Thơ Đặng Tiến (Thái Nguyên)

BÙI GIÁNG

(Hướng tới Kỉ niệm 100 năm Bùi Giáng)

 

1.

Giữa náo loạn đạn bom

Giữa bạt ngàn giết tróc cuồng loạn

Giữa phồn tạp thị thành và ngái ngủ thôn quê

Giữa văn minh toàn vàng ngọc và lầy lội nhơ nhớp

Ông tìm đến sách

Tưởng sẽ tự tại an nhiên

Nào ngờ siêu – náo – loạn

Cũng đầy rẫy vực sâu hang thẳm

Cũng bộn bề xuôi ngược chéo ngang

Đời – rối mù

Sách – rối mù

Điên cái đầu

Điên toàn thân

Sơn xuyên tịch lặng – giải thoát

Không còn

Người hùng chết đứng chết ngồi sa tràng chăn ấm nệm êm

Nát – bàn, bồng – lai sáng choang náo nhiệt

Choảng nhau vỡ đầu

Cầu văn minh gục gãy

Cung điện cổ uy nghi rồng phượng tan hoang

Trơ trơ núi Ngự bên dòng sông Hương muôn thủa cũ

Lưu đày nơi cố hương

Cố hương thành chốn lưu đày

Dửng dưng xa lạ…

 

Điên cái đầu

Rút cục cái đầu điên

Đứng thẳng không ngả nghiêng

Tìm lối đi riêng

Giữa man dại ngất ngư cười

Thây kệ gào thét nhân gian thiền tiếu

Làm người trời cõi tục trầm thống thi ca

Tàn phai rực rỡ

Rách nát tả tơi rực rỡ

Nghêu ngao rạng rỡ

Cười rạng rỡ…

 

Sau rạng rỡ nước mắt thầm lặng rơi.

 

2.

Khóc một mắt

Trong veo thấm đá

Còn mắt kia xin trả về trời

Cao vọng

Thây kệ giống người

Riêng ta

Làm giống đười ươi phố phường

Chơi cùng bọn

Đầu đường

Xó chợ

Mảnh chiếu tàng

Tạm bợ

Qua đêm

Hấp him

Giương mắt

Nhìn lên

Trời trong

Gió mát

Thấy quen quá chừng

Luận tư tưởng

Kiểu rừng

Kiểu rú

Thơ ngàn câu

Dưa khú

Cà thâm

Thi thần

Lai ghép

Tửu thần

Cả đoàn đệ tử

Rần rần

Cùng theo

Nhân gian

Buồn

Nhạt nhèo

Thi hứng

Mang đại dương

Về đựng

Trong tô

Cười vang một tiếng

Ô hô!

Sài Gòn náo loạn

Cố đô giật mình.

 

CỐ SỰ TÂN BIÊN

(Học mót Lỗ Tấn trong TRƯỜNG MINH ĐĂNG)

 

Miếu cổ

Cổ thụ oằn oại hình hài rắn rết

Thâm u rờn rợn dọa người

Tượng quái thú già nua nhiều trăm tuổi

Rêu phủ lối đi

Đá bậc vẹt mòn

 

Miếu cổ không rõ có tự bao giờ

Thờ gì?

Tướng cướp?

Danh nhân?

Rắn độc?

Chằn tinh?

Cáo chín đuôi lông bạc?

Không ai biết…

 

Leo lét cháy cây nến ngàn năm

Cùng lời nguyền rờn rợn

Nến – tắt – nếu – nến – tắt!

Thảm họa trút đầy

Mười phần chết bảy

Ba phần chết hai

Mưa trút chín ngày

Nắng khô ba ba tháng…

Rờn rợn lời nguyền

Độc địa lời nguyền

Chúng dân run rẩy

Thoi thóp thở

Len lén nhìn nến cháy

Quỳ gối

Cúi đầu

Khóc

Đấm ngực khoanh tay

Leo lét ngọn lửa hình lưỡi rắn

Đêm ngày

Tháng năm

Leo lét hình lưỡi rắn…

 

Rồi một ngày có gã ăn mày

Bặm trợn hình hài

Hổ báo cáo chồn xăm trổ

Xông xông hậu cung

 

Hít hơi căng ngực

Thổi phụt

Tắt ngúm ngọn lửa hình lưỡi rắn

Gã ăn mày ngoảy đít bước ra

Vừa đi vừa khạc nhổ

Vừa khạc nhổ vừa ca…

 

Ca rằng:

Hình lưỡi rắn ngọn lửa ma,

Ta thổi tắt phụt! Ha ha ta cười.

