễn. Càng không phải là một cuộc chạy đua nước rút, ai đến trước thì đoạt giải, ai đến sau thì bị loại. Có bao giờ trễ nải đâu mà phải vội vã tranh giành.
Người ta viết văn vì người ta thích viết văn chứ không phải để viết một kiệt tác văn chương. Kiệt tác xuất hiện không phải vì một ai đó thai nghén kiệt tác. Kiệt tác là sản phẩm cá nhân nhưng gốc rễ được un đúc trong cộng đồng văn chương, một thế giới pha tạp, đa dạng. Xuất sắc, hay, dở, làng chàng… đều có chỗ đứng của nó. Một nền văn chương cần kiệt tác, nhưng kiệt tác tự nó, không đủ đại diện cho văn chương. Nếu tác phẩm nào cũng là kiệt tác, thì văn chương sẽ là cái gì…
Văn chương là một nỗi. Nỗi chữ.
Văn chương hải ngoại, nói cho cùng, là nỗi chữ của người xa xứ.
Nỗi chữ cũng chính là nỗi quê!
Vì nỗi chữ và nỗi quê mà một nền văn học hình thành.
Văn học hải ngoại.
Cứ thế…
TDN
(12/2005 – 4/2006)
[34] Đỗ Minh Tuấn, Văn học hải ngoại nhìn tư trong nước
[35] Nguyễn Huệ Chi, Vài cảm nhận văn học Việt Nam hải ngoại
Tạp chí Văn Học (Hà Nội), tháng 2-1994; in lại ở tạp chí Văn Học (Cali), số 99, tháng 7/1999.
[36] Hoàng Ngọc Hiến,
[37] Vương Trí Nhàn trả lời phỏng vấn, Tòa Đại Sứ CHXHCNVN ở Hoa Kỳ, Các nhà phê bình bàn về văn học hải ngoại
https://vietnamembassy-usa.org/node/2822
[38] Lý Hoài Thu – Nguyễn Thu Trang, Tiểu thuyết hải ngoại và vấn đề thân phận tha hương
[39] Thư Vũ, Văn học của người Việt ở hải ngoại: Tình thế của văn chương di dân
[40] Đỗ Thị Phương Lan, Chấn thương di dời trong một số truyện ngắn…
[41] Tao Đàn, Văn học hải ngoại – một Việt Nam khác nhìn từ thế giới
https://taodan.com.vn/van-hoc-hai-ngoai-mot-viet-nam-khac-nhin-tu-the-gioi.html
[42] Vũ Thành Sơn, Văn học miền Nam nối dài – Văn học hải ngoại
https://vanviet.info/thao-luan/van-hoc-mien-nam-noi-di-van-hoc-hai-ngoai/
[43] Anatoly Sokolov, Văn học Việt Nam ở hải ngoại: những vấn đề của sự phát triển hiện nay.
https://vuongtrinhan.blogspot.com/2022/02/anatoly-sokolov-van-hoc-viet-nam-o-hai.html
[44] Lê Thị Huệ, Vài Nét Về Sự Khai Phá Nền Văn Chương Tiếng Việt Hải Ngoại, 22.11.2025
[45] Hàn Dũ: Đại phàm vật bất đắc kỳ bình tắc minh (Vật không được bình yên thì kêu lên)
[46] Hoàng Hưng, Trò chuyện với nhà thơ Hoàng Hưng (Da Màu-TDNho). https://damau.org/103674/tro-chuyen-voi-nha-tho-hoang-hung
[47] Nguyễn Hưng Quốc, Viết sách ở hải ngoại
https://www.voatiengviet.com/a/viet-sach-o-hai-ngoai-10-01-2010-104191244/882651.html
[48] “Ra mắt sách”, hiện tượng sinh hoạt văn chương chữ nghĩa phổ biến trong cộng đồng người Việt, là một cách giới thiệu, một hình thức chia sẻ hơn là rao bán sản phẩm, như có người bêu riếu.
[49] Võ Phiến, Kẻ viết người đọc, Cuối cùng, Thế Kỷ 21, 2009, tr. 63.
Dẫn theo Nguyễn Vy Khanh, Văn Học Việt Nam 50 năm hải ngoại, Quyển Thượng, NXB Nguyễn (Toronto), 2025, tr. 20.