Thương cho giống người ngu hoài,

Ngàn năm ngu! Đời nối đời càng ngu.

Nào! Mưa thì cứ việc mưa!

Nào khô nắng! Cứ việc khô! Khô nào!

Mười phần chết bảy! Thì sao?

Mong cho chết sạch. Thì tao vừa lòng.

 

THÁNG TƯ

 

Tháng Tư. Mùa Xuân ngày đã cạn

Hoa xoan tím biếc cũng thôi mùa

Những hội hè sắp màn giã bạn

Quạnh vắng dần – sắp hết tháng Tư.

 

Một trời kỉ niệm ngày nao! Nhạt

Những lụy phiền – hình như đã phai

Trời biếc xanh – ngẩn ngơ mây trắng

Còn, mất những ai? Nhớ, quên ai?

 

Bài hát cũ hào hùng một thủa

Xin em hạ giọng – một chút thôi

Cả bài sầu thảm ngày xưa nữa

Tạm ngưng – để nước mắt không rơi!

 

Trời đất! Bỗng dưng chiều nay nhớ!

Dạ tiệc khao quân – tích Truyện Kiều

Sắt đá đại thần Hồ Tôn Hiến

Dây đàn máu nhỏ – cũng buồn theo.

 

Hiu hắt vạn vạn mồ hoang lạnh

Ước nguyện một lần. Một lần thôi

Cỏ biếc phủ che. Xanh tất cả

Lùi xa nhé! Chào mi! Buồn ơi…

 

Tháng Tư – cả một trời kỉ niệm

Mùa Xuân cạn ngày – phượng đơm hoa!

 

LÀNG

 

Tôi chưa bao giờ hét váng lên giữa đám đông đang hào hứng các loại tu từ

Giữa rưng rưng sụt sùi nước mắt tèm lem

Giữa cơn bốc đồng cũ xưa khẩu hiệu

Tên làng – nơi tôi được sinh ra

Tên làng – nơi tôi có một thủa thiếu thời

Bần hàn, lam lũ, hiu hiu, buồn lặng

Trong veo nước ao đầm

Ràn rạt những trận mưa bay

Cá tôm cua ốc gọi mùa

Sen súng bồng bềnh lặn vào kí ức tuổi thơ

Hiên ngang cây gạo trăm năm tuổi

Tháng Ba rực đỏ

Bông nõn bay bay tháng Mười

Mộ – Chu – Thượng – làng – tôi

 

Những bức tường đá ong nham nhở đoạn còn đoạn mất

Hằn in dấu thời gian

Hằn in thăng trầm nương dâu bãi bể

Cổng Bắc cổng Nam từng một thời uy nghi giờ chỉ còn lại những cái tên

Âm thầm sống

Lặng lẽ sống trong trí nhớ di truyền

Những ngôi từ đường trải mấy mưa nắng thời cuộc biến thiên giữ nguyên màu phế tích

Chẳng ai nỡ bỏ đi

Chẳng ai dám san bằng phá dỡ

Gốc ngọc lan âm thầm cứ vào mùa thay lá

Dịu dàng ướp hương đêm

Thanh khiết độ thu về…

 

Làng tôi!

Làng tôi!

Làng của tôi!

Chưa bao giờ tôi hét váng lên nơi đám đông đang hào hứng tu từ

Hào hứng nhiều khi thành cuồng loạn

Hào hứng quá hào hứng không chịu nối

Lấp ló ngôn từ nhẹ hều trôi nổi đong đưa chữ giả vờ chữ làm màu

Chưa bao giờ

Chưa bao giờ tôi hét váng lên

Hình như

Hồn thiêng Đức ông Chiêu văn vương Trần Nhật Duật lặng lẽ mỉm cười

Hình như hồn oan Đức ông Trần Nguyên Hãn trong vắt lệ rơi

Thao giang, Lô giang hòa nước

Bản tổng phổ trầm lắng

Mộ Chu Thượng như nốt lặng

Tôi thì thầm gọi tên mỗi khi trở về làng

 

Đêm sâu ngôi nhà cũ

Lặng lẽ Mẹ Cha Ông Bà Tiên Tổ lại về

Lại về Anh cả, Chị dâu, song sinh Chị gái thanh nhẹ dáng người

Chập chờn hương khói…

Đêm sâu

Chân đất

Tôi đi

Đường làng đoạn thẳng, khúc quanh, vạn vạn lá biếc lấp lánh sao trời

Ngã ba Hạc mênh mang mùa nước

Tôi thì thầm

Mộ – Chu – Thượng – làng – tôi

This entry was posted in Thơ and tagged . Bookmark the permalink.