[50] Nguyễn Huệ Chi, Vài cảm nhận văn học Việt Nam hải ngoại. Tạp chí Văn Học (Hà Nội), tháng 2-1994; in lại ở tạp chí Văn Học (Cali), số 99, tháng 7/1999.
[51] Phiếu chuyển tiền, do Bưu Điện Mỹ phát hành, thay thế cho ngân phiếu, dành cho những người không có tài khoản ngân hàng.
[52] Lời ngỏ, Thư Khố tạp chí Văn Học (hải ngoại)
[53] Ngô Thế Vinh, Hành trình đến tự do – Nhà văn thuyền nhân Mai Thảo
https://sangtao.org/2016/12/12/hanh-trinh-den-tu-do-nha-van-thuyen-nhan-mai-thao/
[54] Trần Vũ, Hợp lưu 12 năm, trang tôn kinh huyền hoặc hậu hiện đại
http://tranvu.free.fr/baiviet/trangtonkinh.html
[55] Nguyễn Hưng Quốc, Văn Học Hải Ngoại: thành tựu và tiềm năng, Thế Kỷ 21 số 215, tháng 3/2007)
[56] Hoàng Hưng, Trò chuyện với nhà thơ Hoàng Hưng (Da Màu-TDNho). https://damau.org/103674/tro-chuyen-voi-nha-tho-hoang-hung
[57] Xem tiết mục “Văn học hải ngoại nhìn từ trong nước” ở phần trước.
[58] Xem: Trò chuyện cùng Trần Hoài Thư về Thư Ấn Quán và Thư Quán Bản Thảo
https://damau.org/11834/tro-chuyen-cung-tran-hoai-thu-ve-thu-an-quan-thu-quan-ban-thao
[59] Xem: Nguyễn Vy Khanh, Văn học Việt Nam Trong Ngoài
(Ngôn Ngữ, số 3, 1-9-2019)
https://www.namkyluctinh.org/tuyen-tap/nguyen-vy-khanh/tuyen-tap/van-hoc-viet-nam-trong-ngoai.html
[60] Xem: Trần Hoài Thư
https://tranhoaithu42.com/category/tac-pham-thu-an-quan-xb/
[61] Thế Kỷ 21 – Bộ 1, số 1, ngày 1 tháng 5 năm 1989,
[62] Trần Vũ, Trang tôn kinh… .
[63] Trần Doãn Nho, Trò chuyện với nhà biên khảo Nguyễn Hưng Quốc, https://damau.org/103373/tro-chuyen-voi-nha-bien-khao-nguyen-hung-quoc
[64] Xem Ngu Yên, Tóm lược 50 năm văn học Việt nhập cư 1975-2025
https://vanviet.info/nghien-cuu-phe-binh/tom-luoc-50-nam-van-hoc-viet-nhap-cu-1975-2025-ky-2/
[65] Ngu Yên, Tóm lược 50 năm văn học Việt nhập cư 1975-2025,
https://vanviet.info/nghien-cuu-phe-binh/tom-luoc-50-nam-van-hoc-viet-nhap-cu-1975-2025-ky-1/
[66] Nguyễn Mộng Giác, Tình trạng lão hoá trong sinh hoạt văn học,
[67] Nguyễn Mộng Giác, Tạp Chí Văn Học số 153-154 (1& 2/1999)
[68] Khác với Hoàng Ngọc-Tuấn hiện ở Úc
[69] Hoàng Hưng, Các cơ quan hữu trách phải thay đổi cách xử sự với CLB Văn Đoàn Độc Lập.
https://boxitvn.blogspot.com/2026/04/cac-co-quan-huu-trach-phai-thay-oi-cach.html
[70] Da Màu phỏng vấn Hoàng Hưng
https://damau.org/103674/tro-chuyen-voi-nha-tho-hoang-hung
[71] Phỏng vấn Thụy Khuê
https://damau.org/103771/thuy-khue-tra-loi-phong-van-cua-dang-tho-tho
[72] Phỏng vấn Nguyễn Lệ Uyên
https://damau.org/103805/tr-chuyen-voi-nh-van-nguyen-le-uyn
[73] Đức Anh, 70 tờ báo về văn học ở Việt Nam: đặc điểm, cách cộng tác, các giải thưởng & cuộc thi
https://ducanhwriter.substack.com/p/70-to-bao-ve-van-hoc-o-viet-nam-ac